Giới thiệu cuốn sách “Thảo thơm quê nhà” của Nguyễn Bổng
GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH “THẢO THƠM QUÊ NHÀ” CỦA NGUYỄN BỔNG
Sinh năm 1951 – Mười bảy tuổi chàng thanh niên nơi “Vùng biển sáng” – Hải Tây, Hải Hậu, Nam Định - Nguyễn Bổng xung phong lên đường nhập ngũ. Trong 8 năm quân ngũ Nguyễn Bổng từng có mặt ở những chiến trường gian khổ nhất và cũng ác liệt nhất… Nơi ấy đã “ban tặng” cho anh những vết thương ở đầu; ở ngực; ở vai; ở bụng; ở cẳng chân và cả chứng phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin. Những thứ được “ban tặng” quái ác kia đã kìm hãm bước đường lẽ ra rất thênh thang để Nguyễn Bổng tiếp tục cống hiến cho Quân đội… Tạm biệt con đưởng thênh thang ấy – Nguyễn Bổng chọn cho mình một hướng đi mới, một sự nghiệp mới gắn với “nơi chôn nhau cắt rốn” của mình. Phục viên năm 1976 về địa phương anh hăng hái tham gia công tác xã hội, chỉ sau 2 năm - năm 1978 Nguyễn Bổng đã được giao phó chức danh Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã và chỉ 1 năm sau – Năm 1979 anh đã là Chủ tịch UBND xã (Nguyễn Bổng là người giữ ngôi vị Chủ tịch xã trẻ nhất của huyện Hải Hậu – 28 tuổi). Sau 6 năm đảm nhiệm chức danh Chủ tịch UBND xã, từ năm 1985 đến năm 2010 (khi nghỉ hưu) Nguyễn Bổng đã có 24 năm liền đảm nhiệm chức danh Bí thư Đảng ủy xã. Tổng quan lại – Nơi “vùng biển sáng” Hải Hậu, Nam Định, Nguyễn Bổng đoạt 2 ngôi vị - Chủ tịch xã trẻ nhất và có thời gian dài nhất liên tục đứng trong cấp ủy, cán bộ chủ chốt của cấp xã…
Sự nghiệp của Nguyễn Bổng là thế… Anh đâu phải là người “hành nghề Văn chương” nhưng với anh – anh yêu và say mê Văn chương lắm lắm. Ngay từ những tháng năm nơi chiến trường đánh giặc cho đến chuỗi thời gian dài dằng dặc giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt của địa phương và cho đến cả hôm nay, cái “yêu và say mê Văn chương” cứ “phừng phừng” trong Nguyễn Bổng… Năm 1998 khi còn đang tham gia công tác tại địa phương (Bí thư Đảng ủy xã) Nguyễn Bổng đã được mời vào tham gia là hội viên Hội VHNT tỉnh Nam Định. Và trước đây gần 10 năm khi Hội VHNT Trường Sơn ra đời anh cũng là một trong số những thành viên sáng lập của Hội. Không dừng lại ở việc là hội viên tích cực và xuất sắc của 2 đơn vị VHNT nói trên, trong suốt chặng đường từ thời binh nghiệp cho đến ngày nay Nguyễn Bổng còn là cộng tác viên của một số Báo và Tạp chí Trung ương và địa phương, anh đã có trên 300 tác phẩm đăng in trên các ấn phẩm Báo chí, tham dự nhiều cuộc thi viết của các Báo. Có 9 truyện của anh được đọc trong chuyên mục “Đọc truyện đêm khuya” của Đài tiếng nói Việt Nam như: Lãi Quan Viên; Của Thiên trả Địa; Tiếng thời gian; Con của con người. Xóm Đỉa...
Nguyễn Bổng đã xuất bản 2 tập thơ; 4 tập truyện ngắn; 2 tập tản văn và bút ký. Có hàng chục tác phẩm in chung của các Hội VHNT các tỉnh và Liên hiệp Văn học toàn quốc, anh từng được nhận Bằng khen của Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương kèm theo hiện vật cho tác phẩm đoạt giải nhất “Người phụ nữ xứ Thịnh Long”; Nhận 32 giải thưởng Báo chí, VHNT từ các cuộc thi viết của các báo TW và địa phương; Từng là Chiến sỹ thi đua 10 năm liền của tỉnh Nam Định; Từng được Bộ văn hóa tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp VHNT... Trong hoạt động VHNT Trường Sơn: Nguyễn Bổng tham dự 3/3 Trại viết do Hội VHNT Trường Sơn tổ chức; tham gia 3 cuộc thi viết do Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh Việt Nam tổ chức. Trong những hoạt động này anh đều được nhận giải thưởng tác phẩm xuất sắc và các giải Nhất, Nhì, Ba.
