Thứ hai, 26/06/2017

Người bạn của đồng bào SêKông, Lào

author Admin 2014-09-01 03:23:00
  Cuối năm 1967, sau khi học xong lớp đào tạo quân y sĩ và trung cao cấp chính trị do Bộ Tư lệnh 559 mở, Đinh Công Nguyệt trở về Binh trạm 44 lúc đó đang đóng tại bản Đak Cheung (nay là Thị trấn huyện Đak Cheung, tỉnh Sê Kông, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào). Sau khi ổn định công ...

  Ghi chép của VÕ CƯỜNG

(CCB Trường Sơn-Trưởng Ban Biên tập Báo Tây Ninh Điện tử)

          Cuối năm 1967, sau khi học xong lớp đào tạo quân y sĩ và trung cao cấp chính trị do Bộ Tư lệnh 559 mở, Đinh Công Nguyệt trở về Binh trạm 44 lúc đó đang đóng tại bản Đak Cheung (nay là Thị trấn huyện Đak Cheung, tỉnh Sê Kông, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào). Sau khi ổn định công tác, anh lao vào học tiếng các bộ tộc Lào. Đar Cheung là huyện không lớn nhưng có đến 11 bộ tộc chung sống. Mỗi bộ tộc đều có tiếng nói riêng và tập quán của mỗi bộ tộc đều khác nhau.  Đinh Công Nguyệt phải dành nhiều thời gian học nói, ghi chép lại tiếng nói của từng bộ lạc để giao tiếp được người của từng bộ lạc khi anh đến công tác.

          Vào thời điểm đó, lực lượng 559 đang gấp rút vận chuyển lương thực, vũ khí, quân vào chi viện cho chiến trường miền Nam sau tổn thất cuộc tổng tấn công mùa xuân Mậu Thân. Trung ương Cục miền Nam cũng phải rút ra khỏi Tây Ninh. Một bộ phận do đồng chí Nguyễn Văn Linh, lúc đó là Phó Bí thư Trung ương Cục dẫn đầu đến tỉnh Attapeu, giáp với huyện Đak Cheung của tỉnh Sê Kông để đóng quân. Vào đến Binh trạm, Đinh Công Nguyệt được phân công giữ chức vụ Trưởng trạm quân y tiền phương. Tuy công tác ở quân y nhưng nhiều khi do thiếu cán bộ và thấy anh nhanh nhẹn, linh hoạt khi giải quyết công việc, Binh trạm trưởng Bùi Quốc Uỷ phân công anh giải quyết nhiều công viêc đối ngoại có tính cấp thời.

Đồng chí Đinh Công Nguyệt trao Quyết định Hội viên mới cho các CCB Trường Sơn.

          Năm đó, Trạm quân y tiền phương phải chữa trị cho nhiều người bị bệnh sốt rét trong đó phần lớn là bộ đội và cả nhân dân của các bộ tộc Lào. Trong khi ấy, kho thuốc của Trạm có rất ít quinin, thuốc đặc trị bệnh sốt rét nhưng lại có rất nhiều thuốc DDS (chữa bệnh hủi) chưa dùng tới. Vận dụng kiến thức đã học, anh tìm thấy trong công thức dược của DDS có cả chất kháng sinh mạnh. Anh tham khảo ý kiến các y bác sỹ trong Trạm và quyết định thử cho bệnh binh uống thuốc DDS liều thấp kèm với sắt và thuốc da sinh tố. Thật kỳ lạ, những bệnh binh bị sốt rét cắt cơn ngay và sức khoẻ nhanh chóng phục hồi. Từ đó, tiếng anh nổi như cồn. Không chỉ các đơn vị quân đội ở trong Binh trạm mà cả những đơn vị hành quân ngang qua, nhân dân của các bộ lạc Lào ở những bản kế cận đều rất mến mộ vị “Bác sỹ quân y” của Binh trạm 44. Bà con gọi anh với cái tên thân mật “Bun Nghiên”. “Bun” là danh từ gọi thân mật như “anh” của người Việt. Sở dĩ tên anh biến thành “Nghiên” chỉ vì mọi người trong bản Đak Cheung không nói được âm sắc tiếng Việt nên tiếng “Nguyệt” bị trại ra “Nghiên”. Hễ có ai bị sốt rét là nhân dân cáng người bệnh đến Trạm quân y tiền phương để nhờ anh chữa trị. Nếu người dân ở bản gần, chỉ cần báo cho đơn vị biết là anh cắt rừng đến bản chữa trị ngay.

