CUỘC GẶP GỠ KỲ LẠ
Truyện dài của Nhà văn Phạm Thành Long
Lời tác giả:
Cuối tháng 2 năm 1971, tôi đã chứng kiến chiếc OV10 của không quân Mỹ khi bay chỉ điểm cho máy bay tiêm kích đánh phá đường Trường Sơn thì bị lực lượng cao xạ bắn rơi ở khu vực Huội Mơn – một trọng điểm nằm giữa Binh trạm 34 và Binh trạm 35 Trường Sơn. Không quân Mỹ sau đó đã giải cứu bất thành. Viên phi công Mỹ bị bắt. Trên đường bị dẫn giải ra trạm giao liên thì viên phi công Mỹ đã trốn thoát…
Cảm hứng văn học từ câu chuyện này, tôi đã viết thành truyện dài “Cuộc gặp gỡ kỳ lạ”.
I.ÔNG SIMITS
Buổi sáng mùa đông. Nắng nhẹ chiếu những tia ấm áp và làm sáng bừng căn phòng làm việc. Không biết tự bao giờ, cứ đúng sáu giờ, ông Simits đã ngồi vào chiếc bàn trong phòng làm việc. Cái bàn nhỏ làm bằng gỗ sồi đã gắn với ông từ khi ông mua và chuyển tới sống ở căn nhà phía nam thành phố nhỏ Texas City này. Nó cũ nhưng mặt bàn thì sáng bóng theo thời gian.
Trên mảnh đất rộng một ngàn rưởi mét vuông ấy, ông chủ cũ đã trồng nhiều cây xanh. Ngôi nhà với bốn phòng ngủ, hai phòng làm việc và một phòng khách lớn…Vào thời điểm mua nó, nhiều người bạn cho rằng ông đã mua hơi đắt so với giá thị trường. Nhưng ông thích nó vì khuôn viên được trồng rất nhiều cây xanh. Hàng cây lớn được trồng làm hàng rào tự nhiên cho khuôn viên của ngôi nhà. Hàng cây ấy có tuổi đời cả nửa thế kỷ. Vị trí ngôi nhà chỉ cách bờ biển hơn hai trăm mét. Hàng cây xanh lớn không chỉ tạo bóng mát mà về mùa mưa bão, nó trở thành hàng rào chắn gió tự nhiên rất hữu hiện. Không dễ gì tìm được mảnh đất với nhiều cây xanh như thế ở phía nam thành phố nhỏ ven biển này. Ông đặc biệt thích thú với hai mảnh vườn nhỏ mỗi mảnh rộng một trăm mét vuông ở hai bên cổng trước nhà. Ông chủ cũ trồng đầy các loại hoa hồng thơm ngát…
Ông chọn cho mình căn phòng ngủ nhìn ra hướng đông. Căn phòng làm việc của ông cùng hướng với phòng ngủ. Từ phòng ngủ của vợ chồng ông có cửa thông vào phòng làm việc, rất tiện.
Công việc thích thú đối với ông mấy năm nay là vào mạng tìm các dự án khởi nghiệp ấn tượng và hiệu quả. Sở dĩ ông tự làm công việc này là để hỗ trợ cậu con trai nghiên cứu, lựa chọn đầu tư vào những dự án ấn tượng và thực thi nhất. Cách đây năm năm ông quyết định đưa khối tài sản thừa kế ba trăm triệu đô la từ cha của ông, cộng với năm mươi triệu đô la mà ông tích cóp từ đầu tư chứng khoán để hai cha con lập một Quỹ đầu tư do ông làm Chủ tịch và cậu con trai làm Giám đốc. Ông đưa ba trăm bốn mươi triệu đô la vào số vốn ban đầu của Quỹ. Ông chỉ dành lại cho mình mười triệu gửi tiết kiệm. Việc chi tiêu hằng ngày đã có lương hưu của ông. Sau năm năm đầu tư, năm ngoái dự án mà Quỹ của ông đầu tư một dự án ở Trung Quốc đã bắt đầu có lợi nhuận. Với kinh nghiệm, ông thận trọng nghiên cứu rất kỹ tính khả thi của các dự án, đặc biệt là nghiên cứu nhân thân và các thông tin về người chủ dự án. Với ông, điều này vô cùng quan trọng. Quỹ đầu tư của cha con ông không thể đầu tư một cách mạo hiểm cho người thiếu nghị lực và tính khí bốc đồng…
Chẳng hiểu sao, sau khi cởi áo lính, ông rất có hứng thú nghiên cứu môn tử vi – một phát minh rất đặc biệt đến từ phương Đông. Càng đi sâu nghiên cứu ông càng ngạc nhiên và thú vị về quy luật mà con người bị chi phối và phụ thuộc với vòng quay của vũ trụ. Càng tìm hiểu, ông còn biết được những yếu tố chủ quan và khách quan của mỗi con người tác động nhằm cải biến số phận của người đó. Ban đầu, ông lập bảng tử vi để nghiên cứu về số phận của những người trong gia đình, họ hàng và bạn bè thân thích để có cơ sở so sánh, đúc rút cho riêng mình. Từ đó ông thấy nó vận hành thế nào trong cuộc sống thực…Ông vô cùng tâm đắc với lá số tử vi của người vợ của mình. Trước sự ra đi vì bạo bệnh của vợ cách đây gần mười năm, ông đau đớn khi biết mình đến với môn tử vi quá muộn. Nếu không, ông đã có thể cùng vợ khắc phục kiếp nạn, kéo dài thêm tuổi thọ cho bà. Phương Đông có ngạn ngữ “Đức năng thắng số”! Ông soi vào thực tiễn ở một số người mà ông biết, câu ngạn ngữ ấy khá ứng nghiệm…
Cuộc đời ông có nhiều năm lái máy bay trinh sát OV10 của không quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam và Lào. Tuy không trực tiếp ấn nút bom sát hại đối phương nhưng ông đã chỉ điểm chính xác để đồng đội lái máy bay F4, F105 tới quăng bom, bắn tên lửa. Ông đã gián tiếp gây chết chóc…Từ khi đến với môn tử vi, ông suy ngẫm rất nhiều về việc làm cách nào để “chuộc lỗi” những “kiếp nạn” mà ông mắc phải trong những năm làm phi công tham chiến ở Đông Dương?
