• thiết kế web
  • Hoạt động Hội

    Người "vẽ tranh"

    08/10/2012 | 08:05

     

     

              Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

            NGƯỜI “VẼ TRANH” DƯỚI CHÂN NÚI HÒN NGANG

    Lâu lắm rồi chúng tôi mới có dịp đáp chuyến xe buýt lên Sông Hinh để thăm đồng đội - Một cựu chiến binh Trường Sơn năm xưa.

    Chiếc xe buýt từ từ dừng lại ở ngã ba Sơn Giang - Tôi và anh Trương Bình Trọng một CCB từng vượt Trường Sơn gùi thồ từ ngày mới thành lập đường dây 559. Vừa bước chân xuống xe chúng tôi vô cùng phấn khởi được người bạn chiến đấu LÊ ANH BÁ đến tận cửa xe đón chúng tôi với nụ cười rạng rỡ tay bắt, mặt mừng như đón người thân trong gia đình đi xa lâu ngày trở về.

    Nhưng kỳ thật đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Nói là đồng đội nhưng chưa hề quen biết- Bởi Đoàn 559 vô cùng rộng lớn. Tuyến đường Trường Sơn kéo dài từ Bắc vào Nam.

    Đồng chí Trần Thành Chính - Trưởng ban Liên Lạc truyền thống Bộ Đội Trường Sơn Tỉnh Phú Yên đã điện trước cho anh Bá để đón chúng tôi. Được biết anh Bá là một chiến sỹ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn từ năm 1965 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trước lúc nhập ngũ là công nhân máy kéo nông trường quốc doanh Yên Mỹ tỉnh Thanh Hóa - Khi vào quân đội được trên đưa ngay về trường Tiến Bộ của quân đội làm lái xe - Do tình hình phát triển của chiến trường toàn khóa học lái xe được điều vào Binh Trạm 12, Đoàn 559. Trong quá trình thử thách trong chiến đấu anh được đề bạt từ cán bộ trung đội trưởng, đại đội trưởng, rồi tham mưu trưởng, tiểu đoàn 56, E36, F471. Nhiều lần bị thương nhưng may chỉ ở phần mềm với tỷ lệ 19%. Hiện nay mảnh đạn vẫn còn trong cơ thể. Tuy ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng trông thấy anh còn rất khỏe và nhanh nhẹn. Trong bộ quân phục bạc màu, anh dắt chiếc Honda đã phủ thêm màu cát bụi vùng sơn cước. Anh mời chúng tôi ghé vào quán nhỏ bên đường uống nước nghỉ ngơi cho đỡ mệt và anh điện cho con anh là Lê Văn Thịnh đưa xe máy lên đón chúng tôi cùng đi thăm các cơ sở sản xuất dưới chân núi Hòn Ngang bên xã Sơn Thành, huyện Tây Hòa. Mục đích chuyến đi lần này là chúng tôi muốn đi đến tận nơi để tìm chân dung đích thực- Người CCB Trường Sơn đã và đang vẽ “bức tranh” kinh tế dưới chân núi Hòn Ngang.

    Người xưa có câu “Hữu xa tự nhiên hương”. Đối với anh Bá với đức tính khiêm tốn, không phô trương thành tích - Nhưng việc làm của anh trở thành tấm gương CCB làm kinh tế giỏi tự nó đã loan tỏa khắp vùng núi rừng từ Hòn Ngang đến bên kia Núi Lá miền Tây tỉnh Phú Yên.

    Ngày 30/8/2012 đồng chí Hoàng Phạm Sinh, Thiếu tá - Phó Chủ tịch Hội CCB huyện Sông Hinh - Trưởng Ban Liên Lạc CCB Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Sông Hinh đã ký xác nhận thành tích làm kinh tế giỏi của CCB Lê Anh Bá để đề nghị TW Hội khen thưởng.  Anh gợi ý chúng tôi cần gặp CCB Lê Anh Bá để hiểu rõ hơn về người lính Cụ Hồ trên mặt trận làm kinh tế xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu chính đáng. Đúng là lời gợi ý vàng. Hôm ấy buổi trưa trời nắng như trút lửa. Hai cha con anh Bá chở chúng tôi đi thăm cơ sở sản xuất của gia đình anh.

