Thứ bảy, 24/06/2017

Bun Nghiên ở Dak Cheung

author Admin 2012-03-26 11:27:00

               BUN NGHIÊN Ở DAK CHEUNG

                                                                   Ghi chép

          Cuối năm 1967, hạ sỹ Đinh Công Nguyệt được cử ra Quảng Bình học lớp quân y sỹ. Thời buổi chiến tranh nên chương trình học rút gọn, giữa năm sáu tám lớp học kết thúc. Hôm anh nhận bằng tốt nghiệp y sỹ cũng là lúc Đinh Công Nguyệt nhận được điện của Binh trạm trưởng Binh trạm 44, trung tá Bùi Quốc Uỷ cử anh tiếp tục học lớp bồi dưỡng chính trị do Bộ Tư lệnh 559 mở. Hai lớp học liên tục, anh không còn thời gian nghỉ ngơi nhưng nhanh chóng sắp xếp hành trang cùng các đồng chí trở vào Binh trạm 44 lúc đó đang đóng tại bản Đak Cheung (nay là Thị trấn huyện Đak Cheung, tỉnh Sê Kông, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào).

          Vào thời điểm đó, lực lượng 559 đang gấp rút vận chuyển lương thực, vũ khí, quân vào chi viện cho chiến trường miền Nam sau tổn thất trong cuộc Tổng tấn công Mùa xuân Mậu Thân. Trung ương Cục miền Nam cũng phải rút ra khỏi Tây Ninh. Một bộ phận do đồng chí Nguyễn Văn Linh, lúc đó là Phó Bí thư Trung ương Cục dẫn đầu đến tỉnh Attapeu, giáp với huyện Đak Cheung của tỉnh Sê Kông. Vào đến Binh trạm, Đinh Công Nguyệt được phân công giữ chức vụ Trưởng trạm quân y tiền phương. Tuy công tác ở quân y nhưng nhiều khi do thiếu cán bộ và thấy anh nhanh nhẹn, linh hoạt trong việc giải quyết công việc nên Binh trạm trưởng Bùi Quốc Uỷ phân công anh giải quyết nhiều công việc đối ngoại có tính cấp thời.

          Năm đó, Trạm quân y tiền phương phải chữa trị cho nhiều người bị bệnh sốt rét trong đó phần lớn là bộ đội và cả nhân dân của các bộ tộc Lào. Trong khi đó, kho thuốc của Trạm có rất ít quinin, thuốc đặc trị bệnh sốt rét nhưng lại có rất nhiều thuốc DDS (chữa bệnh hủi) chưa dùng tới. Vận dụng kiến thức đã học, anh tìm thấy trong công thức dược của DDS có cả chất kháng sinh mạnh. Anh hỏi ý kiến các y bác sỹ trong Trạm và quyết định thử cho bệnh binh uống thuốc DDS liều thấp. Thật kỳ lạ, những bệnh binh bị sốt rét cắt cơn ngay và sức khoẻ nhanh chóng phục hồi. Từ đó, tiếng anh nổi như cồn. Không chỉ các đơn vị quân đội ở trong Binh trạm mà cả những đơn vị hành quân ngang qua, nhân dân của các bộ tộc Lào ở những bản kế cận đều rất mến mộ vị “Bác sỹ quân y” của Binh trạm 44 và gọi ông với cái tên thân mật “Bun Nghiên”. “Bun” là danh từ gọi thân mật như “anh” của người Việt. Sở dĩ tên anh biến thành “Nghiên” chỉ vì mọi người trong bản Đak Cheung không nói được âm sắc tiếng Việt nên tiếng “Nguyệt” bị trại ra “Nghiên”. Hễ có ai bị sốt rét là nhân dân cáng người bệnh đến Trạm quân y tiền phương để ông chữa trị. Nếu người dân ở bản gần, chỉ cần báo cho đơn vị biết là anh cắt rừng đến chữa trị ngay.