Simits suy nghĩ rất nhiều cho việc phải làm gì để “chuộc lỗi” trong thời gian cầm lái chiếc OV10, chỉ điểm đánh phá cuộc chiến tranh ấy? Ông không phải là một tỷ phú. Nhưng ông chọn việc lập Quỹ đầu tư khởi nghiệp là một cách góp cơ hội cho việc “công đức” nho nhỏ của mình, để những dự án này tạo việc làm và thu nhập cho nhiều người đến từ Việt Nam…
***
Với Simits, điều thích thú với ông hằng ngày là vào các trang website “Quỹ đầu tư khởi nghiệp”: Nhà đầu tư Thiên thần (Angel Investors), Chương trình của Chính phủ Hoa Kỳ (SBA), Các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân (VC)... Tại đây, ông chú trọng tìm những dự án khởi nghiệp đến từ Việt Nam. Ông cũng vào trang website của Quỹ “Vinacapital” của doanh nghiệp Hoa Kỳ hoạt động tại Việt Nam để tìm kiếm thông tin và cơ hội đầu tư.
Sáng nay, ông vừa tìm thấy một dự án đầu tư đến từ Việt Nam khá lạ. Người chủ dự án là Trần Liên sinh năm 1981, đến từ một xã ngoại thành Hà Nội. Dự án khởi nghiệp của Trần Liên là sản xuất và phát triển loại máy nông nghiệp nhỏ tích hợp ba trong một: Máy băm đất, gạt đất để sau đó cấy lúa tự động. Máy hoạt động được cả ở trên ruộng cạn và dưới ruộng nước đều thuận lợi. Công suất của chiếc máy tương đương với ba mươi lao động làm trong cùng thời gian. Giá thành mỗi chiếc máy khoảng hơn năm trăm đô la. Dự án kèm theo các hình vẽ chi tiết thiết kế cho cái máy “3 trong 1”. Nếu được đầu tư tám trăm ngàn đô la, nhà sản xuất sẽ cho ra đời khoảng một ngàn sáu trăm chiếc máy, phục vụ nông dân cả nước. Máy đã được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận bản quyền sáng chế…
Ông biết, Việt Nam là nước nông nghiệp. Người dân nông thôn chủ yếu trồng lúa nước và các loại hoa màu. Chiếc máy “3 trong 1” này sẽ giải phóng sức lao động cho những người nông dân. Dự án này đã thuyết phục ông.
Ông đọc kỹ phần giới thiệu bản thân của chủ dự án. Ông đặc biệt chú ý đến ngày tháng năm sinh của cậu ta. Ông nhẩm tính: Sinh năm 1981 là tuổi Gà. Tuổi Gà là người thông minh, chăm chỉ. Rồi ông giở sách tra ngày tháng sinh của anh ta. Ông lập lá số tử vi cho người này. Sau khi xem xét kỹ lá số mà ông lập cho anh ta, ông kết luận: “Có thể tin tưởng vào con người này để đầu tư rồi!” Ông tỏ ra hài lòng.
Thông tin về người đồng sáng chế chiếc máy nông nghiệp “3 trong 1” ghi trong Dự án, Simits đọc thấy dòng thông tin “Tran Kien, kỹ sư, sinh năm 1949…” Họ là hai cha con? Người cha tuổi Kỷ Sửu ư? Tuổi con Trâu là một người trung thực, có ý chí, thông minh, tự thân làm việc, không bao giờ dựa dẫm vào người khác… Ông nghĩ nhanh trong đầu: Cha tuổi Sửu, con tuổi Gà. Cả hai tuổi này đều có thể tin tưởng để hợp tác… Ông đóng máy, đi nhanh sang phòng làm việc của con trai.
-Oliver này. Cha đã nghiên cứu khá kỹ về Dự án đầu tư phát triển máy nông nghiệp “3 trong 1” của cha con ông Tran Kien và Trần Liên. Dự án phát triển chiếc máy này rất có triển vọng. Ba thấy chúng ta có thể đầu tư cho nó.
-Con cũng đã đọc dự án này rồi ba. Nó rất khả thi ba ạ. Con tin vào sự nghiên cứu và quyết định của cha.
Thế là hai cha con ông nhanh chóng thống nhất quyết định đầu tư cho dự án sản xuất chiếc máy nông nghiệp “3 trong 1” đến từ Việt Nam của Trần Liên với số tiền tám trăm ngàn đô la.
