Thứ sáu, 23/06/2017

Hoa của núi

author Admin 2012-07-24 10:10:00

                          

                                Hoa của núi

                          Viết về gương điển hình chiến sỹ Trường Sơn

                          chiến thắng bệnh tật vươn lên trong cuộc sống.

 

                                                               PHẦN I

                           KÝ ỨC NGƯỜI ANH HÙNG

 

Vừa về đến Hà Nội, Đại tá Đoàn Danh Bình đã điện ngay cho tôi với một giọng như ra lệnh - Đến ngay quán bia hơi “Dũng khàn “, không được chậm đâu đấy.

Thấy cái giọng khó nghe ấy tôi biết ngay chuyến đi Yên Bái dự Đại hội Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Yên Bái của cậu ta có nhiều tin tức đáng quan tâm nên vội dắt xe ra cửa, chẳng kịp thông báo với bà xã đang hí húi nấu cơm trong bếp.

Đến nơi thấy Đoàn Danh Bình đã ngất ngư với ca bia hơi và 3 chiếc cốc to tướng nhưng bia chưa rót. Dũng khàn (chủ quán) cũng ngồi bên sốt sắng hóng chuyện như  chính mình cũng là một thực khách. Tôi chưa kịp ngồi, Đoàn Danh Bình đã bô bô:

- Được, thằng Yên Bái làm được. Dọc đường về “ông già” khen chúng nó mãi. Hoành tráng, khoa học, nghiêm túc, điểm 10 là cái chắc. Thằng nào cũng tổ chức Đại hội như Yên Bái lính Trường Sơn chúng mình chắc chắn lên nhiều chân kính....Nóng ruột tôi ngắt dòng thao thao của lão đại tá lắm lời:

-  Thôi cái đó để sáng mai giao ban Trung ương Hội, “Ông già” (chỉ Thiếu tướng Võ Sở – Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Việt Nam) sẽ phán, sẽ khen. Còn bây giờ ông nói chúng tôi nghe có tìm được tin tức gì không? Anh ấy hiện nay vợ con thế nào? Có đủ ăn, đủ mặc không?

Đoàn Danh Bình từ từ rót bia vào đầy 3 cốc như muốn kéo dài sự nóng ruột của hai chúng tôi. Khi bia đã đầy, anh cầm cốc và thả một câu thật gọn: Có, nào nâng cốc chúc mừng...

Theo lời kể của Đoàn Danh Bình, tôi và Dũng đã lập lịch ngay chủ nhật lên đường đi Yên Bái để gặp lại ân nhân, người đã cứu chúng tôi thoát chết trên trọng điểm A Lưới ngày nào mà 43 năm nay chưa gặp lại và cũng chưa được một lời cám ơn.

....Ngày ấy, sau chiến dịch tổng tấn công Mậu thân 1968 của ta vào các sào huyệt của địch trên khắp miền Nam. Bị thua đau Mỹ, ngụy điên cuồng tung hết binh hỏa lực mạnh nhất phản công lại ta. Trên chiến trường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh (nơi mà chúng biết mọi sức mạnh tấn công của quân giải phóng đều bắt nguồn từ đây) nên chúng cho nhiều sư đoàn nống ra các vùng Trị Thiên, Ngã ba biên giới hòng cắt đứt đường chi viện của hậu phương lớn Miền Bắc với các chiến trường Miền Nam. Không quân Mỹ từ đảo Guam, từ các tuần dương hạm, khu trục hạm ngoài khơi và các sân bay liên tục đánh phá tuyến đường Trường Sơn. Cụm trọng điểm ATP (Cua chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Pu la nhích) không lúc nào ngớt tiếng bom. Đèo Tha Mé khói bon như cô lại khét lẹt. Đèo Bù Lạch đất đá đổ ầm ầm. Đặc biệt là đoạn đường trống từ sân bay A Lưới, sân bay A Sầu đến sân bay A So hun hút trơ trụi, chốc chốc lại bùng lên những cột lửa của bom bom na pan và bon lân tinh. Máy bay OV10 lượn lờ, nghiêng ngó bắn đạn khói chỉ điểm khắp nơi.

Để tăng cường cán bộ cho các Binh trạm khu Trị Thiên Huế, Bộ Tư lệnh Trường Sơn điều 6 anh em cán bộ chúng tôi vừa được đi học lớp bổ túc tại Trường Sỹ quan Công binh về vào bổ sung cho Binh trạm 42. Chiếc xe Gát 66 do đồng chí Lê Quang Mạnh chở chúng tôi vừa qua động Cô Tiên, đổ dốc Con Mèo chớm vào khoảng đất trống đầu sân bay A Sầu thì bị thằng C130 phát hiện. Lợi dụng lúc thằng C130 mở rộng vòng để quay lại, lái xe tạt vào ta luy bên đường và quát chúng tôi nhảy nhanh khỏi xe tìm chỗ ẩn nấp (vì thằng C130 có bộ phận thu nhiệt và tia hồng ngoại phát hiện xe của ta đang chạy ban đêm, lính Trường Sơn gọi  C130 là thằng “xin thùng” vì nó bắn đạn 40 ly nát hết thùng xe đang chạy). Vừa lúc đó có 2 bóng người từ một hầm trú ẩn bên đường chạy đến hướng dẫn chúng tôi tản ra vào trú tại hầm chữ A của công binh trực chiến. Thằng C130 quay lại không nhìn thấy mục tiêu, nó liền bắn hai loạt 40 ly đạn lửa. Đất mặt đường bị cày lên cháy sèo sèo, mảnh đạn văng chát chúa. Không phát hiện được xe, nó liền gọi lũ F4 đến quây và ném bom dữ dội. Loạt bom đầu tiên cách xe chúng tôi khoảng 20m nhưng lại trúng hầm của lái xe Mạnh làm anh bị thương nặng. 4 đồng chí công binh trong tổ chực chiến phải đưa anh về ngay trạm phẫu cấp cứu. Hầm của 6 anh em chúng tôi và hầm của 2 công binh còn lại trong tổ trực chiến xa vị trí chiếc xe đỗ. Loạt bom thứ hai gần hầm chúng tôi, đất đá đổ xuống nóc hầm rào rào. Căn hầm chữ A của công binh làm chắc chắn như vậy cũng chao đảo như muốn sập. Đồng chí công binh ngồi ngoài cùng bỗng lên tiếng:

- Không. Chắc chắn loạt sau nó sẽ đánh trúng hầm và xe chết cả mất. Cậu Trung ở lại dẫn các đồng chí chạy về phía tuyến 2. Nói xong anh vọt ra mở cửa xe và rồ ga. Chiếc xe tăng tốc vọt thẳng về hướng sân bay A Sỗu. Chỉ chờ có vậy, thằng C130 và lũ F4 như đàn ruồi lao theo xe bắn những loạt đạn 40 ly chát chúa và từng đụn khói bom lóe lửa. Chớp thời cơ, đồng chí công binh tên là Trung đã đưa chúng tôi chạy về tuyến 2 an toàn...

Sáng hôm sau chúng tôi được đơn vị Công binh cho biết chiếc xe đã bị bom phá nát ở giữa  đường băng của Sân bay A Sỗu. Đồng chí Trung đội trưởng Công binh sau khi cho xe chạy được gần 1km đã bị nhiều mảnh bom găm vào người, mất máu, kiệt sức nhưmg anh vẫn cố lấy tay quay của xe chèn vào chân ga cho xe chạy thẳng về phía trước. Rồi anh lao ra khỏi xe và ngất lịm dưới một hố bom. Bộ đội công binh đã tìm thấy anh và đưa về trạm phẫu tiền phương cấp cứu nhưng vết thương quá nặng không biết có qua khỏi không. Ngay đêm hôm ấy, anh được đưa gấp anh về bệnh viện tiền phương của Bộ Tư lệnh. Chúng tôi được biết tên anh là Lý Quang Minh quê ở xã An Phú, Lục Yên, Yên Bái.

Rời đơn vị công binh  nơi có người ân nhân đã cứu chúng tôi thoát chết trong gang tấc, chúng tôi đi vào nhận nhiệm vụ tại Binh trạm 42. Sau này khi đi họp quân chính sư đoàn 470 tôi được biết anh Minh đã được đưa ra Bắc điều trị. Vì các vết thương đã làm anh kiệt sức nên không trở vào chiến trường được nữa.