    Từ bến xe buýt đến nơi trang trại trên dưới 10km. Xe chở mía chạy nhiều nên con đường hỏng, có chỗ còn xấu hơn cả đường quân sự làm gấp ở Trường Sơn. Anh Bá chở tôi, cháu Thịnh chở anh Trọng. Chiếc xe honda có lúc như con ngựa bất kham, nó trườn qua đường sống trâu rồi chài vào rãnh nước. Nhiều lần suýt ngã. Tới 4-5 lần chúng tôi phải xuống xe đi bộ. Tuy vất vả nhưng do sự hưng phấn quên cả mệt, quên hết tuổi già. Chúng tôi được phóng tầm mắt nhìn những rừng sắn, rừng mía bạc ngàn, đồng lúa, đồng cỏ trải màu xanh vô cùng ngoạn mục. Chúng tôi đến tận nơi thăm các cơ sở sản xuất mà 5 người con anh phân công chốt giữ.

    Mỗi trang trại nhỏ đều có nhà lưu trú với tiện nghi, sinh hoạt đầy đủ. Có ao nuôi cá, đất trồng cỏ nuôi bò, ruộng lúa nước 2 vụ, mía bao bọc xung quanh. Chúng tôi bước vào sân đàn gà, đàn vịt xiêm chạy đến quanh chân như muốn chào chủ và khách tới thăm, tạo nên một dàn âm thanh thật vui tai. Chúng tôi nhìn vườn cây ăn quả nào xoài, mít, dừa đứng thẳng hàng. Những cây đu đủ quả chín vàng ươm. Anh Bá bảo con hái bổ đu đủ đãi khách. Có lẽ do điều kiện thổ nhưỡng ở đây nên đu đủ có vị ngọt thanh tao và mùi thơm hấp dẫn đến vậy. Nhìn những chú bò lai béo tròn đang gặm cỏ trên sườn đồi trông vô cùng thích mắt. Vừa đi vừa trò chuyện, anh dẫn chúng tôi đến thăm tiếp những ao nuôi cá mà gia đình anh vừa khai thác xong đề phòng mưa lũ. Anh nói, những cái ao này anh cho đào, múc với độ sâu trên dưới 2m. Nuôi đủ loại cá trắm, chép, mè, trôi rất mau lớn đặc biệt cá rô phi có con nặng tới hàng cân.

    Nếu thời gian sắp tới tiếp cận được vốn vay anh sẽ mở rộng ao hồ để phát triển nuôi cá lớn hơn.

    Mặt trời đã quá ngọ, sắc nắng đã dịu dần. Những đám mây đang trôi lơ lửng trên đỉnh núi Hòn Ngang. Với sự chiếu xạ ánh nắng mặt trời xuyên qua đám mây trông tuyệt đẹp. Nhìn những đám mía, và những người lao công đang bốc lá, những cơn gió lùa xào xạt lòng chúng tôi cũng rộn niềm vui và chen lẫn niềm tự hào về anh Bộ Đội Cụ Hồ đã từng ôm tay lái điều khiển những chiếc xe quả cảm tả xung hữu đột trên đường Trường Sơn máu lửa ngày nào. Một sỹ quan dũng cảm mưu trí nơi nào khó khăn ác liệt được trên điều đến để tăng cường. Đến khi xuất ngũ về địa phương, tài sản duy nhất chỉ có chiếc ba lô con cóc, bộ quân phục bạc màu với đôi dép cao su. Bản thân anh rất thông cảm hoàn cảnh đất nước kinh tế khó khăn sau chiến tranh. Anh nghĩ tự mình phải tìm lối thoát không thể ỷ lại cho ai. Do đó anh quyết định xin vào cơ quan lâm nghiệp huyện để có đồng lương trang trải cuộc sống gia đình.  

