“Khát” – Tác phẩm dự thi “Hào khí Trường Sơn” của Minh Ngọc, hội viên Trường Sơn tỉnh Yên Bái

Ngày đăng: 06:06 16/03/2019 Lượt xem: 501
BÀI DỰ THI "HÀO KHÍ TRƯỜNG SƠN"     
KHÁT
*Tây Trị Thiên 1969
 
         Mùa khô năm 1969, chiến dịch vận chuyển cứu đói và cung cấp vũ khí, đạn dược, thuốc quân y cho các chiến trường sau cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 đang vào giai đoạn gấp rút. Trung đoàn chúng tôi được lệnh sửa gấp đường B45 để xe đưa hành vào càng sâu càng tốt đỡ cho các đơn vị gùi không kịp đáp ứng đủ lương thực, thuốc men cung cấp cho thương binh; đặc biệt là các loại đạn cung cấp cho quân giải phóng đánh chặn các các sư đoàn Mỹ, nguỵ đang nống ra khắp nơi hòng tiêu diệt các đơn vị của ta đang thiếu đạn dược và bị đói nghiêm trọng.
         Tiểu đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ sửa lại tuyến A sầu, A Lưới đến đèo Bù Lạch. Toàn bộ con đèo sau một năm bỏ trống đã bị bom, đạn và mưa lũ gần như xoá sổ, vất vả nhất là vừa mở lại đường vừa dò phá bom nổ chậm, mìn hỗn hợp các loại của địch gài trước khi rút quân nay đã bị đất đá vùi lấp trong mùa mưa; nhiều lúc công binh đang làm đường thì bất thần bom nổ đất đá trên ta luy đổ ập gây nhiều thương vong cho bộ đội.
         Nguy hiểm hơn là mấy ngày hôm nay bọn trực thăng từ Huế theo đường vòng qua cao điểm Cô ca va rồi lách qua khe hai quả núi đá ở ngầm A Vương bất ngờ ào đến bắn cối sối sả gây thương vong và làm cho đơn vị luôn nơm lớp đề phòng, vì vậy năng xuất mở đường giảm rõ rệt, bộ đội lại bị thương vong nhiều. Vì chúng đi thấp nên trận địa 12 ly 7 của Quân khu Trị Thiên - Huế đóng ở gần dốc Con mèo không phát hiện kịp.
         Không thể để bọn máy bay dùng chiến thuật lách núi rồi bất ngờ tấn công gây thương vong cho đội hình mở đường của ta. Tiểu đoàn giao cho đội trinh sát phá bom chúng tôi lập trận địa để đánh trả cắt đứt đường bay của chúng, chủ động bảo vệ bộ đội mở đường. Nhận nhiệm vụ, tôi và đồng chí Thanh đi trinh sát nắm quy luật đường bay của bọn trực thăng và tìm trận địa đánh vỗ mặt bất ngờ khi có điều kiện.
         Sau hai ngày ăn lương khô, uống nước suối, hai anh em chúng tôi đã vượt qua 4 trảng đồi tranh dài đến hơn một chục km và đã xác định được đường bay của chúng. Do khu vực này các trận địa pháo binh của địch ở Cồn Tiên, Dốc miếu, ở ngoại vi Huế đều có thể bắn tới, địa hình lại trống trải nêm máy bay địch thường hạ độ cao đi vào  hẻm của hai núi đá vôi hiểm trở, rồi  vòng ra ngầm A Vương và ào đến đánh ta bất ngờ. Hai chúng tôi nằm trong đồi tranh nhìn bọn trực thăng to như những chiếc xe ô tô lừ lừ luồn lách ngay trên đầu lại ước ao bây giờ có khẩu RPD cho chúng một điểm xạ chắc chắn chúng toi đời.