Kho tàng sản phẩm VHNT của Nguyễn Bổng không ít về số lượng và cũng không kém về chất lượng bởi nó mang nét riêng “rất Nguyễn Bổng”… Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau nên anh không mấy quan tâm đến cái gọi là “chỉ tiêu đầu sách” – Đến thời điểm này, số lượng đầu sách xuất bản của anh mới chỉ dừng ở khung 1 con số (dưới 10 cuốn). Với Nguyễn Bổng – Anh cho đấy cũng đã nhiều rồi…
Để minh chứng cho đôi dòng giới thiệu trên. Thông qua trang Thông tin Điện tử Trường Sơn. Văn học Nghệ thuật Trường Sơn xin trân trọng lần lượt giới thiệu cùng bạn đọc 49 bài viết trong tập tản văn có tựa đề “Thảo thơm quê nhà”. Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam năm 2021 của hội viên Hội VHNT Trường Sơn - Nhà văn Nguyễn Bổng.
Phạm Sinh
Hội VHNT Trường Sơn

RU HỒN TA VỚI “THẢO THƠM QUÊ NHÀ”
Nguyễn Văn Nhượng
Nhà giáo
Hội viên VHNT Nam Định
Cuộc đời con người dẫu dài hỏi có mấy ai qua được cái hữu hạn của trăm năm. Chúng ta băng qua trần thế một lần. Một lần và mãi mãi... Bởi vậy, hành trình sống là hành trình lựa chọn và chiêm nghiệm lẽ sống để tận hưởng những niềm vui của cái hiện hữu, một đi không trở lại ấy...Ta qua cõi nhân sinh với bao nhiêu xen lấn dạt xô của những vui buồn, được mất, hơn thua; của những sướng khổ, thành bại, nhục vinh. Sự xen lấn dạt xô làm nên những cuộc đời.
Và hẳn nếu bạn đã, đang và sẽ nỗ lực để đi về phía của những chân trời hạnh phúc thì có lẽ trước tiên, hãy bắt đầu bằng việc nếm trải tất cả những dư vị ngọt bùi đắng cay của cuộc đời. Sự nếm trải mang đến những nghiệm suy đầy ý nghĩa. Và rồi, ngay cả niềm hạnh phúc hay khổ đau, được mất của kiếp người cũng còn là tùy duyên, tùy ở sự cảm nhận của mỗi người. Có được những tiện nghi đủ đầy, sôi động, náo nhiệt của thị thành hẳn sẽ dễ mất đi cái tĩnh lặng yên ả thanh bình vốn có nơi làng quê thôn dã. Việc lựa chọn nghề nghiệp, không gian sống, có đôi khi là định mệnh, nhưng con người thì vẫn luôn khát khao vươn lên để đổi thay, để sống tốt hơn - sống một đời hạnh phúc với tất cả ý nghĩa sâu sắc của nó vậy.
Tập tản văn “THẢO THƠM QUÊ NHÀ” của tác giả Nguyễn Bổng chứa gần 50 tác phẩm trải dài từ khoảng không gian, thời gian đằng đẵng những thăng trầm (từ hơn 30 năm đất nước sau chiến tranh) đã mang tặng cho ta những dư vị, những ấn tượng cảm xúc thật khó quên.
Năm tháng đi qua, biển bồi sông lấp, có biết bao đổi thay nền nếp, tư duy...hôm nay chúng ta sẽ được thưởng lãm tập tản văn chứa một vốn sống khá dày dặn. Nó nhất định không phải chỉ để nhìn để ngắm, để kiểm đếm số trang, số bài, hay khổ giấy in... mà hẳn nó cần phải được đọc một cách nhâm nhi, đọc chầm chậm, để cảm nhận, để ngẫm ngợi sâu xa, bằng một sự tế vi của một tâm hồn biết rung động.