Ông nói con trai gửi ngay email cho Trần Liên về việc đồng ý đầu tư cho dự án của anh ta.
-Oliver này! Nhân dịp này, Ba muốn hai cha con mình đến thăm Việt Nam một chuyến. Qua tin tức, ba biết Việt Nam bây giờ đã thay đổi nhiều lắm sau chiến tranh. Việt Nam cũng đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ chúng ta rồi. Bạn cựu chiến binh với ba nhiều người đã sang Việt Nam. Họ đã đến những nơi mà trước đó mình đã từng hoạt động. Mấy phi công bạn của ba đã tìm về những địa danh ở miền Trung Việt Nam. Họ tới tri ân người dân Việt Nam ở đó. Họ đã được người dân ở đây chào đón không phải bằng sự hận thù mà đầy tình cảm tha thứ để khép lại những đau thương, mất mát do người Mỹ gây ra cho họ trong những năm tháng chiến tranh ở Việt Nam. Những người dân ở đây họ khẳng định: “Không thể cứ ôm mãi sự đau thương và hận thù. Phải xây dựng một cuộc sống mới”…
Ba muốn thăm lại mảnh đất mà trước đây ba và những đồng đội của ba đã trút bom đạn xuống đó bây giờ thay đổi như thế nào. Và kết hợp, chúng ta gặp Trần Liên đối tác đầu tư của chúng ta xem cơ ngơi của anh ta như thế nào, trước khi đặt bút ký Hợp đồng đầu tư?
-Con đồng ý. Một chuyến đi sẽ thú vị đấy ba. Chúng ta đi vào thời gian nào, thưa ba?
-Ba đã tìm hiểu rồi. Chúng ta nên đến Việt Nam vào mùa thu. Đây là mùa đẹp nhất của Hà Nội. Và quan trọng là mùa này hoa quả ở Việt Nam rất ngon và phong phú. Ba rất muốn thưởng thức nhiều loại hoa quả của xứ sở này.
Ta đi vào cuối tháng tám tới, con nhé.
-Chúng ta quyết định thời gian như ba nói nhé. Thế chúng ta có cần thông qua một công ty du lịch nào cho chuyến đi này không ba?
-Theo ba không cần thiết đâu. Đối tác của chúng ta là Trần Liên. Ta sẽ nhờ anh ta hướng dẫn. Mà theo ba tìm hiểu thì thông tin đi đâu, ở đâu, ăn gì, uống gì tại Hà Nội, Google sẽ hướng dẫn chúng ta rất cụ thể để ta tha hồ lựa chọn.
-Ba giỏi hơn con điều này rồi. Mải làm ăn, con không quan tâm nhiều chuyện ấy. Ba là “hướng dẫn viên” của con đấy. Oliver mỉm cười, nhìn cha.
-Ba hy vọng chúng ta sẽ có chuyến đi thú vị tại Việt Nam.
-Con cũng tin thế!
Oliver giơ ngón tay cái lên. Smits cũng làm theo động tác của con trai. Hai cha con ông mỉm cười. Nụ cười mở đầu cho một buổi sáng thật vui và tràn đầy năng lượng.
II.HỒI ỨC TRÊN CHUYẾN BAY ĐẾN VIỆT NAM
Sáng nay, hai cha con ông Simits đã đáp chuyến bay của của Hãng hàng không Vietnam Airline để bay sang Việt Nam. Đây là hãng hàng không duy nhất bay thẳng từ TP. Hồ Chí Minh đến Hoa kỳ và ngược lại. Để bay chuyến bay này, hai cha con ông phải bay từ quê nhà Texas đến San Francico từ ngày hôm trước.
Lần đầu tiên ông nhìn thấy các cô tiếp viên người Việt xinh đẹp và lịch lãm. Cô gái có cái tên ghi trên biển tên trên ngực áo thật đẹp: Lê Hồng Lan.
Có lẽ thấy ông có mái đầu bạc và là hành khách cao tuổi nhất của chuyến bay nên cô đến bên ông cúi đầu nhẹn nhàng hỏi:
-Thưa ông, ông có cần giúp đỡ nào không ạ? Ông Simits lắc đầu, mỉm cười:
-Không, thưa cô.
Cô tiếp viên Lê Hồng Lan ngẩng đầu lên, tặng ông nụ cười và lời chúc:
-Chúc ông có chuyến bay tới Việt Nam thú vị và hạnh phúc khi đặt chân lên đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng tôi!
Ông mỉm cười hài lòng với cô gái Việt xinh đẹp này.
Ngồi trên máy bay, ông tranh thủ đọc gần như hết cuốn tạp chí Heritage của Hãng hàng không Vietnam Airline. Ông đã xem những cuốn tạp trí của nhiều hãng hàng không trên thế giới khi đi du lịch và công cán. Cuốn tạp chí Heritage này đẹp và khá trang trọng. Ông đặc biệt ấn tượng với những trang giới thiệu về văn hóa, đất nước, con người Việt Nam. Gần năm mươi năm trước khi bay trên chiếc HU1A và OV10, phía dưới cánh bay của ông chỉ một màu xanh của đồng ruộng và rừng núi. Hóa ra ẩn chứa dưới màu xanh ấy là một đất nước với nhiều điểm du lịch độc đáo và tuyệt đẹp…
***
Theo thông báo trên màn hình: Chiếc máy bay Boing đang bay ổn định với độ cao mười ngàn mét trên biển Thái Bình Dương. Những hành khách quanh ông đã chìm vào giấc ngủ. Chỉ một vài người đang đọc sách.