         Về Tiểu đoàn tôi đã báo cáo lại toàn bộ tình hình đường bay của địch và phương hướng lập trận địa bắn máy bay bằng súng bộ binh RPD bất ngờ và dễ cơ động. Tiểu đoàn chấp nhận và giao cho 3 chúng tôi sử dụng 3 khẩu RPD đánh chặn đường bay của lũ trực thăng. Ngay đêm hôm đó một trung đội công binh đã cùng 3 anh em chúng tôi vận chuyển gỗ để làm hầm và lập trận địa bí mật, bất ngờ đánh máy bay địch. Sau 3 ngày vận chuyển đủ số gỗ và tập kết tại khu rừng gần đồi tranh mà chúng tôi dự định làm trận địa. Đêm hôm đó chúng tôi cùng Trung đội công binh tập trung làm hầm chữ A và 3 công sự để đặt súng bắn máy bay cách xa nhau khoảng 80m. công sự bố trí xong cũng gần 4 giờ sáng. Trung đội công binh rút về đơn vị, các anh vừa đi vừa xoá sạch các dấu vết của một đêm hoạt động (vì đồi tranh nếu không ngụy trang và xoá dấu vết tốt sẽ rất dễ bị hai thằng OV10 suốt ngày quần lượn săm soi phát hiện).
         Biết rằng ban ngày mọi hoạt động trên đồi tranh dễ bị máy bay trinh sát phát hiện và nước suối A Vương phải đi xa hơn 3 tiếng vượt qua nhiều đồi tranh, khoảng trống mới lấy về được nên chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một bịch nước bằng túi ni long khoảng 30 lít trong hầm chữ A, còn mỗi anh em một bình tông mang bên mình. Ngày đầu tiên phục kích bầu trời im ắng, chỉ có thằng OV10 trao đi, lượn lại nhòm ngó khắp nơi và gió Lào thổi cái nóng hầm hập hành hạ chúng tôi. Tối đến ba chúng tôi tập trung về hầm chữ A dùng nước suối ngâm gạo rang, khi gạo nở ra hết cỡ thì hoà đường làm chè ăn lấy sức (Vì cả ngày chúng tôi chỉ ăn lương khô với nước suối), rồi thay nhau ngủ để ngày mai tiếp tục mai phục.
         4 giờ sáng ba anh em dậy đi bổ sung nguỵ trang trận địa rồi tập trung hội ý thống nhất phương án chiến đấu trong ngày tại hầm chữ A, mỗi anh em lấy đầy một bình tông nước và ra hầm chực chiến  sẵn sàng chiến đấu. Buổi sáng qua đi trong yên lặng, thỉnh thoảng thằng OV10 lại chúi xuống khu vực Bò lạch bắn cối chỉ điểm để cho bọn F4 và AD6 đến dội bom đánh phá, phía Dốc con mèo có vài loạt đạn 12 ly 7 bắn lên thế là bọn máy bay cường kích lại bu đến đánh phá, bom nổ suốt buổi làm ba anh em chúng tôi nóng lòng chờ đợi. Khoảng 14 giờ đột nhiên thằng OV10 chao cánh rồi lượn thấp xuống khu vực chúng tôi đang ẩn nấp, thấy có điều bất thường, tôi làm hiệu báo cho hai đồng chí bình tĩnh, cảnh giác theo dõi biến động của thằng OV10. Chỉ một phút sau, thêm một chiếc OV10 nữa xuất hiện, hai chiếc OV10 quần lượn cứ thay nhau nghiêng ngó, soi mói, rồi một chiếc mở rộng vòng lượn và lao thẳng xuống phóng cối chỉ điểm phía đồi gianh bên cạnh trận địa của chúng tôi. Ngay lập tức hai thằng AD6 ầm ầm lao đến thả hàng chục quả bom, cả quả đồi cỏ tranh bùng lửa, cháy dàn dạt. Khói, bụi dày đặc bay sang che phủ hết quả đồi chúng tôi đang phục kích, khói bụi chưa tan thì thằng F105 đến thả hai thùng bom bi, nghe tiếng rít chúng tôi vội vào ngay hầm cá nhân và đậy nắp lại, khắp nơi tiếng nổ lụp bụp của bom bi quả trẩu xen với tiếng nổ đanh của bom bi quả dứa; hết đợt bom bi, chúng tôi vừa chui ra hầm thì 2 thằng F4 lại xuất hiện, lần này chúng đánh thẳng sang đồi của chúng tôi, bom phá làm hầm cá nhân của chúng tôi đất đổ ào ào, mảnh bom bay vèo vèo, lửa cỏ tranh cháy táp vào hầm nóng hầm hập. Hết đợt bom thứ ba, trời cũng về chiều, mặc cho bom bi vẫn nổ lụp bụp, tôi vội hất tung nắp hầm để thở, nhưng bên ngoài khói bom vẫn mù mịt, đắng ngắt; dù sao không khí bên ngoài cũng còn dễ chịu hơn khi ở trong hầm chật chội khói bom sộc vào ngột ngạt rất khó chịu.