Những trang văn anh viết, thoát ra từ những chắt chiu gập ghềnh muôn nẻo của cuộc đời chân mộc, thảo thơm, có nước mắt mồ hôi, có tảo tần lam lũ, có mặn mòi nồng thắm, có suy tư chiêm nghiệm sâu sắc, thấm thía...Chỉ có thể định tính mà không thể định lượng. Với sự từng trải rất sâu, rất rộng mà không phải tác giả nào cũng may mắn có được ấy, văn anh kết tinh từ chính những trải nghiệm nổi chìm gian nan của cuộc đời; từ chính những quan sát tinh tế chắt lọc trong hương đất tình người, trong ký ức vừa đẹp đẽ tươi ròng nhựa sống, vừa tràn trề ẩn ức nhân sinh.
Sinh ra và lớn lên từ làng quê lam lũ nghèo khó, như bao trai tráng thời ấy, anh sống chan hòa, ngụp lặn giữa thế giới mát lành của đồng, của sông và của bể. Trong từng nhịp đập trái tim, từng hơi thở của mình, anh hít hà, thâu góp được cái khí trời nồng nàn của đồng đất quê thanh bình, của xứ sở quần anh tụ hội. Gian khổ thế đồng thời cũng là cơ duyên vậy. Khi đất nước gọi, anh cầm súng lên đường, chiến đấu giữa những lằn ranh khốc liệt nhất của chiến tranh nơi rừng thiêng nước độc. May mắn trở về, anh bắt đầu lại với cái nơi mình đã bắt đầu ra đi bằng hành trình “xắn quần bì bõm lội ruộng” với nông dân. Người ta thật không ai có thể mường tượng được rằng, đằng sau một người lính, một ông cán bộ gần chục năm làm chủ tịch, hai nhăm năm làm bí thư ở xã, từng bị khai trừ và được kết nạp lại vào Đảng, từng kinh qua bao nhiêu chức vụ, từng quyết liệt đấu tranh cho bao nhiêu lẽ đúng sai, nghịch lý, tréo ngoe của một thời ấu trĩ; đằng sau “làn da ngăm rám nắng, cả thân hình nồng thở vị xa xăm” (Tế Hanh) ấy, lại là một lão nông đích thực, một người được đất mẹ sinh ra và rồi lại chi chút cho một đời thảo thơm, lao tâm khổ tứ cần mẫn siêng năng, trả công sinh thành cho đất, để đất mẹ tái sinh nên những mùa vàng. Cái bàn tay tảo tần, lam lũ chắt chiu, khéo léo tài hoa của anh đã khơi thông những mạch đất đang sục sôi, không bao giờ ngơi nghỉ, cho những dòng sông quê mát trong bốn mùa, chảy trôi tưới tắm ruộng đồng, cho những mùa màng tốt tươi, những giàn gấc đỏ au núc nỉu vườn nhà, cho những rặng cau xanh um trĩu quả nơi đầu thôn cuối ngõ. Và cũng bàn tay ấy đã mang đến cho ta những trang văn đẫm đời.
Tản văn của anh chứa đựng cả một kho báu sống động về ẩm thực, về nông cụ, về dược học, về văn hóa vật chất và tinh thần của miền quê, nơi anh sinh ra....Nhiều người trong chúng ta thường từng trải qua một thời đất nước còn gian khó, khi tận hưởng cuộc sống đủ đầy tất thảy đều nhắc nhớ nhau về những kí ức xa xăm. Tác giả Nguyễn Bổng đưa ta ngược về, sống lại những cảm giác, những tình cảm ấm áp qua những hương vị quê nhà, qua những món ăn đồng nội mà ít nơi đâu có được như: “cơm rảm, xoài mút, vối quê, bánh nhãn, khoai nướng, mắm cáy, bánh chưng bà Thìn, canh cải cá rô, rượu Xương Điền, nem tung, mắm tôm, canh khoai, hương tám, nộm hoa chuối, gỏi quê, lẩu cá khoai, rau muống xào cua rạm, cháo su hào, chè bà cốt, canh dưa, bánh đúc...”. Nhìn vào ngần ấy cái tên vừa quen vừa lạ vừa cuốn hút, hấp dẫn, hẳn ta có chút “ghen tị” với anh, với mảnh đất đã sinh ra anh. Mảnh đất ấy, với những con người ấy, ắt sẽ tạo ra những món ăn ấy. Những món ăn tạo nên những “bữa tiệc” đơn sơ mà đậm đà, thấm đẫm vị quê, tình quê, hồn quê. Sau mỗi bài viết, người đọc không chỉ choáng ngợp trước lượng thông tin dồi dào, ngồn ngộn, tràn trề lai láng chảy trên mỗi câu văn (đây vốn là thế mạnh của cây bút Nguyễn Bổng) là phong cảnh làng quê, tạo vật với một đời sống ẩm thực, cách chế biến món ăn, cách thưởng thức độc đáo, tinh tế đến tận cùng của sự chi chút nâng niu, ấp iu trân quý. Nó chất chứa những tầng sâu văn hóa của người dân quê đồng bằng ven sông Hồng. Ai làm nghiên cứu, khảo luận văn hóa học về miền quê này, nếu không gặp được anh Nguyễn Bổng, tôi đồ rằng công trình nghiên cứu ấy dẫu có dày nghìn trang hẳn sẽ thiêu thiếu đi cái hồn cốt tinh túy, cái chiều sâu thăm thẳm mà chỉ những người thức nhạy, gắn bó máu thịt với đồng đất quê hương như anh mới có được. Họ là những chứng nhân văn hóa mà tôi cho rằng hiện đang như báu vật còn “sót lại” không nhiều.
