Tình cảm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với "Trung đội Nữ công binh Thép" Ký sự: Hoàng Văn Kính
TÌNH CẢM CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI “ TRUNG ĐỘI NỮ CÔNG BINH THÉP”
Hoàng Văn Kính
Chị em “Trung đội nữ Công binh thép” ra thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Khảng 10h sáng một ngày cuối tháng 3 năm 1973, đoàn xe chở Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ từ leo lên đỉnh đèo Phu-la-nhích thì dừng lại. Từ trong chiếc Com-măng-ca thứ hai, Đại tướng tươi cười bước ra. Tay phủi bụi trên áo, chỉnh trang quân phục, nhận báo cáo từ Tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Hích. Phía sau Đại tướng là Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, Chính ủy Đặng Tính cùng đoàn tháp tùng.
Là Chính trị viên Đại đội 3, tôi cùng Đại đội trưởng Lưu Minh Xuân đứng đầu đội hình đơn vị đón Đại tướng. Cũng căng thẳng, lo lắng và hơi sợ.
Như hiểu được tâm trạng ấy, Đại tướng vừa hỏi chuyện vừa vỗ nhẹ tay vào vai từng người như một sự khích lệ. Cử chỉ thân thiện, tác phong gần gũi, bình dị, ánh mắt nhân hậu, giọng nói nhỏ nhẹ của Đại tướng đã nhanh chóng xóa đi cái khoảng cách vô hình giữa Tổng tư lệnh với những người lính trận.
Đại tướng hỏi cặn kẽ tình hình đơn vị, đặc biệt là những khó khăn, thiếu thốn trong chiến đấu, trong sinh hoạt và cuộc sống nơi trọng điểm địch đánh phá ác liệt.
Cảm nhận được ở Ông sự quan tâm đặc biệt giống như tình cảm người cha với các con lâu ngày mới được gặp, điều ấy khiến chúng tôi tự tin, mạnh dạn báo cáo tình hình với Đại tướng.
Đại tướng tiến đến, lần lượt bắt tay từng người một. Dừng lại lâu hơn ở chỗ Trung đội trưởng Trung đội Nữ B3 Nguyễn Thị Tầm. Từ khoảng cách hơi xa nên tôi không nghe được chị Tầm báo cáo gì với Đại tướng nhưng thấy Ông cầm tay chị rất lâu, chăm chú nghe và khẽ gật đầu. Hôm sau chị Tầm kể lại: Đại tướng quan tâm nhiều đến tình hình sức khỏe, điều kiện ăn ở và sinh hoạt, nhu cầu và nguyện vọng của chị em…
Đứng giữa trọng điẻm, vẫy tay gọi tất cả chúng tôi lại gần, Đại tướng nói: “…trăm nghe không bằng một thấy, có đến tận nơi mới thấy cái vĩ đại và rất nên thơ của tuyến đường qua Phu-la-nhích…và cuộc chiến đấu, lao động kiên cường của những con người đã làm nên sự tích anh hùng…” Rồi Đại tướng biểu dương tinh thần chịu đựng gian khổ, chiến đấu hy sinh, kiên cường bám trụ bảo đảm thông đường của toàn đơn vị. Đại tướng căn dặn phải luôn cảnh giác với các thủ đoạn đánh phá của địch, trong mọi tình huống phải luôn bảo đảm thông đường, thông xe…
Riêng với Trung đội nữ B3, lực lượng chủ yếu chốt giữ đèo Phu-la-nhich được Đại tướng khen “…Ở nơi kẻ địch đánh phá khốc liệt như thế này chỉ có ý chí thép mới trụ lại được”. Rồi Đại tướng đặt tên cho là “ Trung đội nữ công binh thép”.
Hơn ba mươi phút ngắn ngủi được Đại tướng đến thăm là một vinh dự to lớn đối với toàn đơn vị. Sự bình dị, gần gũi và chân tình của Đại tướng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của mỗi người lính có mặt hôm ấy.