          Vào khoảng cuối năm 1968, nhiều người dân trong các bản gần Đak Cheung đồng loạt bị bệnh tả. Căn bệnh nguy hiểm và lây lan nhanh chóng trong nhân dân các bộ tộc Lào. Người bị bệnh rất đau đớn, toàn thân bị co rút, miệng nôn thốc, nôn tháo những gì có trong bụng và đại tiện bất thần đến nỗi không kịp cởi quần áo. Để chặn đứng nạn dịch lây lan, Đinh Công Nguyệt bàn với cán bộ quân y trong trạm tìm cách giúp dân. Kiểm trong kho thuốc, các y - bác sỹ thấy chỉ có thuốc Cloroxit dùng để điều trị bệnh sốt thương hàn, phó thương hàn, nhiễm trùng tiểu, viêm phổi, viêm màng não…là loại thuốc kháng sinh mạnh. Không có thuốc đặc trị  tả. Trong lúc đó, nhiều người dân đã lả do kiệt sức. Anh quyết định sử dụng thuốc Cloroxit liều thấp để điều trị bệnh. Tất cả y - bác sỹ và y tá trong Trạm lập tức toả xuống các bản để cho người bệnh uống thuốc. Anh trực tiếp đến điều trị cho những người bị bệnh nặng trong bản Đak Cheung. Sau khi cho người bệnh trong bản uống thuốc, anh quay lại người được uống đầu tiên và hồi hộp chờ đợi. Chỉ sau khoảng hơn chục phút, người bệnh cảm thấy đỡ đau bụng và chừng nửa tiếng thì đi lại được và muốn ăn uống… Dân trong bản mừng rỡ kéo đến nhà người bệnh mừng cho bệnh nhân thoát chết và rối rít cảm ơn Bun Nghiên đã kịp thời giúp đỡ…

          Mấy hôm sau, có hai bộ đội Việt Nam xin vào gặp Binh trạm trưởng. Một người lớn tuổi, ăn mặc xuềnh xoàng, đi chân đất, vai mang túi dết. Một người trẻ hơn ăn mặc nghiêm chỉnh. Đinh Công Nguyệt được Binh trạm trưởng chỉ định ra tiếp.  Ông từ tốn hỏi quý danh của khách, người lớn tuổi tự xưng mình là Nguyễn Chơn, Tư lệnh  Sư đoàn 2, đại diện Quân khu 5 đến làm việc với Binh trạm. Anh đã nghe tên và được biết về cách ăn mặc dân dã của vị Sư đoàn trưởng nổi tiếng này nhưng vẫn thấy ngờ ngợ: Không lẽ ông ấy lại ăn vận xoàng xĩnh như vậy khi đi công tác sao? Anh bốc máy gọi điện vào cho Binh trạm trưởng. Đầu giây bên kia, trung tá Bùi Quốc Uỷ nghe máy. Khi biết có Binh trạm trưởng bên kia đầu giây, ông Nguyễn Chơn yêu cầu đưa máy để ông nói chuyện:

          - A lô! Đồng chí Bùi Quốc Uỷ đấy phải không? Tôi Nguyễn Chơn, Khu uỷ viên Khu 5 đến làm việc với các đồng chí đây! Đồng chí tiếp chúng tôi chứ?

          Sau khi Binh trạm trưởng cúp máy, ông yêu cầu Đinh Công Nguyệt dẫn đến nhà bếp. Tưởng là ông đến đó để xin nước uống. Ai nghờ ông kêu người phụ trách nuôi quân ra và hỏi ngay:

          - Tiêu chuẩn ăn của mỗi người hằng ngày bao nhiêu?

          - Báo cáo thủ trưởng, hiện nay mỗi người chỉ còn 3 lạng rưỡi thôi ạ!

          Hỏi xong, ông yêu cầu đưa thẳng đến phòng làm việc của Binh trạm trưởng. Thượng sỹ Đinh Công Nguyệt được mời ở lại dự buổi làm việc của Binh trạm trưởng. Sau mấy câu xã giao, Sư trưởng Nguyễn Chơn vào việc ngay:

          - Quân và dân Khu 5 mấy tháng nay rất đói, có nơi đào cả củ chuối ăn mà vẫn không đủ. Chúng tôi đề nghị Binh trạm 44 cấp cho chúng tôi vài chục tấn gạo để vượt qua mấy tháng giáp hạt…

          Binh trạm trưởng từ tốn:

          - Báo cáo thủ trưởng, Binh trạm chúng tôi cũng đã phải giảm khẩu phần ăn để chi viện cho Trung ương Cục ở Attapeu…

          - Tôi biết, nhưng khẩu phần ăn của các anh vẫn còn 3 lạng rưỡi một ngày. Anh định để cả Khu 5 chết đói hay sao?