Viết về điều gì, dường như, anh cũng say sưa, cũng không dễ tự bằng lòng mà đặt ra tiêu chí phải đi đến tận cùng ngõ ngách, xới xáo, liên tưởng, cảm nhận, ngay cả khi anh đang viết về cái điều chính anh đã và đang trải nghiệm. Từ cách dẫn nhập vào đề, kiểu gì, bài nào cũng vậy, anh cũng cứ phải dẫn dắt có khi đến rề rà khiến ai háu đọc có khi không thích (đó là phong cách, cũng là biệt tài mà ai đã gặp anh dù chỉ một lần được nghe anh kể chuyện ắt sẽ bị ấn tượng, hút ngay tức khắc). Cái rề rà đủ cần thiết để khơi gợi, khiêu khích, tạo ra những ấn tượng ban đầu, những thông tin nền cho người đọc đi vào khám phá chiều sâu.
Viết về món mắm cáy, anh dẫn từ thành ngữ, liên tưởng đến cá gỗ xứ Nghệ, từ không gian, hương vị đất trời. Mắm cáy thơm ngon nổi tiếng từ xưa ở thôn quê nghèo, giàu chất đạm, hợp khẩu vị nhiều người đã được anh mô tả kĩ lưỡng về cách chế biến, cách thưởng thức: “Nước mắm cáy sánh mầu xanh nâu thơm lừng, nêm thêm vài lát ớt tươi, nhánh tỏi đập giập, góc mâm còn có lá kinh giới, tía tô góp vui thì bữa cơm quê ấy, đố ai đi xa không nhớ quay nhớ quắt.”.
Những người ở thành thị không mấy ai được ăn cơm rảm. Một loại cơm đặc biệt “không được cúng nhưng rất linh, không chỉ ấm dạ, ngon và no lâu mà còn có nhiều tiềm ẩn gốc rễ, duyên nợ với đất, với trời”; một loại cơm được nấu từ gạo đặc biệt “Những bó lúa được chuyển đi, ấy là phần của chủ điền, canh điền, phần lê nơi xiết lạt bó lúa, những hạt rụng, hạt rơi, vương vãi ở ruộng là phần trả lại cho đất. Của đồng chia ba, của nhà chia đôi là vậy”; từ cách thu gom đặc biệt “Từ nhỏ, tôi được bà cầm tay chỉ bảo cho cách móc nắm đất dẻo, chấm tẩm những hạt thóc rụng rơi lẫn vào cỏ, phải dùng mười đầu ngón tay rẽ ngôi từng lớp cỏ như chải tóc tìm chấy ấy, để chấm nắm đất dẻo vào hạt thóc lộ ra, hút cả những hạt dắt vào những vết thương nứt nẻ của đất.” (...) Qua chắt đãi, gạn đục khơi trong, quay tròn những hạt thóc to, vàng mẩy nhất bông được đất nhận về, sáng dần lên, tinh tươm trong niềm vui từ đôi bàn tay mẹ. Thóc nếp no tròn, thóc dự nhỏ thon, mộc tuyền sáng mẩy, hom dâu tung tẩy và những hạt tám xoan đen vạy được phơi săn gom lại, đánh một giấc ngủ say tít chung trong một bồ chờ ngày thay áo.”; và từ cách nấu cũng càng đặc biệt hơn: “nếu nhỏ lửa, đụng đũa quấy hạt to sẽ sinh nhựa bọc hạt con, hạt non..dễ trên sống dưới khê, tứ bề nhão nhoẹt, mà phải thêm nhiên liệu khi sôi, giữ đều ngọn lửa to cho đến khi cạn nước sánh lại, mặt nồi lộ rõ những lỗ rỗ nhỏ, thở đều mới âm nồi vào tro nóng.”