          Vào khoảng cuối năm 1968, nhiều người dân trong các bản gần Đak Cheung đồng loạt bị bệnh thổ tả. Căn bệnh nguy hiểm và lây lan nhanh chóng trong nhân dân các bộ tộc Lào. Người bị bệnh rất đau đớn, toàn thân bị co rút, miệng nôn thốc, nôn tháo những gì có trong bụng và đại tiện bất thần đến nỗi không kịp cởi quần áo. Để chặn đứng nạn dịch lây lan, Đinh Công Nguyệt bàn với đồng nghiệp trong trạm tìm cách giúp dân. Kiểm trong kho thuốc, thấy chỉ có thuốc Cloroxit dùng để điều trị bệnh sốt thương hàn, phó thương hàn, nhiễm trùng tiểu, viêm phổi, viêm màng não…là loại thuốc kháng sinh mạnh. Không có thuốc đặc trị thổ tả. Trong lúc đó, nhiều người dân đã lả do kiệt sức. Anh quyết định sử dụng thuốc Cloroxit liều thấp để điều trị bệnh. Tất cả nhân viên quân y trong Trạm lập tức toả đến các bản để cho người bệnh uống thuốc. Anh trực tiếp đến điều trị cho những người bị bệnh nặng trong bản Đak Cheung. Sau khi cho người bệnh trong bản uống thuốc, anh quay lại người được uống đầu tiên và hồi hộp chờ đợi. Chỉ sau khoảng hơn chục phút, người bệnh cảm thấy đỡ đau bụng. Chừng nửa tiếng sau thì người này đi lại được và muốn ăn uống… Dân trong bản mừng rỡ kéo đến nhà người bệnh mừng cho bệnh nhân thoát chết và rối rít cảm ơn Bun Nghiên đã kịp thời giúp đỡ…

Đinh Công Nguyệt (thứ 3 từ bên phải) trong Đại hội thành lập Hội tỉnh Bình Dương.

          Cũng trong thời điểm đó, các bộ tộc Lào thường có tập tục rất cổ hủ. Các bộ tộc Lào rất sợ bệnh hủi và coi đây như là thứ bệnh bị “giàng” trừng phạt, nên người bị bệnh bị dân bản đưa ra nhốt riêng vào một góc rẫy… Người bệnh sống đơn độc, lay lắt ngoài góc rẫy cho đến chết. Một lần vào đầu năm 1969, anh đi xuyên rừng để vào bản Darchung. Khi vào đến rẫy đầu bản, anh nhìn thấy một cái chòi nhỏ nằm ở góc rẫy. Chung quanh chòi rắc vôi bột trắng toát. Bun Nghiên biết đây là chòi dùng để cách ly người bị bệnh hủi. Bun Nghiên đi đến gần. Một cô gái ốm yếu, tay lăm lăm dao nhọn nhìn anh chằm chằm. Anh thốt lên: “Ồ, Chăn Khen. Sao cô ở đây?”. Cô gái nhìn anh ngạc nhiên: “Ôi, Bun Nghiên. Anh đừng đến gần. Em bị bệnh hủi, bản bắt em ở đây. Anh đi đi!”. Anh đến gần, nhìn kỹ vết thương của cô gái, vết thương đã khô, người cô gái không còn nóng. Anh biết là cô đã qua giai đoạn cấp tính. Anh quyết định thuyết phục cô gái uống thuốc để trị dứt bệnh. Anh cắt cho cô gái liều thuốc uống 5 ngày gồm DDS (thuốc chủ trị bệnh hủi), sắt và vitamin B1. Ít hôm sau, cô gái tìm đến đơn vị và báo cho anh biết các vết sưng tấy đã lành, người trở lại bình thường. Từ đó, anh được nhân dân của các bộ tộc tín nhiệm và nhờ anh chữa trị những người bị bệnh hủi và các bệnh nan y khác…