          Cuối cùng Binh trạm trưởng đã đồng ý xuất cho Khu 5 hơn hai chục tấn gạo dự trữ; Đồng thời giảm khẩu phần ăn của cán bộ, chiến sỹ trong Binh trạm xuống còn một lạng rưỡi. Bộ đội ở các đơn vị đói quá, nhiều người bị lả khi đang công tác. Quân số cả Binh trạm vào thời điểm đó hơn một ngàn người. Mỗi ngày phải có thêm hơn 200 kg lương thực thì mức ăn mới gần bằng được khẩu phần trước ngày giúp Khu 5. Bàn đi tính lại, Binh trạm trưởng Bùi Quốc Uỷ đề nghị Đinh Công Nguyệt đến các bản trong khu vực xin nhân dân các bộ tộc Lào giúp đỡ. Từ ngày đó, Bun Nghiên lặn lội đến các bản Đak Chung, Đak Mum, Đak Meut, Ta Ook Noi… Nghe nói bộ đội của Bun Nghiên đang bị đói, đồng bào bảo nhau góp lúa, khoai, ngô, lạc vừa mới thu hoạch trong vụ mùa kìn kìn đưa nơi bộ đội ta đóng quân. Chỉ mấy hôm, Binh trạm đã nhận được mấy tấn lương thực, đủ nâng tiêu chuẩn của cán bộ, chiến sĩ lên mức cần thiết trong thời gian chờ cấp trên chuyển lương thực từ miền Bắc vào.

          Một thời gian sau, bộ đội nữ trong Binh trạm bị sốt rét hành hạ và nhiều nữ quân nhân bị suy nhược cơ thể, phần vì bệnh, phần vì ăn uống kham khổ, thiếu thốn. Chị em bàn nhau tìm cách mua hoặc đổi gà của dân trong bản, nhất là ở nhà ông trưởng bản có một đàn gà khá đông và béo khoẻ. Bàn đi, bàn lại chị em quyết định lấy một chiếc nịt vú mà các chị mua ở miền Bắc đem vào chưa dùng đến. Hồi đó ở miến Bắc nịt vú là một loại hàng xa xỉ khá đắt tiền. Biết cô con gái trưởng bản xinh đẹp, mới lớn đang rất cần có nịt vú để làm đẹp. Các chị trong binh trạm nhờ Bun Nghiên vào bản Đak Cheung để đổi gà. Bun Nghiên vui vẻ nhận lời, anh tìm đến nhà trưởng bản nhờ ông giúp đỡ. Bun Nghiên thủ thỉ:

- Chị em ở binh trạm bệnh nặng lắm mà đơn vị không còn gì để bổ dưỡng cho họ. Thật ra, tôi có thể nhờ trưởng bản vận động bà con góp mỗi nhà một con gà cho bộ đội. Nhưng biết trong bản hiện nay ai cũng đang khó khăn. Trong khi đó có một số chị em, nhất là cô con gái mới lớn của ông cần làm đẹp nên chị em đưa tôi cái nịt vú đổi lấy gà làm thức ăn bổ dưỡng. Nhờ ông giúp các cô ấy nhé.

Trưởng bản lưỡng lự một lúc rồi kêu mấy đứa trẻ ra chuồng bắt hết cả đàn gà giao cho Bun Nghiên. Đàn gà lớn của ông, cả trống và mái vừa đúng bảy con.

 Đinh Công Nguyệt cảm ơn và vui mừng định mang bảy con gà về đơn vị. Nhưng khi đi ngang chuồng gà của trưởng bản, ông thấy mủi lòng vì chuồng gà của trưởng bản chỉ còn mấy con gà con. Lập tức, ông quay lại gặp trưởng bản và đề nghị trả lại cho trưởng bản mang hai con gà để làm giống. Trưởng bản vui vẻ nhận lại cặp gà và cảm ơn Bun Nghiên đã hiểu hoàn cảnh của ông. Nghe chuyện, bà con các bộ tộc Lào trong bản Đak Cheung, các bản xung quanh càng mến mộ Bun Nghiên và bộ đội Việt Nam hơn.

                                            Võ Cường

                     (Theo lời kể của CCB Đinh Công Nguyệt).

  

         Bun Nghiên - CCB Đinh Công Nguyệt

          trong cuộc sống hôm nay ở Tây Ninh