NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
Truyện Ký: Phạm Huy Liệu
Cuối năm 1967, QK3 tổ chức lớp đào tạo đài trưởng ba tháng cấp tốc. Nên mời chuyên gia cao cấp về nói chuyện.
Theo tin tình báo ta, trong chiến tranh chống Pháp, duy có đài 15w của sư đoàn 308 bị tình báo thông tin Pháp dùng máy định vị phát hiện. Bởi sư đoàn là quả đấm thép của quân đội ta, nên chúng tập trung theo dõi. Để biết sư đoàn đang đóng quân ở đâu mà đối phó. Chủ yếu do đài có một báo vụ viên cố tật (phát tín hỏng một chữ). Khi đồng chí này lên máy phát sóng, là nó biết ngay đài của sư đoàn 308.
Nắm được tin như vậy. Ta đã tương kế tựu kế, cho đồng chí báo vụ này ở lại Ninh Bình, hàng ngày lên máy bình thường với Bộ Quốc Phòng. Còn sư đoàn bí mật hành quân lên Điện Biên, mà quân đội Pháp vẫn yên trí tưởng sư 308, vẫn cố thủ bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ…
Trong chống Mỹ chủ yếu lộ anten, chứ chưa có đài nào bị lộ do sóng.
Đại uý Thái Bá Chương là chuyên gia giỏi về vô tuyến điện của bộ quốc phòng, nói chuyện (gọi là giảng bài) hai ngày liền mà mọi người cứ há hốc mồm nghe không chán. Ông giới thiệu bài này ông soạn để nói chuyện với lớp cán bộ cao cấp của Bộ Quốc Phòng, mà vinh dự lớp đài trưởng QK3 được duyệt giáo án. Rồi dặn dò chúng tôi:
- Các đồng chí hãy nhớ kỹ, để áp dụng vào thực tế chiến đấu ở đơn vị, cho đúng những gì tôi giới thiệu chi tiết hôm nay.
Chủ yếu là cách mắc anten hai râu mà ông đã cải tiến, dấu và nguỵ trang anten hết mức có thể...
Để đánh giá chính xác kết quả học tập. Đơn vị tổ chức hành quân dã ngoại một tuần. Tôi vẫn đeo máy thu phát 102E đằng sau, ba lô đằng trước như thời học ở lớp báo vụ.
Đơn vị hành quân, đi vòng trên đê sông Hồng, qua bến đò Yên Lệnh, rẽ trái đến Duy Tiên. Vào nghỉ nhà dân, nhờ đào hầm đặt máy VTD ngoài vườn, thực hành bắt liên lạc. Rồi đến Thanh Liêm nghỉ gần nông trường Ba Sao. Nơi đây là trại cải tạo những cô gái mại dâm. Nên cấm mọi người tuyệt đối không ai được sang chơi bên đó. Hôm sau vượt núi sang Kim Bôi, Lương Sơn Hòa Bình, tiếp tục lên máy bắt liên lạc, thu phát báo.
Sáng sớm xuyên rừng Lạc Thuỷ, mỗi tổ đài theo một hướng, đến nơi định sẵn đặt máy bắt liên lạc. Chủ yếu chọn hướng mắc anten, xem công suất máy phát đạt được QSA mấy.
Suốt ngày vừa hành quân xuyên rừng núi, vừa bắt liên lạc. Toàn thân rã rời, chân run, miệng thở. Rửa ráy qua loa rồi mặc quần áo sạch vào đi ăn cơm, cho đỡ đói. Sau đó thay nhau lên máy thu phát báo cho tới sáng, rồi quay về Hà Nam.
Chỉ còn 2 ngày nữa sẽ kết thúc đợt học. Đến Bình Lục thì thực sự mệt rã rời. Hôm sau cuốn gói về trường...
Khi đến chỗ tập trung, tôi ra cân lại, thì bị sút 3 kg là diện ít nhất trường. Còn người nhiều nhất hao 7 kg trọng lượng. (Trước khi đi đã cân và ghi vào sổ để theo giõi). Bởi một tuần hành quân, thực hành liên lạc lần này, cực kì vất vả, so với mọi khóa… để làm sao cho phù hợp với thực tế của chiến trường.
Đầu tháng 3/1968 ra trường, tôi tốt nghiệp đạt tốp đầu, được phong trung sỹ, lại về D1 cao xạ đang bảo vệ cầu Lèn Thanh Hoá. Cuối tháng, đơn vị ra bảo vệ thị xã Ninh Bình. Đóng quân ở cầu Yên xã Ninh Khánh, Gia Khánh, thì nhận lệnh đi B gấp bảo vệ Tây Thành Huế. Đơn vị được ăn bồi dưỡng chế độ đi B vừa đúng 10 ngày (còn các đơn vị đi B được bồi dưỡng 3 tháng).
Đài có tôi và anh Khoa đều là đài trưởng. Đáng lẽ chỉ cần một người thôi. Nhưng anh Khoa đề nghị:
- Báo cáo thủ trưởng! Muốn tổ đài hoàn thành tốt nhiệm vụ, phải cho đồng chí Liệu đi cùng.