Ông nhìn ra cửa sổ máy bay. Những cụm mây trắng xóa lướt nhanh qua ô cửa. Phía dưới kia biển Thái Bình Dương xanh ngắt. Mắt ông khép lại. Nhưng trong đầu ông như một cuốn băng video tua nhanh về những năm tháng thanh xuân.
…Năm ấy ông vừa bước qua tuổi mười tám. Ông ao ước được vào học tại trường Đại học Harvard. Ba mẹ ông cũng muốn con mình được học ở ngôi trường danh giá số một Hoa Kỳ này. Cha ông muốn ông theo học Khoa Kinh tế. Dù học phí của trường khá cao nhưng cha mẹ ông đủ khả năng về tài chính cho ông theo học trường này.
Nhưng rồi cậu bạn thân của ông đã làm thay đổi ước mơ của ông.
Một hôm, Henry, cậu bạn thân cùng luyện tập trong Câu lạc bộ Thể thao với ông tới gặp ông.
-Simits này. Tớ đã nộp hồ sơ vào Học viện Không quân Hoa Kỳ rồi. Họ đang cần nhiều phi công mới. Trường này hay lắm. Với sức khỏe của tớ và của cậu chắc chắn chúng ta dễ dàng vượt qua sát hạch sức khỏe và y khoa. Sau bốn năm học tập, ra trường ta được cấp bằng Cử nhân Khoa học. Và được phong ngay Thiếu ủy không quân Hoa Kỳ, đấy. Nhưng cái khó nhất là mỗi học viên phải được một nghị sĩ bảo lãnh, giới thiệu. Tớ biết cậu có ông bác họ là nghị sĩ bang mà! Còn tớ, đã được một người họ hàng giúp đỡ và đã có thư bảo lãnh rồi. Học viên sẽ đào tạo các môn: Sinh học, Hóa học, Toán học, Vật lý, Vũ trụ học, Thiên văn học, Khoa học xây dựng và môi trường, Khoa học máy tính, Kỹ thuật điện, Kỹ thuất máy tính, Cơ học kỹ thuật…
Nghe giới thiệu của Henry, Simits đã bị thuyết phục. Thế là ông đã bước chân vào Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAFA) ở Colorado Springs.
Sau bốn năm học tập, ông và Hery đã tốt nghiệp loại xuất sắc. Ngày tốt nghiệp cũng là ngày thụ phong quân hàm Trung úy – sự tưởng thưởng cho bốn năm học tập xuất sắc của hai người. Dự Lễ tốt nghiệp, ba mẹ ông vô cùng tự hào về cậu con trai duy nhất của họ, giờ đã trở thành phi công quân đội hùng mạnh của đất nước Hoa Kỳ. Ra trường với tấm bằng xuất sắc trong tay, ông bà rất tin vào tương lai sáng lạn đang chờ con trai ở phía trước.
Đầu năm 1970, ông và Henry được điều sang Việt Nam. Henry được bổ sung cho đội bay của Hạm đội 7 lúc này đang làm nhiệm vụ ở Biển Đông và Vịnh Bắc bộ. Qua tìm hiểu, Simits được biết: Các tàu chiến của Hạm đội 7 thường xuyên tuần tiễn gần bờ biển Bắc Việt Nam. Hằng ngày nó thực hiện việc bắn pháo tiêu diệt những trận địa pháo phòng thủ bờ biển của Việt Cộng. Tại phía nam, các tàu chiến còn vào sát bờ nã pháo hạm hỗ trợ các cuộc hành quân của liên quân Mỹ - Sài Gòn. Tàu sân bay của Hạm đội 7 hằng ngày còn thực hiện nhiều phi vụ oanh kích các mục tiêu đánh phá nằm sâu trong đất liền của Bắc Việt Nam theo chỉ đạo từ Lầu Năm Góc. Hạm đội 7 đang sử dụng hai loại máy bay tiêm kích phổ biến là F-4 Phantom II và A-4 Skyhawk. Không biết Henry được phân công lái loại máy bay nào đây? Nghe nói, lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của Bắc Việt dày đặc và rất mạnh. Họ đã bắn hạ hàng trăm máy bay Mỹ. Không biết Hery bạn ông có may mắn không?
Còn ông thì được điều vào biên chế của Sư đoàn không quân Mỹ - Sư đoàn Kỵ binh bay số 1” đóng ở sân bay Biên Hòa, ngay sát với Sài Gòn.
Ban đầu, ông lái máy bay trực thăng làm nhiệm vụ chở quân và đổ quân trong những đợt hành quân tiêu diệt các đơn vị Việt Cộng ở Tây Ninh, Long An, Bến Tre…Chiếc HU1A của ông chủ yếu làm nhiệm vụ chuyển quân. Ông chưa phải nổ súng lần nào.
