CHUYỆN VỀ ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG
Ký
Mưa rừng Trường Sơn trút xuống như xối nước, biến con đường chiến lược qua trọng điểm đèo Khỉ thành một bãi sình lầy đỏ quạch. Tiếng bom rải thảm của máy bay B-52 vừa dứt, khói khét lẹt của bom nổ chậm và mảnh đạn găm vào vách đá vẫn còn bảng lảng trộn cùng màn sương mù đặc quánh.
Trong hầm chỉ huy tạm bợ được dựng từ những thân cây gỗ và rầm đất, Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc gạt vội dòng nước mưa pha lẫn bùn đất đang chảy ròng ròng trên mặt. Anh nhìn chiếc đồng hồ đeo tay đã nứt mặt kính, kim chỉ đúng hai giờ sáng.
Đơn vị của anh – Đại đội 439 Thanh niên xung phong – có nhiệm vụ bằng mọi giá phải thông đường trước năm giờ sáng để đoàn xe vận tải của binh trạm chở nhu yếu phẩm và đạn dược vào Nam kịp qua trọng điểm trước khi mặt trời lên.
Lúc này, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn cam go nhất, và mỗi mét đường thông suốt ở Trường Sơn đều phải đổi bằng mồ hôi, thậm chí là máu của những chàng trai, cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Anh Ngọc bước ra khỏi hầm. Vóc dáng anh cao gầy nhưng đôi vai rộng vững chãi, nước da ngăm đen vì sương gió và những trận sốt rét ác liệt nơi rừng thiêng nước độc. Trên tay anh là chiếc đèn pin đã bọc vải đỏ để giảm độ sáng, tránh sự phát hiện của máy bay địch. Tiếng sấm chớp của thiên nhiên hòa cùng tiếng gầm rú xa xăm của máy bay AC-130 tạo nên một không gian nghẹt thở. Tất cả các trung đội nghe lệnh!
Trung đội 1 cào bùn, gạt đá sạt lở. Trung đội 2 và 3 nhanh chóng vác đá hộc từ vách núi xuống lấp hố bom!, giọng anh Ngọc trầm, ấm nhưng đanh thép, vang lên át cả tiếng mưa gió.
Ngay lập tức, hàng chục bóng áo xanh TNXP lao ra mặt đường. Dưới ánh sáng tù mù của những quả pháo sáng đỏ lòm do địch thả xa xa, họ dốc sức làm việc.
Cuộc sống ở chiến trường thiếu thốn đủ bề. Lương thực chỉ có gạo mốc, rau rừng và muối . Nhiều chiến sĩ bị sốt rét rừng hành hạ đến rụng tóc, da xanh xao như lá chuối non. Thế nhưng, không một tiếng than vãn. Người ta chỉ nghe thấy tiếng cuốc xẻng va vào đá chan chát và tiếng hò nhau kéo những thân cây lớn chắn ngang đường. Đang lúc công việc khẩn trương nhất, một tiếng rít xé lòng lao đến.
Anh Ngọc, bằng kinh nghiệm xương máu của một người đã gắn bó với Trường Sơn ngót hai nhiệm kỳ TNXP, lập tức nằm rạp xuống đất và hét lớn: Bom tọa độ! Nằm xuống! Nằm xuống hết! Một loạt tiếng nổ chát chúa vang lên liên tiếp. Đất đá, mảnh bom bắn tung tóe. Cả một vùng đèo Khỉ rung chuyển dữ dội. Khi khói bom vừa tan, anh Ngọc là người đầu tiên nhỏm dậy. Không màng đến vết thương ở cánh tay trái do mảnh đá văng trúng đang chảy máu, anh lao ngay về phía trận địa. Anh chạy đến từng hố bom, miệng gọi tên đồng đội:
- Thanh đâu? Bình đâu?
- Có ai sao không?
Ở hố bom phía trước, hai chiến sĩ trẻ đang bị đất đá vùi lấp nửa người. Anh Ngọc lao vào, dùng đôi bàn tay trần cào bới lớp đất đá sắc nhọn để kéo họ lên.
Nhìn thấy cánh tay Đại đội trưởng rách toạc, máu nhuộm đỏ cả ống áo, chiến sĩ trẻ rơm rớm nước mắt:
- Anh Ngọc, anh bị thương rồi, để tụi em tự lên!
Anh Ngọc vừa thở dốc vừa cười, nụ cười hiền hậu làm rạng rỡ cả khuôn mặt lấm lem bùn đất: Mảnh sành cào thôi, ăn thua gì! Còn đi lại được là còn chiến đấu được. Cố lên các em!
Sự gan dạ và bình tĩnh của người chỉ huy như một liều thuốc tinh thần cực mạnh. Nó đẩy lùi mọi nỗi sợ hãi trong lòng những chiến sĩ trẻ vốn mới rời ghế nhà trường chưa lâu. Họ nhìn vào người anh cả Nguyễn Ngọc mà tự răn mình không được phép yếu đuối. Không chỉ dũng cảm trong lửa đạn, Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc khiến toàn đơn vị nể phục bởi tình thương yêu đồng đội sâu sắc và sự gương mẫu trong cuộc sống hằng ngày. Cái đói, cái rét của Trường Sơn luôn là kẻ thù đáng sợ không kém gì bom đạn. Có những đợt cao điểm bị địch đánh phá ác liệt, tuyến đường tiếp tế bị cắt đứt suốt hai tuần liền. Cả đại đội phải ăn cháo loãng nấu với rau tàu bay và củ mài rừng.