          Khi đi đến các bản để làm công tác dân vận và điều trị bệnh, Bun Nghiên nhận thấy công tác vệ sinh của chị em phụ nữ rất kém. Vì vậy mà nhiều bệnh ngoài da phụ khoa phát triển. Anh quyết định chữa trị cho những người bị bệnh nặng nhất. Anh yêu cầu trưởng bản cùng đi với mình để chứng kiến việc làm “tế nhị” của anh. Bun Nghiên chế ra loại thuốc đặc trị chữa bệnh ngoài da gồm lá trầu không rừng giã nhỏ, chắt lọc lấy nước tinh, sau đó hoà với thuốc Clorocid. Những bệnh nhân đã bị ăn sâu vào trong âm hộ, anh hút thuốc vào xi lanh rồi bơm thẳng vào trong. Bệnh nhân nặng chỉ cần thụt rửa từ ba đến bốn lần là khỏi. Đối với những người bị bệnh nhẹ, chỉ mới bị ăn ngoài da thì Bun Nghiên phát thuốc clorocid và đề nghị người thân của bệnh nhân vào rừng hái lá trầu không rừng về để làm thuốc và bệnh nhân tự mình bôi lên vết thương. Nhờ cách chữa của Trưởng trạm quân y Bun Nghiên mà các bản trong vùng Đar Cheung không còn bị bệnh ngoài da lây truyền nữa. Uy tín của Binh trạm và của quân y Việt Nam nhờ vậy lên cao.

          Cuối năm 1969, Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Sê Kông (lúc đó có tên là tỉnh Taven Oọc) Po Lan đến thăm Đar Cheung và Binh trạm 44. Ông được nghe đồng bào các bộ tộc Lào ở đây ca ngợi bộ  đội, đặc biệt là quân y Việt Nam. Ông đã ý khen ngợi: “ Việc làm của các đồng chí đã tô thắm thêm tình hữu nghị gắn bó lâu đời của hai dân tộc Việt- Lào”.

Cựu chiến binh Đinh Công Nguyệt cùng đồng đội bám trụ tại Đar Cheung cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau 30.4.1975, đơn vị của anh về tiếp quản Sài Gòn. Đơn vị anh đóng quân tại sân bay Tân Sơn Nhất và sau giải phóng không lâu anh xin phục viên về quê.

Năm 2003, anh cùng vợ vào sinh sống tại đất Tây Ninh. Anh là một trong những người đầu tiên tìm đến Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đề nghị thành lập Ban Liên lạc bộ đội Trường Sơn tỉnh Tây Ninh. Anh đã lặn lội đi đến các huyện xa như Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu gặp Hội Cựu Chiến binh và Hội Cựu Thanh niên xung phong các huyện giới thiệu người từng công tác trên đường Trường Sơn để tham gia Ban Liên lạc. Sau đó đã có 60 đồng chí từng công tác, chiến đấu trên Trường Sơn làm đơn xin vào tổ chức. Trung ương Hội đã chỉ đạo cho Ban Liên lạc các tỉnh/thành phố thành lập Ban Vận động tiến tới thành lập Hội TTTS- Đường HCM. Cựu chiến binh Đinh Công Nguyệt được các hội viên tín nhiệm bầu giữ chức Trưởng ban Vận động. Vừa lo công tác của Ban Vận động, anh vừa liên hệ với các đơn vị trong lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn Tây Ninh, các tổ chức thanh niên, trường học… để tuyên truyền giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ về Đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Hiện nay, các Thành viên trong Ban Vận động của tỉnh đang tập hợp, ôn lại những ngày tháng chiến đấu gian khổ trên đường Trường Sơn và tình đoàn kết quân đội Việt Nam với nhân dân Lào trong những ngày gian khổ. Hội dự kiến sẽ tập hợp những câu chuyện của các hội viên để gửi ra Trung ương Hội cho cuốn sách “Tình đoàn kết chiến đấu Việt Lào trên Trường Sơn” trong thời gian tới…

Mặc dù hiện đã bước vào tuổi 68 lại là bệnh binh nặng nhưng Đinh Công Nguyệt, vẫn không ngại gian khổ, đi đến các nơi xa để thăm hỏi cựu chiến binh Trường Sơn bị đau yếu, bệnh hoạn và động viên mọi người tham gia xây dựng Hội.

                                         VC