Cuối năm 1970, ông được điều sang sân bay Cò Rạt, Thái Lan. Tại đây, ông được phân công lái máy bay OV10, một loại máy bay trinh sát hạng nhẹ nhưng khá tối tân của Không quân Hoa Kỳ. Nó là máy bay phản lực với 2 cánh quạt và có hai thân. Nó khá nhẹ, trọng lượng chỉ hơn ba ngàn cân. Vì thế nó là loại máy bay trinh sát ưu việt nhất mà Không quân Hoa Kỳ hiện có. OV10 là sản phẩm của hãng North America, sản xuất năm 1965. Từ tháng 10 năm 1969 nó mới được trang bị trong biên chế của Không quân và Hải quân Hoa Kỳ. Tốc độ bay của nó hơn 450 km/h. Tầm bay 900 km, trần bay tối đa 9.000 m. Nó được trang bị 4 súng máy loại 7,2 ly… Nó có thể hoạt động trinh sát hàng giờ trên không. Chiếc OV10 có ghế ngồi cho hai phi công.
Lực lượng phi công tại căn cứ không quân ở Cò Rạt, lúc này đang rất thiếu. Hằng ngày sau những chuyến oanh kích Bắc Việt, ngày nào cũng có phi công mãi mãi không trở về căn cứ. Trong số ấy có nhiều người bị bắt làm tù binh khi bị bắn rơi. Simits không thuộc biên chế vào lực lượng máy bay tiêm kích đánh phá Bắc Việt. Ông được phân công trinh sát chỉ điểm trên “Đường mòn Hồ Chí Minh”.
Nói là “đường mòn” nhưng đó là những con đường mà Việt Cộng xẻ núi trên đất Lào tạo thành những con đường xuyên Trường Sơn cho xe cơ giới chạy. Có năm trục đường xuyên Trường Sơn chạy dọc từ bắc xuống phía nam. Những con đường ngang thì Việt Cộng mở nhiều vô kể. Đêm đêm, những chiến xa của quân đội Bắc Việt vẫn lầm lũi xuyên màn đêm chở vũ khí, đạn dược vào tiếp tế cho Việt Cộng ở miền Nam. Vì thế, không lực Hoa Kỳ tiến hành ngăn chặn dòng chảy của vũ khí, đạn dược, thuốc men, lương thực, thực phẩm tiếp tế của Việt Cộng trên “Đường mòn Hồ Chí Minh” vô cùng khó khăn, không hề đơn giản chút nào.
Trước khi ngồi lên ghế lái, ông đã có một tuần phải ngồi tìm hiểu hệ thống “Đường mòn” này trên bản đồ địa hình quân sự chi tiết. Sau đó, ông lại phải trải qua một chương trình bay làm quen chiếc OV10. Với kỹ thuật bay xuất sắc như ông và Hery thì việc làm quen với loại máy bay mới không khó khăn gì. Vả lại, tại Học viện Không quân, các học viên đều đã được làm quen với tất cả các loại máy bay mà Không quân Hoa Kỳ hiện có. Mọi việc với Simits đều diễn ra một cách hoàn hảo.
Tháng đầu tiên làm quen, mỗi ngày, ông chỉ phải thực hiện một chuyến bay để trinh sát “Đường mòn Hồ Chí Minh”. Tháng thứ hai, thực hiện mỗi ngày hai chuyến, có ngày phải xuất kích tới ba, bốn lần. Căn cứ Cò Rạt có một biên đội sáu chiếc OV10. Ông là phi công trẻ nhất trong biên đội. Các phi công còn lại đều là những phi công lão luyện với cả ngàn giờ bay. Vì thiếu phi công trầm trọng nên những chuyến bay trinh sát, trên mỗi chiếc OV10 chỉ có một phi công thực hiện cả hai nhiệm vụ: Điều khiển bay và trinh sát kiêm điều khiển các hỏa lực… Nhiệm vụ của các phi công OV10 là trinh sát khu vực. Nếu phát hiện khả nghi về lực lượng Việt Cộng dưới mặt đất, như vị trí trú quân, kho tàng, trận địa phòng không hay khói lửa do hoạt động của con người… Phi công OV10 sẽ lao xuống bắn đạn khói chỉ điểm và gọi cho các phi công lái F4H, F105 bay tới bắn phá. Có nhiều chuyến bay ông và đồng đội bay lượn rất nhiều để trinh sát mà không phát hiện ra bất cứ điều gì khả nghi dưới mặt đất…
III.CHỈ ĐIỂM CHO B52
Một ngày đầu tháng ba năm 1971. Theo lịch bay, từ sáu giờ sáng, ông phải thực hiện chuyến bay trinh sát tại một điểm “đỏ” cuối tỉnh Savanakhet, Lào. Điểm “đỏ” này là vị trí mà “con đường mòn” vượt qua một con suối lớn. Nó có tên trên bản đồ là Huội Mơn. Cả một vùng rộng lớn của điểm “đỏ” này đã bị không lực Hoa Kỳ cày nát. Những ngọn đồi trong khu vực cây cỏ cháy trụi. Đất rừng bị đào xới chỗ thì cháy đen, chỗ thì đỏ au của đất đá bị xáo trộn. Tại khu vực này của quân Bắc Việt có mấy trận địa pháo phòng không bảo vệ. Chúng được ngụy trang rất khéo. Khéo đến mức, nhiều chuyến bay trinh sát mà ông và các đồng nghiệp đều chưa phát hiện được ra…
Chiếc OV10 của ông đã lượn vòng tròn rồi bay hình chữ thập nhiều vòng nhưng vẫn chưa phát hiện được điều khả nghi dưới mặt đất. Ông lại cho chiếc OV10 bay thẳng xuống phía Nam, cách Huội Mơn hơn hai mươi ki lô mét. Con “đường mòn” lúc này tỏa ra mấy nhánh trước khi vượt qua con sông Sê Công. Ông được thông báo: Tại đây, quân đội Bắc Việt đã dùng đá lấp sông, tạo thành những con ngầm đá cho ô tô vượt sông. Xung quanh khu vực mấy con ngầm vượt sông này có nhiều trận địa cao xạ. Cánh rừng hai bên những con ngầm này đã bị không lực Hoa Kỳ thả bom napan, bom phát quang, bom đào và bắn tên lửa làm cháy rụi, để lại một mầu cháy đen cả một vùng rộng lớn. Năm 1970 khu vực này còn được máy bay rải chất độc làm trụi lá cây hàng ki lô mét vuông dọc hai bên con đường để tìm căn cứ của bộ đội Bắc Việt. Những quả đồi hai bên sông bị bom đạn san bằng, lở loét nham nhở. Quan sát từ trên không, ông cứ ngỡ đó là hình ảnh trên mặt trăng vậy… Nhiều lần bay trà sát mục tiêu nhưng chưa một lần ông phát hiện ra một dấu hiệu khả nghi nào từ hoạt động của con người ở đây. Chúng như một hoang mạc chết. Kỳ lạ là ban đêm những chiếc chiến xa của Việt Công vẫn lầm lũi băng qua những con ngầm này chở đầy vũ khí, đạn dược lao về phía Nam. Những chiếc F4H, F105 lao xuống quăng bom. Bất thần, từ hai bên bờ sông, những trùm đạn cao xạ bắn lên dữ dội. Những trận oanh kích ấy đã có không ít đồng đội của ông dính đạn, hoặc là rơi tại chỗ hoặc là trở về căn cứ với nhiều vết thương trên thân máy bay…
Kỳ lạ nhất là, ban ngày, chiếc OV10 của ông bay trinh sát hai bên con sông chỉ thấy một màu đen sạm, cây rừng cháy đen thui. Có nhiều cây còn đang cháy, khói bay lên nghi ngút. Vậy, các trận địa cao xạ của bọn Việt Cộng biến đi đâu? Chúng như tàng hình vậy? Hay những trận địa cao xạ ấy nấp ở những cánh rừng phía xa những con ngầm? Đến gần tối chúng mới được kéo pháo vào trận địa gần những con ngầm để sẵn sàng nổ súng bảo vệ những chiến xa vượt ngầm? Không thể có điều đó được! Một câu hỏi chưa có giải đáp cứ lơ lửng trong đầu ông và nhiều phi công đồng nghiệp…
Hãy quan sát rộng ra ngoài những “hoang mạc” này. Chẳng lẽ không phát hiện được một manh mối nào về hoạt động của con người ư? Nghĩ thế, Simits gạt cần lái cho máy bay vòng ra xa và nâng độ cao khỏi khu vực những con ngầm. Ôi trời! Cái gì thế kia? Từ độ cao hơn hai ngàn mét, Simits phát hiện ra một vệt sáng màu xanh từ vạt rừng phía nam khu vực các con ngầm. Ông quyết định cho chiếc OV10 lao xuống khu vực vừa có vệt sáng hắt lên. Một ngàn mét, tám trăm mét, năm trăm mét, ba trăm mét. Simits đã thực hiện một cú lao xuống cách mặt đất chưa đầy ba trăm mét rồi mới kéo mạnh cần lái cho chiếc OV10 ngóc đầu lên gần như thẳng đứng. Khi thực hiện cú lao “thần sầu” này, ông căng mắt quan sát và chụp ảnh. Ông không nghĩ mình vừa thực hiện một cú lao tử thần. Rất may, cú lao ấy thành công. Nhờ cú lao ấy mà ông đã phát hiện ra mấy mái nhà màu xanh lá cây lấp ló dưới những tán cây rừng. Rất có thể đây là một khu kho tàng hoặc là một nơi trú quân của quân đội Bắc Việt. Hãy quan sát thêm cho chắc chắn đã. Nghĩ rồi ông kéo cần lái cho máy bay bay lên cao thêm. Ông vòng lượn thêm ba vòng quanh khu vực vừa phát hiện khả nghi để quan sát. Kia rồi, có thêm một vệt khói nhỏ bay lên từ khu vực khả nghi. Vệt khói đâu rồi. Simits hạ thấp độ cao để quan sát. Vệt khói lúc nãy biến mất? Rõ ràng vị trí dưới đất có hoạt động của con người. Nếu như mọi lần, Simits sẽ lao xuống bắn đạn khói để báo hiệu cho lũ bạn lái F4H, F105 bay tới quăng bom. Nhưng lần này thì không. Simits gạt cần lái cho máy bay lao về căn cứ. Trên đường bay trở về, ông cầm bút chì đỏ khoang tròn khu vực khả nghi vừa rồi lên bản đồ.
-Tôi nghi khu vực này là vị trí kho tàng của Việt Cộng. Simits chỉ tay vào vị trí mình đã khoanh đỏ trên tấm bản đồ, nói với viên Đại tá chỉ huy cao nhất của không quân tại Cò Rạt.
-Anh có chắc chắn không? Viên Đại tá nhìn thẳng vào mắt ông, hỏi lại.
-Thưa ngài Đại tá, tôi chắc chắn. Vì bay ở độ cao chưa đầy ba trăm mét tôi đã thấy mấy mái nhà màu xanh lấp ló dưới những tán cây rừng. Lại quan sát thấy có khói ở gần đó bay lên rồi biến mất. Chắc chắn dưới đó có hoạt động của con người… Chỉ có điều tôi băn khoăn là, sao những mái nhà mà tôi quan sát được lại có màu xanh? Simits nêu thắc mắc của mình.
-Theo điều tra của chúng ta thì Việt Cộng thường dùng nilon dày màu xanh để lợp cho những mái nhà hoặc kho tàng của chúng để chúng “hòa vào” màu xanh của cây rừng. Phát hiện của cậu hoàn toàn đúng đấy. Khu vực này rất có thể là một khu kho tàng của Việt Cộng. Bức ảnh cậu chụp càng khẳng định điều đó. Được rồi! Cám ơn cậu! Cậu làm tốt lắm!
Simits được biết, sau cuộc báo cáo ấy của anh, căn cứ đã cho một tốp ba chiếc B52 tới khu vực được mình đánh dấu trên bản đồ rải bom xuống khu kho táng ấy của Việt Cộng.
Hôm sau bay trinh sát ở khu vực này, Simits quan sát thấy cả một cánh rừng màu xanh mà mình đánh dấu trên bản đồ hôm qua đã biến mất. Chúng bị cháy rụi. Cây rừng đổ ngổn ngang. Mặt đất loang lỗ vết bom.
Hôm sau, một tốp B52 lại được điều tới để rải bom. Lần này bom từ B52 được rải nối tiếp với trận bom hôm trước nhằm phá hủy hoàn toàn khu vực này.
Simits thầm nghĩ, trong chiến công xóa sổ một khu kho tàng của Việt Cộng, ông đã góp phần quan trọng bằng các tin tức từ kết quả trinh sát.
Mấy ngày sau, vào khoảng hơn sáu giờ sáng, tại phía nam của khu vực vượt sông Sê Công. Ông phát hiện ra có ba vệt bụi bay mù mịt trên một đoạn đường đất đỏ. Đó chắc chắn chỉ có thể là có những chiếc chiến xa đang chạy. Giờ này mà tụi lái xe của Việt Cộng vẫn chạy thì thật liều. Sao chúng không sợ bị máy bay phát hiện nhỉ? Ba vệt bụi trên đường bỗng nhiên tan biến. Sao nó biến mất nhanh như thế? Chỉ trong một vòng lượn, lúc quay trở lại thì ba vệt bụi đã mờ dần? Chắc chắn phát hiện ra máy bay trên đầu, ba chiếc chiến xa này đã chui vào cánh rừng bên đường? Chúng chui vào vạt rừng bên phải hay bên trái con đường? Simits cảm thấy bối rối trước sự biến mất kỳ lạ của những vệt bụi bay lên từ con đường đất đỏ dưới mặt đất. Ông cho máy bay lượn ra xa khỏi vị trí vừa trinh sát. Một lúc sau, ông lại thấy ba vệt bụi bốc lên trên mặt đường. Hẳn là ba chiếc chiến xa này đã chui ra khỏi rừng và tiếp tục chạy xuống phía Nam.
Ông nhanh chóng điều khiển chiếc OV10 vòng trở lại. Ông bấm nút bắn một quả đạn khói xuống phía những vệt bụi và thông báo cho tốp F105 đang hoạt động cách đó không xa.
Những quả tên lửa đã nhanh chóng trút xuống vệt khói đạn chỉ điểm của ông.
Ông gạt càn lái cho máy bay thẳng hướng tây để trở về căn cứ.
Chỉ mấy tháng sau, Simits đã được thăng quân hàm Đại úy.
Ông đã điện cho người bạn thân Henry của mình ở Hạm đội 7. Vừa để hỏi thăm, vừa để khoe mình được thăng cấp trước niên hạn.
IV.CHUYẾN BAY ĐỊNH MỆNH VÀ CUỘC GIẢI CỨU BẤT THÀNH
Hôm nay, Simits xuất kích sớm. Vẫn là trinh sát địa bàn hoạt động của “Đường mòn” thuộc tỉnh Savanakhet và tỉnh Tavenoọc, Nam Lào. Chuyến bay không phát hiện được một dấu hiệu nào khả nghi.
15 giờ chiều cùng ngày, ông xuất kích lần thứ hai.
Thời tiết đang mùa khô ở Lào. Trời không một gợn mây. Bầu trời xanh trong, cao vút, rất thuận lợi cho việc trinh sát dưới mặt đất.
Phải ngả mũ khâm phục Việt Cộng. Ban đêm họ rùng rùng chuyển động. Thế mà ban ngày không thể phát hiện được bất cứ một dấu hiệu nào của họ? Họ giấu mình sao tài tình thế? Nhiều lần bay trà đi sát lại, bay cao, bay xà xuống thấp mình đều không phát hiện ra bất cứ một dấu hiệu khả nghi nào. Simits cho máy bay bay rộng ra ở khu vực Huội Mơn. Hy vọng Việt Cộng có sơ hở. Nghĩ thế, ông cho máy bay của mình bay thật thấp cắt ngang vuông góc với con đường đất đỏ chạy qua Huội Mơn theo hướng từ tây sang đông. Với hướng bay này, ông suy nghĩ, không có gì nguy hiểm cho máy bay của mình. Tụi Việt Cộng không ngu gì mà bố trí trận địa cao xạ hướng pháo về phía ngược ánh sáng mặt trời như vậy.