         Nhìn toàn bộ quả đồi bị bom đánh khắp nơi, cỏ tranh bị bom Na pan và lân tinh đốt cháy trụi. Đợi trời tối hẳn, thằng OV10 đã cút, ba anh chúng tôi mới tập trung được về đến hầm chữ A. Hầm chữ A đã bị một quả bom phá đánh tung, bịch nước và hòm lương khô cũng bay sạch.
         Tình huống lúc này là rút về đơn vị hay bám trụ lại; sau khi hội ý, chúng tôi thống nhất quyết tâm bám trụ, vì khi chúng đã đánh bom theo kiểu huỷ diệt thế này là chúng dễ chủ quan, nên chúng tôi quyết tâm giành cho bọn trực thăng một cú bất ngờ. Điều khó khăn nhất là nước uống, 3 anh em không còn nước uống mà phải chịu đựng một đêm, một ngày giữa đồi tranh trống trải và cái nắng gay gắt cùng gió Lào khô kiệt, liệu chúng tôi có trụ nổi không. Khó khăn nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm, vì đã mất bao công lao của đồng đội khi chưa hoàn thành nhiệm vụ thật là uổng phí, và chúng tôi bàn phương án dùng ni lông trải ra để hứng sương đêm nếu được chút nào hay chút ấy, nhưng điều này cũng thật khó vì mùa này lấy đâu sương đêm. Chúng tôi thống nhất 4 giờ sáng phải hoàn tất nguỵ trang theo đúng đồi cháy, nếu để OV10 phát hiện dấu vết là chấm hết. Đêm hôm đó pháo bầy từ tàu ngoài biển bắn vào khu vực vài lượt, pháo chụp ở căn cứ Cồn tiên cứ một tiếng lại toạ độ một lần, mảnh găm phầm phập khắp nơi.
         Ngày hôm sau, mới 5 giờ sáng hai thằng OV10 có tăng cường thêm thằng L19 bên trên đã quần lượn khắp khu vực A Sầu, A Lưới. Đến khoảng 8 giờ trận bom thứ nhất đánh vào Bù Lạch rồi chúng đánh rộng ra khu dốc Con Mèo ... càng về trưa, trời càng nắng gay gắt, cả một đêm chúng tôi không có một ngụm nước nào nên cũng không dám ăn lương khô hay nhá gạo rang, vì càng ăn càng khát. 12 giờ trưa, mặt trời như một hòn than khổng lồ toả cái nóng, gió lào càng hầm hập, không cái gì khổ bằng khát; môi tôi đã rộp nên, mồm chát và đắng, đến nước bọt cũng hết; phía phải đồi cậu Tuấn gọi vọng sang nói lấy nước giải mà uống, nhưng có nước đâu mà đi giải. Tôi moi xuống giữa hầm lấy một năm đất nhưng nó cũng khô khốc, đành chấm chấm vào môi cho có một chút cảm giác mát mát. Khoảng 14 giờ, mặt trời soi thẳng vào hướng các cửa hầm của chúng tôi, cái nóng càng như có lửa phả vào mặt chúng tôi, lúc này mắt chúng tôi đã hoa, người muốn lả; tôi lấy vài hạt gạo rang bỏ vào mồm nhưng lưỡi đã rộp, răng cũng không nhá nổi phải vội há để mấy hạt gạo rang tự rơi ra. 15 giờ chiều, cái giờ cao điểm đã đến, hai thằng OV10 tự nhiên giãn ra xa rồi bay về hướng Cồn Tiên, Dốc Miếu. Tôi nhắc cậu Tuấn và cậu Sơn chú ý chuẩn bị chiến đấu, nghe tiếng anh em báo lại tôi biết lúc này ai cũng rất mệt, không cò hơi nhiều để nói to nữa.