    Đúng là khi ở Trường Sơn bám núi rừng đánh giặc, bây giờ về cơ quan lâm nghiệp lại tiếp tục gắn bó với núi rừng. Phải trèo đèo, lội suối cùng vô cùng vất vả trong thời bao cấp lương thấp, cuộc sống của anh đã gặp cũng không ít khó khăn. Con đông với 5 cái tàu há mồm, 3 trai 2 gái, đứa con đầu sinh 1976, đứa con út sinh 1985. Vợ anh thì ngày hai buổi đến trường giảng dạy. Vì hoàn cảnh gia đình túng thiếu nên anh đã xin nghỉ việc. Cơ quan giải quyết chế độ mất sức cho anh một lần. Nhận khoản tiền chính sách ít ỏi, chỉ thời gian ngắn đã tiêu hết sạch. Đúng là “Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Nói đến đây điện thoại anh Bá chuông báo liên hồi. Bên kia là vợ anh – chị Nguyễn Thị Đạt hỏi tại sao đã gần 1 giờ chiều mà chủ khách không thấy về? Chúng tôi tạm dừng câu chuyện ở đây lên xe trở về. Đến nhà, chị Đạt và các cháu ùa ra cổng chào đón chúng tôi. Anh Bá chủ động giới thiệu chúng tôi với vợ, con và gia đình: Đây là hai bác cao niên đã trải qua hai thời kỳ kháng chiến. Các bác từng đóng quân tại quê mình làm nhiệm vụ chống cưỡng ép di cư năm 1954-1955. Trong chống Mỹ đã từng chiến đấu trên đường Trường Sơn huyền thoại. Qua anh Bá, chúng tôi biết thêm chị Đạt là một phụ nữ đảm đang chung thủy, cô giáo cấp II đã về hưu với 26 năm làm nghề dạy học trong đó có 6 năm là giáo viên miền núi. Nhìn trên tường có treo bằng Huân chương kháng chiến hạng II và huy chương vì sự nghiệp giáo dục mà chị được tặng. Nhìn con người phúc hậu, được biết chị vừa trải qua cơn tai biến nhẹ, anh Bá và gia đình dồn sức chạy chữa tứ phương. Do đó đến nay sức khỏe của chị đã bình phục với trí nhớ còn tuyệt vời.

    Chị kể cho chúng tôi nghe cuộc đời chị chịu tới hai cuộc chia ly. Đó là năm 1965, sau lễ gia đình anh Bá ăn hỏi, chưa kịp cưới anh Bá chia tay lên đường đi chiến trường đánh giặc. Trong giờ phút lên đường ra trận anh Bá nói với chị đã đi chiến trường tất nhiên sẽ có hy sinh. Nếu lâu không thấy anh về thì em cứ đi lấy chồng chứ con gái có thì. Nước mắt chị chảy dài trên gò má và nói với anh Bá rằng đã làm lễ ăn hỏi coi như vợ chồng. Nếu không may anh hy sinh em vẫn ở vậy. Thế là chàng trai, cô gái xứ Thanh chia tay nhau giữa ngày xuân Ất Tỵ (1965) trong không khí cả nước hành quân, toàn dân ra trận. Những ngày xa nhau trăm nhớ ngàn thương. Gần 10 năm chờ đợi chị nhìn hòn núi Bợm quê nhà thấy như già nua cằn cõi. Đêm đêm nghe tiếng sóng biển thì thầm càng nhớ anh da diết.

    Ngày ngày đến lớp vui với đồng nghiệp và các cháu học sinh. Tối về soạn giáo án xong lên giường chập chờn nhớ anh ngoài mặt trận. Nhiều lúc chị nghĩ âu cũng là số phận! Tạo hóa ban cho cái gì đến thì sẽ đến.

    Đến ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, chị mừng vui không cầm được nước mắt vì biết tin anh còn sống. Người chồng chưa cưới sẽ về. Sự trông chờ hồi họp có lúc tim chị đập rộn ràng như trống làng đổ nhịp với niềm vui khó tả. Đúng như chị nói “cái gì đến sẽ đến” anh Bá chồng chưa cưới của chị đã về. Chiếc ba lô con cóc trên lưng với bộ quân phục bạc màu mang đôi dép cao su đã xuất hiện gần trước cổng làng. Cả làng ồ ra đón chào người con quê hương chiến thắng trở về. Chị Đạt nước mắt dàn dụa đón anh thỏa mãn ước mong với sự chờ đợi gần 10 năm trời đằng đẳng. Sau cuộc hội ngộ, hai gia đình anh chị bàn ngay đến việc làm lễ kết hôn. Theo phong tục địa phương nhờ các thầy phong thủy chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ cưới. Chị Đạt nhớ như in đó là ngày 18/8/1975.

    Nói đến đây thấy chị Đạt dừng lại với nét mặt trầm tư. Tôi đoán chị đang cố moi trong ký ức điều gì quan trọng của cuộc đời.

    Và đúng như nhận định, chị trầm tĩnh và nói tiếp: Dấu ấn cuộc đời không bao giờ quên đối với vợ chồng tôi hai cuộc chia ly và hai lần đoàn tụ.

    Chị nhắc lại cuộc chia ly thứ nhất chia tay nhau tiễn anh lên đường ra trận. Cuộc chia ly này cũng bịn rịn bao nỗi nhớ nhung. Nhưng cảm thấy nó nhẹ nhàng vì cả nước có phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” tất cả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc.

    Còn cuộc chia ly thứ hai là điều bất khả kháng. Tự mình dứt áo ra đi. Cuộc chia ly tự nguyện với nỗi đau như cắt ruột vì cảnh tan đàn xẻ nghé. Vì lý do kinh tế khó khăn, con đông quanh năm nghèo túng. Tôi đi dạy học, ở nhà đứa lớn trông đứa bé đói khổ túng thiếu trăm bề. Do đó qua nhiều lần trăn trở hai vợ chồng bàn nhau tìm lối thoát là quyết định chia gia đình làm 2. Ba đứa ở lại với mẹ, còn anh ấy dẫn hai đứa vào Nam. Chị Đạt nói đến đây anh Bá nói tiếp. Thưa 2 bác cuộc đấu tranh dằn vặt để tìm con đường thoát nghèo cũng rất cam go còn hơn thời kỳ đánh giặc. Nhiều đêm tính toán không thể chợp mắt được… lúc này tôi nghĩ đến lời dạy của Bác Hồ “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền”… phải ứng vạn biến. Những lời chỉ dẫn của Bác là phao cứu sinh lúc này. Đêm hôm ấy ngoài trời chưa sáng hẳn mảnh trăng lưỡi liềm đang treo lơ lửng đầu non. Nhìn vợ con đang chìm sâu trong giấc ngủ, anh thơ thẩn đi xuống bếp kéo hơi thuốc lào cho bớt căng thẳng. Nghe chồng thức dậy, vợ tôi cũng xuống theo để nấu cơm cho các con sáng dậy ăn đi học. Trong ánh lửa bập bùng anh Bá hỏi vợ một lần nữa. Chuyện ta bàn việc đưa con Thắm và thằng Dũng theo tôi vào Phú Yên trước để tìm cơ sở sản xuất, sau khi ổn định tôi ra đón em và ba con vào tiếp, em tính thế nào? Chị Đạt tay đẩy thanh củi, bếp lửa lại bùng lên và với giọng đượm buồn chị nói: Thôi phải vậy chứ có còn cách nào khác hở anh! Sự nhất trí cao nhưng nỗi lòng trĩu nặng. Thế là tất cả chuẩn bị cho cuộc chia ly. Anh dẫn theo đứa con gái đầu lòng Lê Thị Thắm mới 14 tuổi và đứa con trai thứ ba Lê Đình Dũng mới 11 tuổi lên đường vào Sơn Giang lập nghiệp theo sự chỉ dẫn của một người quen.

    Vào Sơn Giang ngày ấy đất rộng người thưa nơi vùng kinh tế mới của đồng bào TP. Nha Trang đang định cư dang dở.

    Anh hy vọng đây là vùng đất hứa – đất lành chim đậu so với đất Tĩnh Gia, Thanh Hóa quê anh sỏi đá khô cằn. Anh nhớ lời dạy của Bác Hồ và 2 câu thơ của nhà thơ Hoàng Trung Thông: “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người bắt sỏi đá cũng thành cơm”. Chính lời Bác dạy đã vực anh đứng vững trước mọi gian nan thử thách trong chiến đấu trước đây và làm kinh tế xóa đói giảm nghèo ngày nay.

    Người CCB hạ chiếc ba lô con cóc trong gian nhà tre lợp lá, gió lộng bốn phương do người quen nhường lại. Hai đứa trẻ đến ngỡ ngàng không hiểu nổi vì sao bố nó dẫn chúng nó vào đây nơi núi rừng hẻo lánh, đêm đêm nghe con chim rừng kêu đáng sợ này. Nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ chị em ở ngoài Bắc. Nhiều đêm chúng ứa lệ lưng tròng, có đêm chúng ngủ mê gọi mẹ và tên anh chị em nào Sang, Thịnh, Vượng ở tận phương Bắc xa xôi. 

