Thứ hai, 26/06/2017

Thoái hóa khớp và phương pháp điều trị

author Admin 2014-09-23 10:58:00

THOÁI HÓA KHỚP & PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

      Tỷ lệ bị thoái hóa khớp ở Viêt Nam:

-  30% người trên 35 tuổi

-  60% người trên 65 tuổi

-  85%người trên  80 tuổi

1. Cấu tạo của khớp

                         

Cơ thể người có hơn 200 loại xương các loại. Nơi nối giữa hai đầu xương gọi là Khớp. Cấu tạo của Khớp thường bao gồm:

a) Dây chằng có tác dụng như những dải băng co giãn gắn kết các xương với nhau trong khi cơ thể chuyển động, giúp khớp được vững chắc

b) Cơ bắp: Co duỗi để làm cho khớp hoạt động

c) Gân: Nối xương với cơ để làm cho khớp chuyển động.

d) Sụn: Là lớp mô bao lấy đầu xương để ngăn các xương tiếp xúc trực tiếp với nhau, giúp khớp vận động dễ dàng.

e) Bao khớp (màng hoạt dịch): Là lớp màng bao bọc quanh khớp. Lớp lót trong của bao khớp tiết ra dịch khớp để bôi trơn, giúp khớp hoạt động dễ dàng và cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn khớp.

2. Tầm quan trọng của sụn khớp.

Sụn khớp là lớp mô trong suốt, vừa cứng vừa bền dai nhưng lại đàn hồi tốt, được cấu tạo từ hai thành phần chính là tế bào sụn và chất căn bản:

Tế bào sụn: Không có khả năng sinh sản và tái tạo sau tuổi trưởng thành.

Sụn: Đóng vai trò như lớp đệm bảo vệ, giúp giảm chấn động và tránh sự cọ sát giữa hai đầu xương khi khớp cử động. Tuy quan trọng như vậy, sụn không chứa mạch máu và thần kinh nên không được máu nuôi trực tiếp, chỉ tiếp nhận dinh dưỡng thẩm thấu từ tổ chức xương dưới sụn, màng hoạt dịch, dịch khớp. Do vậy sụn rất dễ thoái hóa âm thầm theo thời gian mà không có dấu hiệu nào.

3. Phân loại các loại bệnh khớp.

Để có một khái niệm về sự phong phú và phức tạp của bệnh khớp, xin giới thiệu sơ bộ bảng phân loại được áp dụng để chẩn đoán bệnh khớp ở Việt Nam dưới cái nhìn của Y học hiện đại (Tây y).

a. Bệnh khớp do viêm (chỉ giới thiệu những bệnh thường gặp):

- Viêm khớp do thấp.

- Thấp khớp hay thấp tim.

- Viêm khớp dạng thấp.

- Viêm cột sống dính khớp.

- Viêm khớp dạng thấp thiếu niên.

b. Bệnh khớp không do viêm (chỉ giới thiệu những bệnh thường gặp).

- Hư khớp (thoái khớp)

+ Hư khớp nguyên phát (ở cột sống và các khớp).

+ Hư khớp thứ phát (ở cột sống và các khớp).

- Dị dạng (do bẩm sinh hay do tư thế).

+ Cột sống và đĩa đệm (các loại)

+ Khớp háng (các loại).

+ Khớp gối (các loại).

+ Bàn chân và ngón chân (các loại).

- Bệnh do chuyển hóa: Bệnh gút.

c. Thấp ngoài khớp (cạnh khớp, quanh khớp).

- Viêm dây chằng, bao khớp: Viêm quanh khớp (vai, háng....)

GIỚI THIỆU QUA VỀ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Viêm khớp dạng thấp  (VKDT) là một bệnh hay gặp nhất trong các bệnh khớp. Là một bệnh mang tính xã hội vì sự diễn biến kéo dài và vì hậu quả dẫn đến sự tàn phế.

Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể nói là bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi trung niên vì 70 - 80% bệnh nhân là nữ và 60 - 70% có tuổi trên 30. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp.

1. Nguyên nhân.

a. Theo tây y. Thoái hóa khớp chính là sự mất quân bình giữa tái tạo và thoái hóa của sụn khớp, khiến sụn khớp bị tổn thương, bị nhiễm trùng các ổ khớp hoặc do rối loạn chức năng nội tiết hoặc có tính di truyền theo gia đình, cộng với yếu tố lao động nặng. Thường sai tư thế sinh lý làm việc của ổ khớp hoặc do tuổi tác gây khớp thoái hóa, chế độ ăn uống, sinh hoạt....Rất nhiều nguyên nhân gây bệnh. Một số yếu tố có thể tác động đến quá trình này:

- Tuổi tác

- Béo phì

- Tổn thương khớp

- Dị dạng bẩm sinh về khớp

- Gen di truyền

Theo y học cổ truyền: Cho rằng cho rằng bệnh nhân thường chính khí kém, can thận nhập vào gây bệnh với quan điểm của Đông y là thận chủ về cốt tuỷ tức răng.

2. Khớp nào dễ thoái hoá nhất.

Hầu hết các khớp đều có thể bị thoái hóa, nhưng thường phổ biến ở:

Khớp Gối

Thoái hóa khớp gối rất phổ biến vì khớp này luôn phải chịu căng để giữ cơ thể đứng vững, xoay và di chuyển.

Triệu chứng thường gặp là đau ở phía trước và bên cạnh đầu gối. Khớp yếu đi khiến đầu gối khuỵu xuống khi phải chịu sức nặng. Người bệnh ngồi xổm và đứng dậy rất khó khăn, nặng hơn sẽ thấy tê chân, biến dạng nhẹ ở khớp gối.