Như vậy cả hai cùng đi, mà chế độ chỉ có một... Nên tôi không được tiêu chuẩn đài trưởng như súng ngắn, xà cột, đèn pin… mà được khẩu AK và làm tất cả mọi việc của đài trưởng.
Đơn vị hành quân khoảng 5 giờ chiều, với lá cờ Giải Phóng nửa xanh nửa đỏ, phần phật tung bay trước gió, mà thấy lòng xốn xang kiêu hãnh lạ kỳ. Xe đi theo đường mòn mà sau gọi là đường Hồ Chí Minh. Chạy dọc đất Thanh Hoá, rồi ngủ giữa rừng. Hôm sau đi Tây Hiếu Nghệ An, nghỉ tại nông trường. Lần đầu nhìn thấy cây cà phê hoa trắng lá xanh mướt, trông mà thấy lòng xốn xang. Rồi tới Hà Tĩnh. Giờ mới cảm nhận được mình đang đi trên dẫy Trường Sơn. Dọc đường bom Mỹ đánh phá tan hoang, đất bị cày xới nham nhở, đỏ lòm, rừng cây xơ xác đến thảm hại.
Cứ thế xuyên rừng núi sang Quảng Bình, Tới khe Tang, thì nghe báo phía trước tắc đường 20, xe pháo nằm lại chờ công binh và TNXP sửa đường. Mấy đứa rủ nhau vào hang đá ngồi nghỉ, ai ngờ ngủ quên, khi nghe tiếng nói lao xao mới giật mình tỉnh dậy, vội chạy ra, thì mọi người đã lên xe đông đủ, chỉ còn hai thằng, tôi và Hưng quê ở Đông Tân Đông Hưng Thái Bình. Hỏi không ai biết hai đứa đi đâu. Tý nữa thì bị bỏ lại sẽ thành lính B quay…
Hành quân mấy ngày xuyên đất Quảng Bình. Chính ở rừng nơi đây, tôi gặp những đàn ruồi vàng nhiều vô kể. Nó cứ bu vào đầu, vào mặt, mũi, chân, tay... khiếp ghê. Nếu ai vô tình đập chết một con, là cả đàn xông vào đốt, thì có trời mới cứu nổi. Người sẽ sưng vù như con trâu. Nặng quá có thể toi đời. Nên khi nó bu đầy mặt, cứ mặc kệ nó, hãy nhẹ nhàng bẻ cành lá xua đi, tránh xa dần mới thoát.
Hết đất Quảng Bình, đơn vị vượt cổng Trời, đêm có trăng nên nhìn rõ núi đồi trọc lóc, hố bom chồng hố bom, không còn cây nào sống nổi, chỉ còn những gốc cây gẫy gập, cháy trụi... Mới thấy nơi đây ác liệt đến chừng nào. Nếu xe đang đi mà máy bay đến giữa nơi trống trải, vô cùng ác liệt này, dễ làm mồi cho lũ quạ sắt như chơi.
Tối nay không có máy bay quần đảo, thế là may mắn rồi. Sang qua cổng Trời là tỉnh Khăm Muộn, đất Lào, được an toàn vì nó chỉ đánh phá trên đất Việt Nam thôi.
Rừng Lào vẫn đẹp nguyên, những cây gỗ to cao vút, cành lá xum xuê che kín cả bầu trời, ở trong rừng đi lại máy bay không phát hiện được.
Đơn vị đến Lào, cũng là lúc Mỹ nguỵ chiếm lại Huế. Chúng tôi vẫn hưởng chế độ B nhưng ở lại phối thuộc chiến đấu với đoàn 559 trên dọc dẫy núi Trường Sơn. (Tức là gia đình vẫn lĩnh chế độ trợ cấp đi B 5/đồng một tháng. Còn chúng tôi không có tiền phụ cấp tiêu vặt hàng tháng như ngoài Bắc).
Ở Khăm Muộn ít ngày thì có lệnh kéo pháo vào bảo vệ cua tay áo chữ A, ngầm Tà Nê, đèo Phu La Nhích... Sau đó chuyển về ngầm Thà Khống, bản Đông, Xa-Va-Na-Khẹt.
Chiều mồng 10/5/1968 có lệnh cơ động vào bảo vệ ngầm Bạc. Khoảng 5 giờ chúng tôi khiêng máy móc quân tư trang ra bãi đỗ xe ở gần đường tuyến. Lúc này ngoài đường máy bay vừa đánh phá, rải bom cháy lập loè, như lũ ma trơi... mùi khói bay khét lẹt.
Qua bản Đông một đoạn, đến gần ngầm bản Keng, thấy ven đường xơ xác không còn bóng cây, thế này mà máy bay đến thì chả biết ẩn vào đâu. Tất cả là do số phận may rủi mà thôi…
Khi đến đầu ngầm được biết:
- Hôm nay mới mưa nên nước ngầm ngập sâu. Xe phải đều ga chắc lái kẻo chết máy gữa ngầm, tắc đường thì nguy hiểm lắm.