43 năm qua chúng tôi (3 anh em còn lại của đoàn 6 cán bộ hôm đó – 3 đồng chí đã hy sinh trên chiến trường Trường Sơn) vẫn mong muốn có một ngày được gặp lại Anh, người ân nhân đã cứu mình để có những lời cám ơn chân thành nhất. Nhưng do hoàn cảnh chiến đấu và công tác chúng tôi chưa thực hiện được ước nguyện của mình...

                                         

                                                        PHẦN II

                                              HOA CỦA NÚI

               Tôi và Dũng khàn lên tới thành phố Yên Bái, được đồng chí Chủ tịch Hội Truyền thống Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh tỉnh Yên Bái ân cần đón tiếp và chiêu đãi bữa cơm trưa với cá dúi trứng (đặc sản của vùng hồ Thác Bà). Cơm xong anh chỉ đường cho chúng tôi lên xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên - đường vào nhà anh Nguyễn Văn Việt, dân tộc Tày - ân nhân cứu mạng của chúng tôi ở Trường Sơn.

               Được Đoàn Danh Bình điện báo tin trước nên anh Viết đã cho con rể ra tận cầu Tô Mậu đón chúng tôi, nếu không chắc tìm được đến Bản Mo nơi gia đình anh đang ở cũng rất khó khăn vì đường núi quanh co lại cách đường cái trên 2 km.

               Gặp anh, chúng tôi thật mừng, bây giờ mới được nhìn rõ ân nhân của 43 năm trước. Anh Việt gầy quá. Lưng đã còng, nước da đen xạm vì chất độc Dioxin đã làm anh mỏi mòn năm tháng, mái tóc bạc không che kín được những vết thương đã thành sẹo do bom lân tinh, bom na pan làm cháy ngày nào. Hai chúng tôi nhìn anh mà thương anh quá! Anh như già hơn hàng chục tuổi so với tuổi 66 hiện tại của Anh. Chỉ riêng nụ cười, cái nụ cười đầy chất lính luôn hồn nhiên, thân thiết làm ấm lòng người. Bằng cái giọng chất phác, thân tình của người anh. Chắc Đoàn Danh Bình đã tâm sự và xóa đi cái khoảng cách xa lạ giữa chúng tôi, chắc chất lính vẫn còn đủ đầy trong anh nên anh đón chúng tôi như đón hai đứa em thân thiết.

              - Các Chú vào nhà đi. Lên cầu thang phải vịn tay kẻo ngã đấy.

               Cầu thang nhà anh làm bằng một gốc cây to đẽo thành bậc. Nhà anh, một căn nhà sàn gỗ tạp rất đơn sơ, lợp lá cọ đã lâu ngày. Đi đến đâu là có tiếng cót ca két két. Cái bếp đang ủ than củi giữa nhà đưa mùi quế thơm thoang thoảng. Quan sát nhanh chúng tôi chỉ thấy có 3 hòm gỗ và mấy túi chăn bông buộc kỹ càng. Một dãy huân chương, Bằng, Giấy khen được treo trang trọng dưới bàn thờ ảnh Bác Hồ ở gian chính giữa nhà.

               Tôi và Dũng Khàn đưa mắt nhìn nhau ái ngại với gia cảnh quá đơn sơ của nhà đồng đội.

               Bữa cơm chiều, anh tiếp đãi chúng tôi món gà đồi Lục Yên và rau dớn nộm vừng lạc béo ngậy - thứ rau mọc bên bờ suối mà ngày xưa lính Trường Sơn chúng tôi tìm hái ăn chống đói hàng ngày - và cá trắm cỏ nấu măng chua. Anh bảo những thứ này gia đình nuôi được. Tiếp chúng tôi cùng anh có anh Hoàng Kim Quế, Lý Thông Viện, Tăng Ngọc Thắng là các đồng đội của anh và là Trưởng phó Ban liên lạc Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh huyện Lục Yên. Anh không uống được rượu vì sức khỏe yếu. Sự chân tình qua những lời mời và liên tục gắp thức ăn cho chúng tôi đã làm chúng tôi cảm động vô cùng.