Trong một lần đi kiểm tra các lán trại của nữ chiến sĩ, anh Ngọc phát hiệnnnhiều chị em phải dùng lá chuối khô lót nằm vì thiếu chăn ấm giữa cái lạnh thấu xương của đêm rừng. Ngay ngày hôm sau, anh lặng lẽ đem chiếc chăn bông duynnhất của mình – kỷ vật mà mẹ anh gom góp bông vải ở quê nhà gửi vào – cắt làm ba phần để nhường cho lán của các nữ chiến sĩ yếu sương nhất. Bản thân anh chỉ đắp chiếc áo tơi lá và một tấm vải bạt rách. Khi nhà bếp phát hiện và trách anh sao lại chịu khổ như vậy, anh Ngọc chỉ ôn tồn bảo: Họ là con gái, ở nhà được bố mẹ cưng chiều, vào đây chịu bao thiệt thòi. Mình là đàn ông, lại là chỉ huy, chịu lạnh một chút có sao đâu. Anh em chiến sĩ có ấm lòng thì đường mới thông, xe mới chạy được. Có lần, chiến sĩ nuôi quân tìm được một ít gạo nếp ngon và nấu riêng cho anh Ngọc một bát cháo nhỏ vì thấy anh vừa trải qua một trận sốt rét thập tử nhất sinh, người gầy rộc đi. Bưng bát cháo thơm phức trên tay, anh Ngọc không ăn. Anh mang ngay xuống lán y tế, múc từng thìa bón cho một chiến sĩ trẻ đang nằm mê man vì vết thương nhiễm trùng. Anh bảo: Cậu ấy cần sức để hồi phục hơn tôi. Tôi ăn rau rừng cũng quen bụng rồi.
Chính những hành động nhỏ bé nhưng tràn đầy tính nhân văn ấy đã xây dựng nên một thứ uy tín tuyệt đối cho người Đại đội trưởng. Ở đại đội 439, mệnh lệnh của anh Ngọc không đơn thuần là lệnh từ cấp trên, mà đó là lời hiệu triệu từ một người anh trai ruột thịt. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nể phục anh không phải vì cấp bậc, mà vì anh luôn là người đứng mũi chịu sào, nhường sự sống và sự thoải mái cho đồng đội, nhận về mình những phần gian khổ, nguy hiểm nhất.
Đồng hồ điểm bốn giờ ba mươi phút sáng. Cơn mưa rừng bắt đầu dứt, nhường chỗ cho những làn gió lạnh buốt tràn về. Con đường qua đèo Khỉ sau hàng tiếng đồng hồ vật lộn với đất đá cuối cùng đã phẳng phiu trở lại. Những chiếc hố bom sâu hoắm đã được lấp đầy bằng mồ hôi và cả máu của những người con quả cảm. Từ phía
khúc cua bên kia sườn núi, ánh đèn gầm của chiếc xe tải đầu tiên trong đoàn xe vận tải xuất hiện. Tiếng động cơ xình xịch vang vọng núi rừng như một khúc nhạc chiến thắng. Anh Ngọc đứng bên mép đường, tay cầm chiếc cờ lệnh màu đỏ, hiên ngang vẫy chào đoàn xe. Các chiến sĩ TNXP đứng dọc hai bên đường, khuôn mặt mệt mỏi nhưng ánh mắt lấp lánh niềm vui khôn tả. Họ hò reo, vẫy tay chào những người lính lái xe.
Khi chiếc xe cuối cùng đi qua an toàn, mặt trời cũng bắt đầu ló dạng sau những đỉnh núi mờ sương, hắt những tia nắng ấm áp đầu tiên xuống đại ngàn Trường Sơn. Lúc này, trận sốt rét rừng lại ập đến, người anh Ngọc run lên cầm cập, hai hàm răng đánh vào nhau canh cách. Anh ngã quỵ xuống bên vệ đường. Ngay lập tức, hàng chục chiến sĩ lao đến, đỡ lấy anh. Người cởi áo khoác đắp cho anh, người vội vã nhóm lửa, người lo lắng gọi y tá.
Nhìn những gương mặt trẻ măng, lo lắng vây quanh mình, anh Ngọc nở một nụ cười yếu ớt, thều thào: Xe qua hết rồi... tốt quá... Các em... về lán nghỉ ngơi đi... Nhiều năm tháng đã trôi qua, cuộc chiến tranh khốc liệt ngày nào giờ đã lùi xa vào quá khứ. Những con đường máu lửa năm xưa nay đã được thay thế bằng những dải nhựa đại lộ Hồ Chí Minh bằng phẳng, xanh tươi. Thế nhưng, trong ký ức của những cựu TNXP đại đội 439 năm ấy, hình ảnh người Đại đội trưởng Nguyễn Ngọc gan dạ, kiên cường nhưng vô cùng bao dung, nhân hậu vẫn mãi là một biểu tượng đẹp đẽ. Anh chính là ngọn lửa sưởi ấm lòng họ qua những đêm đông Trường Sơn buốt giá, là điểm tựa tinh thần vững chắc để họ sống, chiến đấu và cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc và cho những con đường./
Bùi Văn Hoằng
Hội viên hội văn học nghệ thuật Trường Sơn