Xe từ từ xuống ngầm, anh Thuấn hôm nay lái tuyệt quá, đã vượt ngầm một cách êm ru. Đến bên kia ngầm phía bờ Nam, thấy nhiều cây to tưởng ngon lành, nên cho xe dừng để nghỉ, (ai ngờ nó là cái bẫy của không quân Mỹ, chúng lừa những ai mới vào đây lần đầu, nghĩ là an toàn. Nhưng chính chỗ này, máy bay chúng thường xuyên thả bom bi, mìn lá dầy đặc, ai đi vào dính mìn lá, nổ nát hết bàn chân, sẽ bị tháo khớp ngay)… Mọi người xuống chờ xe kéo pháo rồi cùng đi.
Vừa lúc đó nghe thông báo:
- Xe pháo đang chết máy giữa ngầm, anh em D bộ xuống hỗ trợ đẩy cho xe nổ máy ngay.
Chúng tôi vội vã xuống ngầm, gần đến chỗ xe chết máy, thì may sao xe đã nổ giòn, đang lấy đà kéo pháo. Mọi người mau chóng lên bờ về xe đi ngay, chứ ở đây lâu không được.
Đến chỗ xe đỗ gọi nhau, bỗng nghe trên đầu ba tiếng nổ: bụp...bụp... bụp. Thì ra là ba quả bom bi mẹ, tách vỏ, thả hàng trăm quả bom bi con hình cầu rơi xuống, tiếng nổ giòn tan như ngô rang...
Tôi chỉ nghe có thế!... Khi mở mắt ra không thấy còn ai. Mọi người đã chạy thoát khỏi khu vực bom bi vừa đánh. Lúc này thấy môi mằn mặn, đưa tay lên sờ, thì môi dưới rách đôi. Vội lấy khăn mặt băng lại cho đỡ chẩy máu. Còn ở lưng thấy nong nóng, nhưng không tự băng được, vết thương chột ở mông, ở cổ chân vẫn đang rỉ máu, đành chờ mọi người quay lại băng giúp. Tôi bò ra chỗ xe ô tô, định ẩn tạm bên lốp, thì thấy mùi xăng nồng nặc. Như vậy mảnh bom đã xé rách thùng xăng, không thể ở gần nơi xăng chẩy, rất nguy hiểm. Cần phải tránh ra xa chỗ xe đỗ, rồi nằm nghiêng người cho vết thương cao hơn tim, chắc sẽ đỡ chẩy máu.
Một lúc sau mọi người quay lại, thấy bị thương vội băng bó cho tôi, có hai lỗ xuyên vào ngực trái phía sau lưng chắc chỉ cách tim 1-2 cm, máu phụt ra thành hai vòi theo nhịp đập của tim.
Băng bó xong kiểm tra quân số thấy thiếu anh Phong cơ yếu! Mọi người đi dọc đường tuyến tìm vẫn không thấy anh đâu. Khi quay lại để ý phía bìa rừng giống có người nằm. Đến nơi thì là anh Phong bị bom xuyên vào đùi đứt động mạch, tìm thấy đã tắt thở! (Anh Phong quê Việt Trì Phú Thọ).
Mấy người bị thương được đưa vào trạm phẫu binh trạm 34 kịp thời sơ cứu. Người nhẹ ở lại rồi về đơn vị. Còn tôi, Lã Xuân Định và anh Lâm trợ lý hậu cần chuyển ra viện đoàn 559.
Đến bãi xe đợi, gần 5 giờ chiều có mấy xe tới... mỗi người lên một xe, chắc sợ máy bay oanh tạc, thì chỉ bị một người thôi.
Tôi ngồi trong thùng xe ngắm giời, ngắm đất, ngắm núi rừng Lào sao mà đẹp tuyệt. Rừng cây xanh thẳm, cao vút mênh mông. Khi xe trên cao nhìn xuống chân núi, thấy mây trắng bồng bềnh, ngỡ mình đang đi trên mây, thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện, mới thích làm sao…
Ra đến đoạn đường trống trải, cũng là lúc máy bay vừa thả bom cháy hai bên đường, khói bay mù mịt. Lửa cháy lèm lèm ngay những bụi cây. Bỗng nghe tiếng bụp, xe kịp đánh lái núp vào lùm cây bên đường. Đèn dù bật sáng, thằng L19 vè vè bay rất thấp, nhưng xe đã ẩn kín dưới lùm cây. Nó lượn vòng vòng không thấy gì, một hồi rồi bỏ đi nơi khác.
Vừa im ắng, anh lái xe ngó đầu ra nghe ngóng, liền bảo:
- Ta đi được rồi đồng chí ạ…
Ra khỏi nơi ẩn nấp, đang chạy bon bon, bỗng đánh hự một cái, người xô ngược lên, thì một loạt 20 ly nổ toé lửa nơi đầu xe. Xe lại rú ga lao vút, loạt.
Phạm Huy Liệu
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn