Thứ sáu, 23/06/2017

Nghĩa trang Quốc gia Đường 9.

author Admin 2014-11-01 08:40:00

Nghĩa trang Quốc gia Đường 9

 

Nghĩa trang Quốc gia Đường 9 nằm trên một vùng đồi, mặt quay ra hướng quốc lộ 9; được nâng cấp từ nghĩa trang liệt sỹ thị xã Đông Hà (có từ năm 1983 - 1984). 

 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường số 9 là một con đường chiến lược nối liền từ biên giới Việt Lào về tới Đông Hà. Dọc trục đường số 9, Mỹ - ngụy đã cho xây dựng các căn cứ quân sự, các cứ điểm và lô cốt nhằm cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Đường 9 đã đi vào huyền thoại của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bởi những chiến công hào hùng và oanh liệt và cũng chính nó là nỗi ám ảnh, kinh hoàng cho binh lính Mỹ và ngụy trong những năm 1965 - 1972.

 

   

 

Tượng đài Chiến thắng.

 

Nghĩa trang liệt sỹ đường 9 là nơi yên nghĩ của hơn một vạn các anh hùng, liệt sỹ với đầy đủ của ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và thanh niên xung phong đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên mặt trận Đường 9, Quảng Trị và ở đất bạn Lào ( thuộc các tỉnh Saravan, Savannakhe, Khăm Muộn) trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Bộ đội chủ lực phần lớn là các sư đoàn 308, 304, 312, 968, 324, 320… và các Liệt sĩ ở Trường Sơn còn lại sau khi đã đưa về nghĩa trang Trường Sơn.

 

 

Khu tưởng niệm trung tâm

 

Nghĩa trang liệt sỹ đường 9 được khởi công xây dựng ngày 2/9/1995 và khánh thành vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày thương binh liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/1997). Tổng kinh phí đầu tư gần 13 tỷ đồng, có 16 hạng mục công trình lớn nhỏ được thi công. Trong đó có hai hạng mục công trình lớn mang tính nghệ thuật và lịch sử là Tượng đài chiến thắng và Khu hành lễ.

Nghĩa trang liệt sỹ đường 9 có tổng diện tích là 13 ha với quy tụ gần 9.500 mộ liệt sỹ (con số tương đối vì có những ngôi mộ tập thể). Trong đó có 3.227 mộ liệt sỹ được xác định đầy đủ tên tuổi quê quán, được mai táng theo từng tỉnh thành; có 785 mộ xác định chưa đầy đủ; còn lại chưa rõ tên tuổi. Trong số này có 8 anh hùng liệt sỹ hội đủ cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Phần mộ liệt sỹ biết đầy đủ họ tên, quê quán được chia thành 14 khu vực liên hoàn theo từng địa phương.

Tượng đài chiến thắng cao 18m. Phần bệ tượng được kiến trúc thành hai phần: mộ tượng phía đông (nhìn lên bên trái) là biểu tượng sự đổ nát của Thành cổ Quảng Trị; mặt tượng phía tây tượng trưng cho một ngọn núi trong đại ngàn của dãy Trường Sơn "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù". Phần tượng thể hiện hình ảnh anh bộ đội giải phóng quân Việt Nam với cô thiếu nữ và em bé người Lào mừng chiến thắng sau ngày chiến tranh kết thúc, biểu thị tình đoàn kết giữa Khu hành lễ có các công trình: Nhà tưởng niệm - 2 bức phù điêu - 4 cụm tượng.

Nhà tưởng niệm là một công trình có diện tích 90m2 được xây dựng bằng bê tông cốt thép, có 4 cột tròn, phía trên có 4 mái. Trên nóc có gắn một ngôi sao 5 cánh. Bên trong đặt một lư hương lớn để thắp hương. Xung quanh 3 phía của nhà tưởng niệm là ba mảng phù điêu khá lớn quây thành 3 góc. Trên mảng phù điêu chính giữa có gắn hàng chữ "Tổ quốc ghi công các liệt sỹ". Mảng phù điêu phía đông có nội dung thể hiện tinh thần đấu tranh bám trụ kiên cường của quân và dân miền Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng kể từ sau ngày hiệp định Genève được ký kết (20/07/1954) cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/04/1975); chính giữa là hình ảnh bà mẹ giới tuyến đang ngồi vá cờ Tổ quốc. Mảng phù điêu phía Tây thể hiện nội dung quá trình phối kết hợp của các lực lượng quân binh chủng của ta đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - ngụy, lập nên chiến thắng lẫy lừng Đường 9 - Nam Lào.

  

Nghĩa trang liệt sĩ đường 9 là nơi an nghỉ của các chiến sĩ đã hy sinh trên chiến trường đường 9 và chiến trường Quảng Trị nói riêng và trên đất bạn Lào nói chung. Đây là một công trình đền ơn đáp nghĩa đồ sộ quy mô lớn, có tính nghệ thuật cao; thể hiện sự tri ân của Đảng và Nhà nước ta đối với những người con trên mọi miền Tổ quốc đã không tiếc máu xương cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

 

                                                                           VTT- Ban Truyền thống lịch sử