    Anh Bá tìm cách động viên con và viết thơ động viên một nửa gia đình ngoài Bắc. Anh nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng. Được lãnh đạo địa phương giúp đỡ và thấy hoàn cảnh của gia đình anh ai cũng mủi lòng và khâm phục. Bà con tìm mọi các hỗ trợ để cho anh nhanh chóng ổn định cuộc sống. Bản thân anh lao động cật lực, ai thuê đâu làm đó, việc gì cũng làm theo sự chỉ dẫn của bà con bản địa. Anh cũng phát rẫy, khai hoang trồng ngô, trồng sắn, con gái đi cắt cỏ ngày cũng bán được 3-4.000đ. Do trời thương nên bố con anh được bình yên ít ốm đau, nhưng việc học hành các con vô cùng trở ngại. Anh đã làm giấy tờ để chuyển vợ con vào nhưng lúc đó thủ tục rất khó khăn. Đành phải chờ cho đến khi vợ anh về hưu 1994 anh mới ra đưa phần còn lại của gia đình vào Sơn Giang đoàn tụ. Bốn năm chia ly kẻ Bắc người Nam trong khung cảnh đất nước hòa bình thống nhất như gia đình anh Bá thật hiếm thấy. Đây cũng là sự dũng cảm hy sinh của người lính khi trở về đời thường. Tính đến nay gia đình anh Bá định cư trên đất Sơn Giang và mở mang sản xuất trên đất Sơn Thành đã 22 năm. 22 năm ấy người lính năm xưa đã học và làm theo tấm gương Bác Hồ đã lập nên một kỳ tích. Đối với mặt bằng xã hội về kinh tế không lớn lắm. Nhưng đối với một CCB từ bàn tay trắng trở thành triệu phú. Tự nó phát đi một tín hiệu diệu kỳ. Một tấm gương không chịu khuất phục đói nghèo, tìm cách đi lên xóa đói giảm nghèo làm giàu chính đáng bằng nội lực là một bài học quý.

    22 năm gia đình anh đã lập được trang trại ổn định sản xuất với 05 hồ nuôi cá 4000m2, 5000m2 vườn cây ăn quả, 2 ha mía, 2 ha sắn, 10.000m2 lúa nước 2 vụ, 1.000m2 trồng cỏ phục vụ chăn nuôi. Hiện nay có 10 con bò lai, mua được máy cày kéo phục vụ nông nghiệp trong gia đình. Tổng thu nhập hàng năm trên dưới 150 triệu. Đây là con số biết nói. Anh đã vẽ một “bức tranh” kinh tế tuyệt mỹ dưới chân núi HÒN NGANG. Mảnh ghép của “bức tranh” này bằng chất liệu tự nhiên là những mảng lúa, mía, ngô, khoai sắn, đồng cỏ, cây ăn quả, đàn gia cầm, gia súc và ao nuôi cá. Những chất kết dính của “bức tranh” sinh động này là bản chất truyền thống của anh bộ đội Cụ Hồ. Bức tranh được pha những gam màu đặc biệt bằng mồ hôi, nước mắt trong suốt chiều dài 22 năm. Người xem “bức tranh” đem lòng khâm phục và ngưỡng mộ bởi những gam màu đầy gợi cảm gây xúc động lòng người. Trong đó có những gam màu được pha bằng nước mắt, những ngày chia ly và đoàn tụ.

    Chính “bức tranh” này nó góp phần tô thắm vùng kinh tế phía tây tỉnh Phú Yên thêm trù phú.

    Người lính Trường Sơn năm xưa, cô giáo viên xứ Thanh năm nào và các con của anh chị đã lao động quên mình sáng tạo nên một “bức tranh” vô cùng sống động.

    Ở cái tuổi xưa nay hiếm, nay anh vẫn tích cực tham gia công tác xã hội, giúp đồng đội, bà con vươn lên trong cuộc sống. Anh được tín nhiệm bầu vào BCH CCB nhiều năm liền. Hiện nay phó chủ tịch Hội người cao tuổi xã Sơn Giang. Một con người nguyện sống suốt đời, học tập và làm theo gương Bác Hồ vĩ đại.

     

     

                                                    Nguyễn Đắc Tấn

                              CCB Phường 8 – 198 Lê Thành Phương

                                 Phường 8, TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

                                                 ĐT: 098 339 8319