Nằm trong hệ thống trọng điểm liên hoàn ATP trên Đường 20-Quyết thắng, Phu-la-nhích là một trong số ít những trọng điểm bị địch đánh phá ác liệt nhất trên tuyến vận tải chiến lược Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh. Chúng đánh liên tục cả ngày lẫn đêm bằng nhiều loại máy bay với nhiều chiến thuật: Bổ nhào, đánh bom có điều khiển bằng tia laze, đánh bom tọa độ, bom từ trường, đánh bằng B52, thả hỗn hợp các loại bom, mìn lá, mìn dây, mìn bướm, mìn cóc…Cả trọng điểm bị đào xới thấp hẳn xuống, không còn một bóng cây, một ngọn cỏ, hơn ba cây số đường trọng điểm chồng chất hố bom với màu đất đỏ quạch. Bất kì một chuyển động nhỏ nào hay phát hiện thấy những dấu hiệu khác thường dưới mặt đất là lập tức máy bay trinh sát chỉ điểm cho các loại phản lực ập đến đánh phá.
Chốt giữ ở chảo lửa Phu-la-nhích là “Trung đội nữ công binh thép”. Một tập thể ba mươi tám cô gái tuổi vừa mười tám, đôi mươi, xinh xắn, trẻ trung, hồn nhiên, hầu hết quê ở Tĩnh Gia-Thanh Hóa, cũng có vài chị em ở Nông Cống, Hậu Lộc. Người bỏ dở năm cuối cấp ba, người vừa xin được chân dạy học ở xã, có người đang may vá ở hợp tác xã. Thắm và Lương chỉ còn chờ bạn trai tranh thủ về phép là được làm cô dâu… Nhưng họ đã tình nguyện đi bộ đội để lại sau lưng một mái nhà, một lời hẹn, một ước mơ chưa kịp chín để vào Trường Sơn ngày đêm bám đường, bám đèo, chiến đấu với bom đạn của giặc Mỹ.
Cả Trung đội ở trong một cái hang đá, ngày đi đánh bom, giữ đường, chập tối một Tiểu đội ra chân đèo trực chiến trong một căn hầm chữ A, ba cô gái khác lên trực trong một căn hầm trên đỉnh đèo. Mọi sự cố xẩy ra trong đêm từ phá bom, san lấp hố bom, cứu hàng cứu xe, cứu thương binh đều được lực lượng trực xử lý mau lẹ và kịp thời. Nếu công việc nhiều quá thì điều động thêm nhân lực, xe máy ứng cứu.
Một buổi tối khi cả Tiểu đội đang hối hả san lấp hố bom thì máy bay lao đến – Trung đội phó Nguyễn Thị Chương hét to: Cẩn thận, bom đấy! – Tiếng Hải vang lên giữa những âm thanh gầm rú: Em biết rồi – Nhưng chưa kịp tránh thì tiếng bom đã rít trong gió lao xuống, một tiếng nổ xé toạc đất trời. Hải bị bom hất tung lên, khi đồng đội lao đến thì em đã tắt thở. Những tiếng khóc, tiếng kêu, tiếng gọi nghẹn lòng. Nhưng rồi tất cả như bừng tỉnh, một bộ phận nhanh chóng đưa Hải về, số còn lại tập trung thông đường.
Những cô gái của Trung đội nữ công binh thép là như thế. Giữa bom đạn, giữa tang tóc và đau thương họ không khuất phục vẫn sáng ngời lòng kiêu hãnh, ý chí kiên cường bất khuất.
Các em không có áo giáp, không có súng đạn trong tay, nhưng có một trái tim gan góc, một tinh thần thép được tôi luyện qua từng trận bom. Các em gánh trên vai không chỉ cuốc xẻng mà còn cả vận mệnh của những đoàn xe, là sự sống còn của con đường nối liền hậu phương với tiền tuyến.
Đó không chỉ là những cô gái mà còn là bức tượng đài của lòng quả cảm và sự hy sinh. Đèo Phu-la-nhích những năm ấy từng viên đá, từng khúc cua đều ghi dấu bước chân các em – những “bông hoa lửa” thầm lặng mà kiêu hùng..
Khoảng 20 ngày sau, “Trung đội nữ công binh thép” nhận được món quà quý Đại tướng gửi tặng gồm: 100 bánh xà phòng 72%, một bao tải quả bồ kết khô và một trăm mét vải xô. Không riêng chị em nữ mà cả Đại đội đều xúc động, nhiều người không cầm được nước mắt.