               Sau bữa cơm chúng tôi đang ngồi uống nước, thì có người gọi từ ngoài ngõ. Sau một hồi nói chuyện với người gọi bằng tiếng Tày, anh bảo chúng tôi thông cảm và nhờ anh Hoàng Kim Quế cùng anh Lý Thông Viện ở lại nói chuyện với chúng tôi.  Anh nhờ anh Thắng đưa đi sang bản bên giúp bó thuốc cho một cháu vừa bị ngã gãy chân. Chúng tôi ái ngại vì tuổi anh đã cao, sức khỏe lại yếu, đi đêm tối trong rừng nhỡ thế nào thì khổ. Anh Quế nói không sao đâu, lão ấy quen rồi. Bà con tin và nhờ mình giúp thì phải giúp cho tốt thôi. Chắc phải 12 giờ đêm thì lão ấy mới về.

               Ngồi uống nước chúng tôi hỏi chuyện về anh, anh Quế nói:

               - Lão ấy vất vả lắm. Bị thương, bị bom làm cháy bỏng nhiều chỗ lại còn bị nhiễm chất độc da cam nên ốm đau nhiều năm liền. Đơn vị cho ở lại trại an dưỡng nhưng cậu ấy một mực xin về quê hương. Đất Lục Yên bây giờ mới khá đấy, còn mười năm trước khổ lắm. Các bản làng ở trên núi, mỗi nơi vài nóc nhà. Bọn chúng tôi sau 1975 về là mỗi người một nơi, làm cật lực vẫn đói ăn. Mình bị thương, bệnh tật ở chiến trường đầy người, ốm đau luôn làm sao giàu nổi. Lão ấy khi về chỉ có 2 bộ quần áo. May mà lấy vợ đẻ được 2 đứa con mới đi bộ đội. 2 đứa ấy mới lành lặn nhưng cũng nghèo vì chăm bố ốm. Sau này Lão ấy đẻ thêm 2 đứa nữa, một đã chết vì di chứng chất độc, còn con bé út người cũng dở dở, được cái thằng chồng nó tốt, ngoan nên ở đây với vợ chồng lão ấy...

               Qua câu chuyện anh Quế kể về hoàn cảnh của anh Việt, chúng tôi càng cảm phục và tự hào về anh – một người lính Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.

               Chúng tôi còn được biết, trên đường ra Bắc, vì đi đường dài, thiếu thuốc, các vết thương do bom na pan và phốt pho đã làm anh nhiễm trùng. Nhiều lần anh được đưa vào các trạm phẫu dã chiến cấp cứu. Nghị lực và sức đề kháng của những người ở miền sơn cước cùng với sự tận tình cứu chữa của các y, bác sỹ đã giúp anh vượt qua thần chết. Anh được đưa về trại an dưỡng Nam Hà. Sau 4 năm chữa trị nhưng một bên chân anh đã thành tật do vết bỏng lớn đã kéo kheo chân. Anh viết đơn xin về quê hương Lục Yên. Thủ trưởng trại an dưỡng rất lo ngại cho sức khỏe của anh bị nhiễm chất độc Đioxin, sốt rét ác tính chưa cắt hết cơn, các vết bỏng chưa ổn định hẳn. Ông đã khuyên anh ở lại. Anh một mực đề nghị cho về vì trại ngày ngày tiếp nhận nhiều thương bệnh binh, chỗ ăn, ở cũng có nhiều khó khăn. Anh ở lại sẽ làm khó thêm cho đồng đội.