. Cuối cùng là niềm vui sẻ san hạnh phúc mà bàn tay đã nhọc nhằn nâng niu, chiu chắt: “Nói cơm rảm là nói tới món cơm độc đáo, tổng hợp nhiều mùi vị thi nhau dâng hiến, nhưng hương gạo tám xoan vẫn giữ vai trò lĩnh xướng nổi trội trong nhóm gạo đầy cá tính. Những bữa cơm tranh tối tranh sáng, mưa phùn gió bấc, năm xoa ba đập, xếp chân quanh ổ rơm quây quần, thầy tôi khẽ xít xoa, xới cơm ập vào bàn tay chai sạn để các nốt chai kia mềm ra, chim thật nhuyễn những nắm cơm nho nhỏ như quả chuối ngự để anh em tôi lần lượt thưởng thức với đĩa vừng rang thơm phưng phức, để vị thơm ngon hương đất tình người, ngấm vào máu mà thơm ngon ngọt đến tận bây giờ.”
Hải Hậu quê anh nổi tiếng với hương gạo tám xoan. Nó là quý vật mang trong mình màu trắng xanh tự nhiên, ăn vừa thơm vừa ngọt, nó là một phần hồn đọng gửi lại quê hương. Điều đó đã được anh ghi lại qua toàn bộ cuộc đời của gạo tám bằng những quan sát, cảm nhận tinh tường: “Tám cứ thản nhiên mà tích góp, hương đất, hương trời rồi lặng lẽ thơm thảo, xởi lởi dâng hiến đến hết lòng hết dạ. Người thăm đồng, từ xa trong gió đã phát hiện ra mùi thơm mát của ruộng tám xoan như ta gần một đầm sen mùa hạ vậy (...) Hạt tám xoan ngon nhất là nấu trong niêu đất, nồi gang đúc đã qua chiết nồi cháo cám vài lần cho ngấm cao hương nhuần địa. Chờ cho ráo nước là âm vào tro nóng, cơm vừa chín tới là bắc ra thưởng thức.”. Tôi khá bất ngờ trước phát hiện: “Người nuôi, chơi chim cu gáy thường chọn hòn đất ải ruộng cấy tám xoan dành cho cu ăn, nó không đau bụng, tiếng thổ hay kim đều ngân rất vang, còi đồng rất sang khỏe khoắn”. Tôi nhận ra và chia sẻ với anh cái trăn trở đau đáu đầy hoang hoải của một con người luôn mang trong mình trách nhiệm gìn giữ khe khắt những hương vị quê nhà: “hồn quê, hương đất, khí trời lặn vào hạt tám xoan. Không giữ được hồn tám xoan, người Hải Hậu sẽ có lỗi với tiền nhân. Bất giác, tôi hít thật sâu và khe khẽ thở thật nhẹ, lặng lẽ nhìn mưa xuân đang rây trắng như sữa ngoài sân.”
Sau những hương vị ẩm thực phong phú độc đáo của quê nhà, tác giả đưa người đọc trở về, chìm vào những giấc đẹp gần gũi yên bình, thanh lắng của không gian làng quê. Nơi ấy, có những “chiều vơi, cổng làng, khói bếp, tiếng gọi con cuốc cuốc, sông quê, câu ca cổ, cối giã gạo ơi, vùng muối, dong riềng, cau Hải Đường, cất tép đồng, thú chơi gà chọi, đụng lợn ăn Tết, tiệc lan...”. Dường như trời phú cho anh một năng lực quan sát rất đặc biệt, anh nắm bắt được chiều sâu linh hồn của vạn vật, từ những gì hữu hình như cổng làng, sông quê, cối giã gạo....đến những gì trừu tượng, vô hình, mờ ảo, mong manh như khói bếp, chiều vơi....