         Bầu trời đang yên lặng, bỗng từ phía khe núi ầm ầm tiếng trực thăng vọng đến, tôi nhẹ nhàng đưa khẩu RPĐ đã được nguỵ trang cẩn thận lên thành công sự hướng thẳng về phía khe núi; thế rồi 3 chiếc trực thăng HU1A của địch tiến thẳng lại hướng chúng tôi, tôi chỉ kịp hô nhằm chiếc thứ 3, thì chiếc đi đầu to như cái thuyền trườn qua đầu chúng tôi, rồi chiếc thưa hai cũng bay qua. Chiếc thứ 3 chủ quan vì có hai chiếc trước nên đi thấp hơn, tôi nhìn rõ 3 thằng đang ngồi trên máy bay, một thằng lái và 2 thằng cầm súng máy và súng phóng lựu ở hai bên cửa; Tôi hô một tiếng: bắn! cả 3 khẩu RPĐ sả 3 luồng đạn thẳng căng găm hết vào chiếc máy bay làm nó khựng lại rồi chao đảo ngoặt lại khe núi vài giây sau chúng tôi nghe thấy một tiếng rầm rất to rồi im ắng. Hai thằng đi trước chắc chưa kịp đến mục tiêu tấn công đã vội vàng bốc lên cao chạy thẳng về phía Huế. Lập tức hai thằng OV10 và thằng L19 có mặt chao đảo, nghiêng nó khắp nơi nhưng vì súng RPĐ khi bắn có rất ít khói, bắn song là khói tan ngay nên trận địa của chúng tôi vẫn giữ được bí mật tuyệt đối. nghiêng ngó, bắn chỉ điểm lung tung cho bọn F4 và bọn AD6 đánh phá dọc tuyến từ dốc con Mèo, sân bay A So 68, A Sầu, A Lưới, đèo Bù lạch, ngầm A Vương đến  sẩm tối thì chúng rút sạch.
         Nhiệm vụ chúng tôi hoàn thành, chập tối chúng tôi rút khỏi trận địa, nhưng môi anh nào anh ấy rộp lên trông đến sợ, nhìn nhau phát buồn cười. Vừa đi chúng tôi vừa xem chừng bọn pháo bầy, pháo chụp cứ 15 – 20 phút lại bắn tới tấp vào các khu chúng nghi ngờ. Đến gần sông A Vương chúng tôi gặp một tổ của đơn vị cử đi đón chúng tôi, không kịp chào hỏi, 3 anh em tôi cướp vội các bình tông nước của đồng đội mà tu, mà dốc vào mặt, vào người. Dòng nước mát đến đâu, chúng tôi tỉnh lại đến đó. Khi đi đến sông A Vương tôi đề nghị anh em cảnh giới và canh chừng pháo bầy để 3 chúng tôi nằm ngâm mình dưới dòng sông mát lạnh cứ như mình đã bị khát từ hàng năm nay.
         Về đến đơn vị chúng tôi mới được biết tại sao máy bay chúng lại bất ngờ đánh vào khu vực chúng tôi bố trí đón lõng máy bay trực thăng của địch. Chả là sáng hôm đó bọn OV10 đã phát hiện ra dấu vết đi của một đội gùi Quân khu Trị Thiên - Huế tối hôm trước, các đồng chí ấy chủ quan không xoá dấu vết ở đồi tranh nên máy bay trinh sát phát hiện dấu vết, chụp ảnh và gọi bọn cường kích đến đánh bom; rất may đơn vị gùi đã về đến nơi đóng quân của công binh và nghỉ nhờ nên không ai việc gì.
         Trong cuộc chiến đấu của những người lính Trường Sơn, có biết bao kỷ niện vui có, buồn có, gian khổ, hy sinh có; nhưng kỷ niệm về  sự chịu đựng cái khát giữa mùa hè đầy gió lào ở miền Tây Trị Thiên ngày đó, tôi còn nhớ mãi và đã trở thành một câu truyện kể về tinh thần quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, của những người lính Trường Sơn vào những dịp kể chuyện truyền thống cho các cháu thiếu niên, nhi đồng trong các buổi sinh hoạt hè ở địa phương sau 42 năm đất nước hoà bình, thống nhất.

 
Minh Ngọc
Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh tỉnh Yên Bái
ĐT: 0983.991992
Địa chỉ: Số 9, Tổ 41B, P.Yên Thịnh, TP.Yên Bái, T.Yên Bái

tin tức liên quan