               Về địa phương, lúc đó anh chưa được hưởng một chế độ gì. Bố anh thương con đã truyền cho anh nghề thuốc nam gia truyền để anh tự mình lo cho sức khỏe của mình. Không bằng lòng với ấy món thuốc của bố truyền lại, với đôi chân tập tễnh, anh chống gậy tìm đến với các ông lang, bà lang giỏi cây thuốc trong vùng để học hỏi. Sau nhiều năm, anh đã tự chữa cho mình khỏi hẳn căn bệnh sốt rét. Các lá mát của núi rừng Yên Thế đã giúp anh làm mềm các vùng da bị cháy co dúm do bom na pan. Với vốn thuốc nam học hỏi được anh đã chữa giúp được nhiều ca bệnh cho bà con thôn bản qua cơn hiểm nghèo. Anh Quế còn kể cho chúng tôi nghe chuyện năm 1983 đến 1988 vùng Lục Yên nổi lên phong trào đi đào đá quý. Hàng ngàn người từ Yên Bái, Hải Phòng, Hà Nội ùn ùn kéo lên đào. Lục Yên nhà nhà bỏ ruộng, bỏ nương để đi đào đá đỏ tìm vận may ở vùng An Phú, Tân Lập, Tân Thanh...Tin đồn nhiều người vớ được hành trăm triệu, hàng tỷ đồng... đã làm mê hoặc ghê gớm đối với đàn ông. Tệ nạn xã hội mọc lên như nấm ở các vùng có bãi đá. Con trai, con rể và cả cháu anh Viết cũng không nằm ngoài vòng xoáy của đá đỏ. Ngăn cản con cháu không được, anh chống gậy, tập tễnh vượt qua dốc cao hiểm trở vào tận bãi đá để động viên con cháu về với ruộng vườn, nương rẫy. Các con anh thương bố ngã bị thương, máu thấm đẫm quần áo đã theo anh trở về. Anh động viên các con góp tiền mở trang trại nuôi gà đồi và đào ao thả cá để vừa cải thiện bữa ăn hàng ngày vừa bán lấy tiền. Dù sức khỏe yếu nhưng với tinh thần quyết tâm vượt khó của người lính Trường Sơn, anh ngày đêm bám trang trại. Những đêm mưa to, anh không ngủ ngồi bên ao cá canh chừng sợ nước dâng ngập ao cá tràn ra hết. Thương bố, các con anh đã bỏ hẳn toan tính đi đào đá quý để ở nhà chăm chỉ làm ăn. Sau 10 năm, hai con (một trai, một rể) của anh đã làm được nhà và có cuộc sống hạnh phúc cùng vợ con. Còn anh dành nhiều sự chăm sóc cho đứa con gái út mang trong người di chứng của chất độc da cam và chăm lo chữa bệnh giúp bà con trong vùng.

               Với tấm lòng đồng cảm và thương người, sau nhiều năm học hỏi, tìm tòi anh đã trở thành ông lang có nhiều bài thuốc quý chữa gãy xương, cảm cúm, sốt rét, đau nhức xương khớp, khó đẻ, cầm máu.vv... Nhiều đêm đông mưa rét, vừa nằm nghỉ đã có người ở tận Mai Sơn đến nhờ anh đi giúp bó thuốc cho đứa con trai gãy chân vì đi đào đá quý ngã từ vách núi xuống. Chẳng ngại ngần, anh cùng gia đình người gặp nạn đi cấp cứu đến sáng mời về. Ấy vậy mà anh không lấy của gia đình nạn nhân một đồng. Anh bảo nhà nó nghèo không có tiền đi viện phải nhờ đến mình là bần cùng lắm rồi. Rất nhiều người dân trong vùng đã được anh cứu giúp tận tình nhưng không hề nhận một đồng tiền công, tiền thuốc nào như thế. Nhiều trường hợp dân dưới xuôi lên đào đá quý chẳng được gì lại bị sốt rét đói lả bên đường. Anh đưa về nhà nấu cháo cho ăn, sắc thuốc cho uống. Khi họ tỉnh lại, anh còn cho gạo để ăn đường về nhà...Mang ơn, anh nhiều gia đình đã nhận anh làm cha đỡ đầu, làm ông của con cháu họ. Khắp vùng núi Lục Yên, Nguyễn Văn Việt đến đâu cũng được đón chào như người thân của họ và họ gọi anh với cái tên già Lang Hoa của núi...

               Núi Yên Thế có một loài hoa mọc khiêm nhường trên đá. Từng chùm nho nhỏ có màu trắng phớt hồng. Buổi sáng khi mặt trời tỏa nắng, hương hoa thơm theo gió đưa đến các bản làng. Người già bảo đó là khí thiêng của núi giúp cho con cháu trăm họ vùng Lục Yên châu mạnh khỏe, cường thịnh. Lớp thanh niên lại nói đó là hương của tình yêu, giúp cho trai gái yêu nhau hơn, gắn bó với quê hương Yên Thế hơn. Từ ngàn xưa không ai biết tên hoa đó là gì nhưng bản mường nào cũng gọi loài hoa đó là Hoa của núi.

                                                 Bùi Hòa Bình