Cổng làng trong anh luôn là hình ảnh đầu tiên lay thức tâm hồn khi đi xa. Ở nơi ấy gắn với bao kỉ niệm “Mẹ tiễn tôi lên đường đánh Mỹ, (...), dáng mẹ liêu xiêu dựa vào cổng làng”; nơi ấy gắn với khát khao mong mỏi ngày chiến thắng trở về được ôm lấy cha mẹ, được gặp cô bạn gái đứng ở cổng làng. Trải qua thử thách của thời gian, cổng làng mang trên mình lớp trầm tích văn hóa “không phô trương nhưng vẫn toát lên vẻ tôn nghiêm trang trọng trong tâm thế mỗi người”. Và đây là những rung động, ấn tượng và nghiệm suy đầy minh triết: “Cổng làng chả khép bao giờ/Vào ra gió cứ vô tư vẽ bùa/Sang hèn thiện ác được thua/Cũng đều chung lối đung đưa tháng ngày”; “Phía sau mỗi cổng làng là sự kết nối bền chặt tự bao đời, những nét chung về phong tục, tập quán, truyền thống dòng tộc, nét văn hóa riêng biệt để xây thuần phong mỹ tục, lên án đào thải đồi phong bại tục, không chỉ tạo nên hồn quê đất Việt, nó còn biểu cảm chiều sâu văn hóa mỗi ngôi làng, gợi nên bao ước vọng từ đời này qua đời khác.”; “Mỗi lần xa quê trở về bước qua cổng làng, tâm hồn như được gột rửa, rũ bỏ bao phiền muộn bụi trần, lo lắng xô bồ, lao xao tiền hàng kẻ chợ để được về với thanh thản bình an.”. Ngày nay tốc độ đô thị hóa đang diễn ra chóng mặt, cổng làng đang bị bao vây lấn lướt nhưng trong anh nó vẫn gợi lên bền chặt với “bao sự tích anh hùng của một thời để nhớ”.
Nắm bắt nhịp đi của thời gian là việc không hề dễ, nhưng tác giả đã mô tả, đã cảm nhận được cái dịch chuyển mơ hồ ấy qua những tín hiệu vừa cụ thể, nhẹ nhàng vừa mênh mang, xao xuyến “Chiều đang đẹp thế mà vơi vơi dần. Vơi là để đầy, hoàng hôn lùi về phía núi là để đón bình minh lên phía biển, là thời gian dịch chuyển. Thời gian có tự bao giờ, ai đã sinh ra nó hay nó sinh ra ai...”. Chiều vơi được khắc họa từ các tín hiệu hữu hình như: “Những chiều vắt vẻo lưng trâu trên đồng; những ráng chiều quê, mùa hạ gió từ biển vào lồng lộng; nghe tiếng sáo mà nắng chiều dịu lại, cơn khát làm đồng theo nó mà tan đi; tiếng sáo thoảng vào tiếng chuông thành lời thánh thiện; đây đó thấp thoáng mấy con thuyền của dân chài đang mải đưa đôi chân khiển chèo như một vũ công; tiếng con trẻ đánh vần ngọng níu lẫn tiếng oe oe và tiếng nựng con của một người mẹ trẻ; những mảng nắng vàng rực thừa thãi tráng vào hoàng hôn; khói thuốc trắng xanh lan man cùng sương chiều thẫm dần; khói ấm lan man trên mái rạ vương ra tận ngõ; bữa ăn tối quây quần vừa khản giọng gọi tên từng đứa trải chiếu xắp mâm”. Chiều vơi khép lại khi “gió đã tràn qua ngõ vào tận cửa, dải ngân hà vắt ngang trời với ngàn vạn vì sao li ti như rắc vừng, con vạc đi ăn đêm điểm tiếng ngang đầu; (...). Trăng vằng vặc nhô cao. Gió đã nổi, cánh diều no gió rướn lên, tiếng sáo vi vu, vi vu như nhắn gọi người còn ở nơi xa hãy lắng lại với chiều vơi.”.
Khói bếp mong manh cũng là thứ không dễ nắm bắt nhưng được anh khắc họa, khiến nó hiện ra với muôn hình vạn trạng, mang trở cả những buồn vui, giàu nghèo, dày mỏng khác nhau. Anh vẽ ra được cả sắc khói, mùi khói, bóng hình vũ điệu của khói: “Nhà nhiều người, thổi nồi to, khói đậm đặc hơn, xoáy tròn cuộn thành những đường cong xấn xổ vời ra tận cửa, liếm bò hết mái, thừa thãi lòa ra tận dàn bí dàn bầu nhảy múa phiêu bồng. Nhà nghèo, khói lá tre, lá chuối khô nhạt phèo, khói lá phi lao, lá mía, lá bàng còn ẩm vừa đen vừa hắc, sặc ho lại lâu tan. Khói nhà có sổ gạo, khói trấu, khói mùn cưa, khói rơm vừa tráng mỏng thảo thơm vừa trắng mịn. Khói nhà giầu đun củi chỉ lân rân, loi roi, dung dăng dung dăng trên mái ngói. Khói trong mưa xuân lất phất hình như dầy hơn, thấp hơn, thơm hơn, lâu tan hơn đan dệt yêu thương cho lòng ta man mác (...) Mùi khói bằng lăng thơm hăng hắc mùi dầu, mùi khói củi cây le, cây nứa giòn tan cay cay sống mũi, mùi khói củi trầu, củi trám có mùi thoảng như hương trầm, mùi khói củi bứa, mùi cây cao su khói đen sì thum thủm, mùi gỗ trám gỗ sồi lợm giọng gây gây.”. Cuối cùng, để kết lại, anh viết: “chả có mùi khói nào thơm thảo, ấm áp, mong manh, mềm mại, quý phái, mơ hồ quyến rũ như khói lam chiều từ rơm rạ bếp mẹ quê xa.”. Rồi anh thao thức, ngai ngái tiếc thương, trăn trở: “Ta ý thức được rằng, nếu mất đi một thời thơ ấu thản nhiên vui buồn là ta mất chính ta (...) cái bếp quê thời đổi mới hôm nay cũng khác lắm rồi.”
Căn nhà không chú trọng vào sự giàu có mà quý ở sự êm ấm; tình yêu không phải nhất định cứ ở sự lãng mạn mà cùng trân trọng nhau; thật lòng chân thành ắt có được tri kỉ tri âm; nhẹ nhàng ít ham muốn ắt sẽ được thảnh thơi, thư thái....và còn bao điều nữa chưa thể “kê biên”....Đọc tập tản văn, tôi thấy anh như “đại gia” của những điều ấy - một kiểu “đại gia” mang trong mình khối tài sản là một tâm hồn tinh tế, sắc sảo và một trí tuệ mẫn tiệp. Sau những tập truyện ngắn được xây dựng bằng những hình tượng hư cấu thì có lẽ phải đợi đến thể loại tản văn (một thể loại có cấu tứ độc đáo, hòa phối các phương thức biểu đạt, đậm đà chất giọng và cốt cách cá nhân....) mới đủ sức mạnh chân thực nhất giúp anh phô diễn, phơi trải những rung động và vốn sống dày dạn của một cuộc đời lắm sương nhiều gió...
Hẳn với riêng anh, khi viết thơ hay làm văn, tôi nghĩ đó cũng chỉ là những câu chuyện của những lúc “nông nhàn”, của những đêm trường mất ngủ, vắt tay lên trán với muôn nỗi suy tư phắp phỏm, phập phồng, trằn trọc. Và rồi, từ sự hối thúc của trái tim qua những đêm trường, anh bật lòng mình dậy để cầm bút giãi bày, trang trải, để cứ “nói ra thơ, thở ra văn”. Suy cho cùng, viết cũng là cách để thực hành cái gọi là “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh), một cuộc đời lớn lao, bi tráng, một cuộc đời khát khao, đáng sống biết bao nhiêu.
Có thể nói, từng qua thời “thịt nát xương tan”, từng “xem hướng mây bay”, từng “nghe chiều gió thoảng”, mấy chục năm qua, cây bút Nguyễn Bổng đã một mình âm thầm lặng lẽ làm một cuộc gọi hồn vạn vật. Thật thiêng liêng và kì lạ, anh như làm hồi sinh những nét đẹp văn hóa, những phong tục ẩm thực, sản vật quê hương đang ngày càng mai một. Tất cả được cùng nhau sum họp hội tụ, tỏa sáng sống động trên từng câu chữ; gợi nhắc những người đi xa, những người hôm qua, những người hôm nay, những người ở lại, những người sắp chào đời cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp quê nhà, cùng thấm thía, trân quý những tháng năm cha ông mình đã sống, đã chắt chiu, gom nhặt, làm nên những dáng hình xứ sở...
Xin trân trọng giới thiệu tập tản văn “THẢO THƠM QUÊ NHÀ” của tác giả Nguyễn Bổng./.
Nhân Tiến, những ngày nắng rát, tháng 06/2021.