Khớp Háng

Thoái hóa khớp háng có thể xảy ra ở một hoặc cả hai bên.

Triệu chứng thường gặp là cảm giác đau sâu bên trong phía trước háng, cũng có thể đau ở bên cạnh hoặc phía trước đùi, ở sau mông và lan xuống đầu gối.

Ngón Tay, Bàn Tay

Bệnh thường tác động lên vùng gốc của ngón cái và các khớp  ngón tay. Các khớp sưng đau, đặc biệt là khi bệnh vừa bắt đầu. Sau đó có thể hình thành các nốt cứng trên các khớp khiến ngón tay trở nên gồ ghề, cong nhẹ.

Cột Sống Thắt Lưng

Là tổn thưng cột sống thường gặp nhất, đôi khi ảnh hưởng tới thần kinh tọa khiến người bệnh có cảm giác đau lan tỏa từ lưng xuống mặt trong đùi và chân. Giai đoạn mới bắt đầu, bệnh nhân thấy đau nhiều khi mới ngủ dậy và thường diễn ra trong 30 phút. Sau đó, cơn đau sẽ dần dần kéo dài cả ngày, tăng lên khi làm việc nhiều.

Cột Sống Cổ

 Thoái hóa cột sống cổ có biểu hiện là cảm giác đau mỏi phía sau gáy, lan đến cánh tay ở bên có dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Bàn Chân

 Thoái hóa khớp ở bàn chân thường tác động vào gốc của ngón cái, có thể làm ngón cái bị cứng lại hoặc cong vẹo, khiến cho việc đi lại trở lên khó khăn và đau đớn.

Gót Chân

 Thoái hóa khớp ở gót chân thường làm bệnh nhân có cảm giác bị thốn ở gót vào buổi sáng, khi bước chân xuống giường và đi vài bước đầu tiên.

3. Các triệu chứng.

Đau nhức: Triệu chứng chính của bệnh là đau nhức, đôi khi kém theo cảm giác cứng khớp. Cơn đau thường âm ỉ và trở nên nặng hơn vào buổi tối hoặc khi co duỗi các khớp. Khớp có cảm giác bị cứng lại sau khi nghỉ ngơi, nhưng thường sẽ giảm sau một vài phút vận động.

Thoái háo khớp càng nặng thì cảm giác đau hoặc cứng khớp càng dai dẳng. Khớp có thể bị sưng, các cơ xung quang mỏng hoặc yếu đi gây khó vận động. Các triệu chứng này thường rất đa dạng mà không có nguyên nhân cụ thể, lúc đau, lúc không. Khi thời tiết thay đổi cơn đau sẽ trở nên nghiêm trọng hơn - đặc biệt là thời tiết ẩm đi kèm với áp suất không khí. Tây y gọi là Viêm khớp dạng thấp hoặc viêm khớp thoái hoá, đông y gọi là chứng tý.

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

1. Dân gian: Xoa bóp, hơ lá Náng, lá Bưởi, Ngải cứu, ngâm chân...

2. Tây y: Dùng thuốc kháng sinh, giảm đau, chống viêm, an thần, nâng cao thể lực.

3. Đông y: Cho rằng can thân hư suy, không đảm bảo chức năng sinh lý hoạt động bình thường, thừa cơ chính khí suy nhược tà khí xâm nhập vào cơ thể bệnh.

Ưu và nhược của từng phương pháp điều trị.

1. Dân gian: Tính khoa học không cao, thấy hiện tượng mách nhau lợi ít hại nhiều không nên áp dụng.

2. Tây y:

Ưu điểm: tính khoa học cao, bệnh nhân nhanh ổn định.

Nhược điểm: Sử dụng phần lớn là các thuốc giảm đau, chống viêm nghĩa là làm giảm quá trình sưng, đau khiến cho dễ vận động hơn. Những thuốc này ngoài tác dụng chữa bệnh còn có khá nhiều tác dụng phụ có hại (gọi là tác dụng không mong muốn) như chóng mặt, buồn nôn, nổi mẩn ngứa, chảy máu, lên cơn hen, nhưng quan trọng nhất là tác dụng không mong muốn tới đường tiêu hoá: Làm tăng cơn đau dạ dày, nôn, chảy máu dạ dày, thủng dạ dày. Thuốc thuộc nhóm cortison thường được bệnh nhân và bác sỹ có xu hướng lạm dụng, nhưng  nhóm này gây rất nhiều  tai biến như: Chảy máu, thủng dạ dày, lên cơn cao huyết áp, dễ nhiễm khuẩn, tăng đường trong máu (bệnh đái tháo đường), biến dạng cơ thể, giòn xương, suy tuyến thượng thận ...

3. Đông y: Quan điểm điều trị của Đông y là Nhân cường thì tật nhược nên khi điều trị là nâng cao chính khí, phục hồi chức năng hoạt động của tạng phủ.

Ưu điểm: Chữa vào gốc bệnh nên thời gian ổn định lâu dài, không để lại tác dụng phụ.

Nhược điểm: Thời gian điều trị dài, dược liệu thu hái theo mùa bảo quản khó khăn, hay bị mốc mọt. Các phương pháp bào chế quyết định rất lớn đến tác dụng của thuốc lại do các Lương y lâu năm có kinh nghiệm nắm dữ nên có tính gia truyền, với bệnh nhân thì lấy thuốc về sắc, uống và bảo quản có quy trình phức tạp không tuân thủ đúng thì thuốc kém tác dụng hoặc mất tác dụng khi thuốc bị ôi thiu.

                                            Quốc Lập

                                    Nguồn: Công ty CPĐD Thuận Thiên Đường