.Gần ba năm trấn giữ đèo Phu-la-nhích, có người đã nằm lại mãi mãi, những người trở về cả đời mang thương tật, chất độc da cam-Đioxin, cuộc sống gặp muôn vàn khó khăn nhưng chưa bao giờ chị em đòi hỏi được ghi công trạng. Họ chỉ nghĩ rằng mình là những cô gái Thanh Hóa mảnh mai, nhỏ bé tự nguyện sống chết cho con đường, sống chết cho mỗi chuyến xe qua mà không cần được ghi công. Được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp đến thăm, đặt tên Trung đội nữ công binh thép, gửi tặng quà, chỉ thế thôi chị em đã thấy ấm lòng.
Cùng với Alexander Đại đế (Macedonia); Hannibal Bẩc (Carthage); Julius Caesar (La Mã); Trần Hưng Đạo (Đại Việt). Oliver Cromwell (Anh ); Frederick II Đại đế (Phổ); Napoleon Bonaparte (Pháp). Mikhail Kutuzov (Nga). Georgy Zhukov (Nga). Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh (tháng 2 năm1984) xét phong là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất trong lịch sử Thế giới; là Tổng tư lệnh Quân đội trong tay có cả triệu quân, bận trăm công ngàn viêc nhưng Đại tướng vẫn nhớ mấy cô gái – những người lính nhỏ bé nơi trọng điểm heo hút trên đỉnh Trường Sơn.
Có lẽ, tình cảm ấy là một trong những nhân tố đã làm nên tên tuổi của Ông và tạo ra sức mạnh của một đội quân bách chiến, bách thắng.
Nhưng với Đại tướng, mọi chuyện vẫn không bị lãng quên. 29 năm sau, tại Đại hội CCB toàn quốc lần thứ ba ngày 26 tháng 12 năm 2002 trong bài phát biểu, Đại tướng vẫn nhớ và nhắc đến “ Trung đội nữ công binh thép”. Đại tướng nhắn: “ Hồi Bác vào thăm chiến trường, ở đèo Phu-la-nhích có gặp một Trung đội nữ công binh. Bây giờ ai còn sống, ở đâu thì hãy biên thư cho Bác”.
Tin Bác nhắn lan nhanh, chị em rất vui và cảm động, mọi người liên hệ với nhau hẹn ngày ra Hà-nội thắm Bác.
Chị Dương Thị Trình nguyên Trung đội phó được chị em phân công đi tiền trạm ra gặp Đại tướng.
Bác cháu gặp nhau. Thấu hiểu được những mất mát, thiệt thòi và cuộc sống quá khó khăn, vất vả của chị em sau khi đã về với đời thường: sức khỏe giảm sút, thương tật, phơi nhiễm chất độc da-cam, người thì không có gia đình, người có con bị dị chứng từ mẹ. Tất cả đều không có bất kì một chế độ chính sách gì? Đại tướng chỉ đạo các cơ quan giám định thương tật cho các nữ công binh hưởng chế độ thương, bệnh binh và nhiễm chất độc da cam. Sau đó tất cả chị em và các cháu bị di chứng chất độc da cam thuộc Trung đội nữ công bính thép đều được hưởng chế độ thương binh, chế độ người nhiễm chất độc da-cam Đio-xin.
Ngày 16 tháng 7 năm 2003, hơn 10 chị em thuộc Trung đội nữ công binh thép được ra Hà-Nội thăm Đại tướng tại nhà riêng của Bác. Trong niềm vui, xúc động và hạnh phúc, Bác lần lượt hỏi thăm từng người…
Những tình cảm Đại tướng luôn dành cho các LLVT nói chung và Trung đội nữ công binh thép nói riêng đã để lại trong lòng mỗi người lính những dấu ấn sâu đậm. Những ai có may mắn được làm lính của Đại tướng, được một lần gặp Đại tướng luôn biết ơn và khắc sâu trong trái tim mình hình ảnh Đại tướng - vị Tổng tư lệnh - người Anh Cả đức độ và tài ba của QĐNDVN.
Hoàng Văn Kính
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn