Giới thiệu cuốn sách “Thảo thơm quê nhà” của Nguyễn Bổng

Ngày đăng: 05:40 05/11/2026 Lượt xem: 53

Giới thiệu cuốn sách “Thảo thơm quê nhà” của Nguyễn Bổng
  

 
GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH “THẢO THƠM QUÊ NHÀ” CỦA NGUYỄN BỔNG
Bài 01

 
CƠM RẢM

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Để có hạt vàng mười, người nông dân phải hai sương một nắng, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, thậm chí nơi đồng trũng còn sống ngâm da chết ngâm xương để trông trời trông đất trông mây, trông mưa trông nắng trông ngày làm ăn. Ông bà ta luôn nhắc nhở con cháu ghi tâm: Hạt cơm là hạt ngọc, hạt thóc là hạt vàng. Chả thế mà hoa cau rắc trắng sân như phơi gạo, thơm ngào ngạt, mẹ dặn phải lách bàn chân bước khéo, dùng chổi rơm quét nhẹ gom vào, đừng dẫm lên hoa cau kẻo đau mùa lúa.
          Nhờ ngọc thực mà ta lớn nổi thành người nên phải biết quý trọng nâng niu cả những hạt vô tình rơi vãi. Từ nhà giầu sang đến người nghèo khó, vào vụ mới, trước khi bưng bát cơm ăn, đều phải thắp ba nén nhang tỏ lòng thành kính, kính cẩn dâng cáo tổ tiên, ông bà ông vải. Ở quê tôi, tục cúng tuần cơm mới vẫn còn duy trì đến tận hôm nay như một nét đẹp văn hóa. Tuy nhiên, có một loại cơm độc đáo không dùng thết khách, làm quà biếu và dâng cúng bao giờ, đó là cơm rảm.
          Bọn trẻ bây giờ nói đến cơm rảm chả hiểu gì, cứ như đang nghe chuyện ở hành tinh khác. Thầy tôi giải thích từ rảm thật đơn giản. Thương cho kiếp hạt thóc rụng rơi, người đời nâng đỡ, gọi chuệch sang thành từ rảm. Rảm, hàm chứa sự rơi vãi của nhiều loại thóc biên chế tập hợp lại, không xếp vào chính phẩm. Cũng như canh tập tàng, thập cẩm, tập hợp nhiều loại rau bòn, vơ véo được lúc giao mùa giáp hạt vậy. Cơm rảm nấu từ những hạt phụ phẩm, rơi vãi, tận thu ấy nên nó gần gụi người nghèo, thảo thơm, sởi lởi lắm, như tri ân, trả ơn với thân phận kẻ khó ít được kẻ giầu sang để mắt tới vậy.
          Khi những cánh diều no gió, tiếng sáo vi vu thả bùa mê ru đồng quê trĩu hạt cho bông lúa uốn câu, con chim gáy gù gù với bạn tình, khắp đó đây người quê tôi hối hả vào vụ gặt. Những bó lúa được chuyển đi, ấy là phần của chủ điền, canh điền, phần lê nơi xiết lạt bó lúa, những hạt rụng, hạt rơi, vương vãi ở ruộng là phần trả lại cho đất. Của đồng chia ba, của nhà chia đôi là vậy. Con ri con sẻ nhờ ngày mùa, bà tôi bỏm bẻm nhai trầu, ôn tồn giải thích thế. Chú chim sẻ, chim ri bị oan, khi thấy nó ăn thóc thì bảo, nó phá hoại mùa màng. Thực ra, nó chỉ ăn hạt lúa từ lúc hạt mẩy kẽ được hạt gạo cho đến khi hết lúa chừng vài chục ngày thôi. Đấy là ông trời cho nó, trả công bắt cào cào, châu chấu, sâu xanh cuốn lá, đục nõn, bọ xít chích hút.. trải dài suốt sáu mùa trăng tròn, trăng khuyết đấy.
Mùa màng gặt hái xong rồi
Rủ nhau mót hạt vàng mười rụng rơi
Hạt vàng có tiếng à ơi
Thành nồi cơm rảm lộc trời ban cho.
          Từ nhỏ, tôi được bà cầm tay chỉ bảo cho cách móc nắm đất dẻo, chấm tẩm những hạt thóc rụng rơi lẫn vào cỏ, phải dùng mười đầu ngón tay rẽ ngôi từng lớp cỏ như chải tóc tìm chấy ấy, để chấm nắm đất dẻo vào hạt thóc lộ ra, hút cả những hạt dắt vào những vết thương nứt nẻ của đất. Nắm đất dẻo như có phép lạ, nó như cục nam châm hút hết những hạt thóc vào bụng mình rồi cứ lớn dần đến độ rặm tay, căng tay lại thay nắm khác. Người già, trẻ con, cặm cụi lê la, năng nhặt chặt bị mỗi ngày cũng được dăm ba ống thóc. Tối đến, bên cầu ao, dưới ánh đèn chai mờ tỏ, mẹ cặm cụi bửa những nắm đất nhận vào mình nó những hạt thóc no tròn, bóp tơi bời tất cả vất vả, những gom nhặt trong ngày ở từng nắm tẩm. Qua chắt đãi, gạn đục khơi trong, quay tròn những hạt thóc to, vàng mẩy nhất bông được đất nhận về, sáng dần lên, tinh tươm trong niềm vui từ đôi bàn tay mẹ. Thóc nếp no tròn, thóc dự nhỏ thon, mộc tuyền sáng mẩy, hom dâu tung tẩy và những hạt tám xoan đen vạy được phơi săn gom lại, đánh một giấc ngủ say tít chung trong một bồ chờ ngày thay áo. Đành vậy thôi. Đàn sẻ của Bụt ngày xưa trong chuyện cổ tích cũng chỉ giúp Tấm nhặt thóc khỏi gạo để kịp đi xem hội, chứ nhặt sao nổi hàng chục loại thóc lẫn lộn kia để riêng từng loại. Rồi một ngày, sấm chớp mưa rào, cây cau chum nước không ra đồng được, đánh thức cái bồ thóc góc nhà, giục cái cối xay tre bỗng rùng mình òa lên rũ áo. Những hạt vàng mười trút vỏ, bỏ xiêm, lộ ra cái thân hình trắng ngà như nhộng ong mưa rào rào xuống nia người ta mới chợt nhận ra rằng; đây là hạt mẩy nhất đầu bông, đẫy nắng, đẫy gió, đẫy sương ngậm hương vào áo lót, làm cho cái áo giáp là vỏ trấu nứt ra, loại sản phẩm ngon nhất trong mùa được đất nhận phần cho người lao động canh điền lam lũ nhất. Mở đầu vụ gặt là giống lúa xuân Chân Châu, Mộc Tuyền, Dâu, Xuân số 8…và cuối cùng là Dự, Nếp bắc, Tám xoan… đã tề tựu đủ mặt và vụ gặt đã kết thúc dẫu thất bát hay bội thu. Những nhịp cối gỗ, từ từ bẩy cần, bất ngờ nhả phập, giã thình thịnh theo bước chân nhún nhẩy, chừng một tiếng sau, hạt gạo đã trắng dần, mềm tay đảo mới đem ra sàng sẩy trong niềm vui vỡ òa, trán lấm tấm mồ hôi.
          Thổi cơm rảm ngon không dễ, cô con dâu mới về nhà chồng chưa nhiều kinh nghiệm thường là phải khéo léo từ chối mẹ chồng khi bị giao cho nấu. Người nấu phải tài ước lượng độ săn, độ dẻo của từng loại gạo mà điều chỉnh nước. Với các loại gạo khác thì cơm sôi bớt lửa. Cơm rảm thì khác, nếu nhỏ lửa, đụng đũa quấy hạt to sẽ sinh nhựa bọc hạt con, hạt non..dễ trên sống dưới khê, tứ bề nhão nhoẹt, mà phải thêm nhiên liệu khi sôi, giữ đều ngọn lửa to cho đến khi cạn nước sánh lại, mặt nồi lộ rõ những lỗ rỗ nhỏ, thở đều mới âm nồi vào tro nóng. Cơm chín tới, cải ngồng non, chờ cho nồi cơm rảm đang biến đổi thần kỳ giữa đông trang thời vụ, ta vơ véo vội những ngọn lang, ngọn muống, ngọn dền, sam, dệu..quanh vườn nhà, thêm nhúm muối, thìa mắm tôm thế là có ngay một nồi canh thập cẩm đầy hấp dẫn với cơ man mùi vị ăn cùng cơm rảm. Nói cơm rảm là nói tới món cơm độc đáo, tổng hợp nhiều mùi vị thi nhau dâng hiến, nhưng hương gạo tám xoan vẫn giữ vai trò lĩnh xướng nổi trội trong dàn đồng ca nhiều bè đầy cá tính. Những bữa cơm tranh tối tranh sáng, mưa phùn gió bấc, năm xoa ba đập, xếp chân quanh ổ rơm quây quần, thầy tôi khẽ xít xoa, xới cơm ập vào bàn tay chai sạn để các nốt chai kia mềm ra, chim thật nhuyễn những nắm cơm nho nhỏ như quả chuối ngự để anh em tôi lần lượt thưởng thức với đĩa vừng rang thơm phưng phức, để vị thơm ngon hương đất tình người, ngấm vào huyết quản mà thơm ngon ngọt đến tận bây giờ.
          Kỳ diệu thay. Hạt nếp hạt tẻ, hạt to hạt nhỏ, hạt ngắn hạt dài, hạt khô hạt dẻo, hạt đục hạt trong, hạt béo hạt gầy, hương nếp hương tám..cứ như đã có sự xắp đặt của tạo hóa để thống nhất hai mặt đối lập ấy mà nhuyễn vào nhau, mà hôi hổi, sởi lởi tỏa hương, dãi lòng ra dâng hiến đến hết mình. Năm mười sáu tuổi, khoác ba lô vào Nam chiến đấu, mẹ dúi cho tôi mo cơm rảm nấu trong niêu đất còn  ấm nóng và ghé tai: Cơm rảm không được cúng nhưng rất linh, không chỉ ấm dạ, ngon và no lâu mà còn có nhiều tiềm ẩn gốc rễ, duyên nợ với đất, với trời, nên người đi xa nó sẽ ban cho may mắn, chân cứng đá mềm, đi năm về mười, đi tươi về tốt, qua đèo qua núi, qua suối qua khe, đi bộ đi xe đều an toàn cả, và còn nhớ đường mà về cái nơi xuất phát.
Gần chục năm vào sống ra chín, với trên ba chục trận nổ súng, bị thương đến bốn lần, bom đạn nó đánh vào đầu não, đánh rão chân tay, đánh thủng dạ dày, đánh đứt mạch máu mà tôi không chết. Ba thằng cùng xóm ăn chung nắm cơm rảm ngày ấy đều lần lượt khập khễnh, chấm phẩy đôi chân lệch với đôi mắt trắng rã, đôi môi thâm sì như máu đỉa về trình làng, trình mẹ ngày toàn thắng, dẫu không được lành lặn gì. Cả mẹ và tôi, hai thằng bạn chả ai nhớ gì nắm cơm rảm khi tôi nhận từ tay mẹ còn nóng hôi hổi ra đi hồi ấy.. Bây giờ, cha đã thành người thiên cổ, mẹ đã ngoại bát tuần, nhớ lại mới nghĩ mông lung. Nhẽ cơm rảm, quà của trời đất trả công cho người nghèo khó linh ứng vậy sao!
          Từ nhỏ, nhà nghèo, thất học, tôi chả mấy được đi xa vựơt ra khỏi cổng làng. Lớn lên, tuổi niên thiếu đã gác bút nghiên lớp bảy trường làng đi chiến đấu, hành quân trong rừng, ăn với rừng, ngủ với rừng, sống chết may rủi với rừng..chả mấy được ở khách sạn, nhà hàng, phố xá cao sang dự những bữa tiệc nhiều tiền.. Và, dù sang trọng đến mấy, thầm nghĩ, bữa yến tiệc nào mà thiếu được cơm tẻ, cơm nếp, cơm chiên, cơm lam, cơm ống, cơm cháy, cơm rang, cơm thập cẩm… Người quê tôi có câu; Tề thiên đại thánh không mạnh bằng cơm, to bằng đống rơm không cơm cũng chết. Nhưng tôi khảng định rằng: Chẳng có loại cơm nào ngon bằng cơm rảm quê tôi. Ngon theo đúng nghĩa đen đã đành, còn ngon bởi cái tình người, hương đất, hồn quê, thời gian và cả bão giông, mưa nắng, mồ hôi..chiu chắt nhập hồn, nhập thần thái vào nhau mới nên.

                 Hải Tây, tháng 12 năm 2005
                            Nguyễn Bổng
          Hội viên Hội VHNT TS tại Nam Định

                                                             
 
 
 

tin tức liên quan