Vòng thứ nhất không có chuyện gì xảy ra. Simits quyết định hạ thấp độ cao và bay vòng thứ hai để quan sát rõ hơn. Vì bay theo hướng từ tây sang đông nên theo chiều thuận chiếu sáng của mặt trời. Lúc này mặt trời đã bắt đầu xuống thấp, không thuận lợi cho quan sát của súng phòng không dưới mặt đất của Việt Cộng.
Bất ngờ, một loạt đạn cao xạ loại 37 ly từ một quả đồi cùng chiều với hướng bay của chiếc OV10 của Simits. Bị bất ngờ, không kịp xử lý, chiếc OV10 của ông đã dính đạn. Máy bay bốc cháy dữ dội. Đạn đã xuyên thủng thùng nhiên liệu. Ngọn lửa nhanh chóng chùm qua cả buống lái. Không thể xử lý được gì ngoài việc nhảy dù. Chỉ kịp nghĩ thế, Simits bấm nút. Chiếc ghế lái bay khỏi buồng lái. Chiếc dù bung ra bay lơ lửng trên khu vực Huội Mơn. Simits cố gắng lái dù ra khỏi khu vực. Rồi ông nhanh chóng phát tín hiệu SOS về căn cứ. Vì bung ở độ cao khá thấp nên chiếc dù của ông đã nhanh chóng rơi xuống cách không xa ngọn đồi mà loạt đạn từ đó bắn lên.
Simits vô cùng bối rối. Ông chưa chuẩn bị cho mình tình huống này. Ông tin vào tính ưu viết của máy bay trinh sát hiện đại của không lực Hoa Kỳ. Ông tin vào kinh nghiệm lái của mình. Nhưng ông không ngờ chuyến bay chiều nay trở thành chuyến bay định mệnh.
Vừa chạm đất, Simits nhanh chóng thoát khỏi chiếc dù của mình. Ông liên tục phát tin hiệu SOS về căn cứ. Ông tin rằng, với thiết bị hiện đại có trong tay, không lâu nữa, căn cứ sẽ huy động lực lượng giải cứu nhanh đổ bộ để giải cứu mình. Ông quan sát và nhanh chóng tìm vị trí ẩn nấp rồi chờ đợi. Simits tìm một lùm cây khá rậm rạp rồi nhanh chóng chui vào đó. Một tay ông cầm chặt khẩu súng ngắn trong tay. Tay kia không rời chiếc máy phát tín hiệu SOS. Nhất định mình sẽ được giải cứu! Ông tin vào điều đó. Miệng ông không ngớt cầu Chúa giúp ông thoát khỏi kiếp nạn này…
***
Chỉ khoảng mười lăm phút sau, ông đã nghe thấy tiếng máy bay từ hướng tây bay tới. Đó là một tốp ba chiếc F4H. Chúng lượn một vòng rồi hạ độ cao. Từ trên không, ba chiếc nối đuôi nhau bay thành một hình vòng tròn trên không và liên tục bắn đạn đỏ rực xung quanh vị trí ông đang nấp. Khói lửa mù mịt.
Các phi công như ông đã được học rất kỹ về tình huống và phương án giải cứu phi công dưới mặt đất. Các chiến đấu cơ sẽ bắn đạn giấy, tạo thành một vòng tròn với đường kính khoảng ba bốn trăm mét quanh vị trí phi công rơi trên mặt đất để uy hiếp đối phương nhưng không gây sát thương cho phi công dưới mặt đất. Sau đó lực lượng giải cứu sẽ từ trực thăng đổ quân xuống mặt đất nhanh chóng giải cứu phi công. Vì thế nghe tiếng đạn nổ, ông rất mừng. Mình sẽ nhanh chóng được đồng đội giải cứu. Simits nhắm mắt tiếp tục cầu Chúa.
***
Bỗng tiếng quát “Sờ ten ấp” (Stanđ up) vang lên. Tiếp theo là tiếng hô “Hen ấp!” (Hands up) rất dứt khoát. Simits giật mình, mở mắt ra thì đã thấy ba họng súng AK đang chĩa thẳng vào ông. Ba người lính Việt Cộng tay lăm lăm súng dí sát vào ông. Lùm cây mà ông nấp đã bị những bàn chân của mấy người lính này đạp cho ngả rạp xuống. Một người lính nhanh chóng tước chiếc máy phát tín hiệu đang nhấp nháy trên tay Simits. Anh ta loay hoay tìm nút tắt. Một lúc sau, chiếc máy phát tín hiệu SOS đã bị tắt. Một người lính khác nhanh chóng giật phăng khẩu súng ngắn trên tay ông. Người lính thứ ba đã túm lấy cổ áo ông kéo ông đứng dậy và kèm theo tiếng quát “Gâu! Gâu!”(Go! Go!).
Hai người lính túm lấy hai tay áo ông, kéo ông chạy nhanh ra khỏi vòng lửa đạn mà ba chiếc máy bay F4H vẫn không ngừng bay vòng tròn xả xuống.
Không biết những người lính này có phát hiện ra lửa đạn đang bao trùm lấy khu vực này là đạn giấy hay không mà họ lao đi không một chút sợ hãi.
Mặc cho cây cối cào lên mặt, lên người, những người lính cứ kéo ông chạy như điên để nhanh chóng thoát ra khỏi vòng đạn lửa. Simits thấy nhói lên ở bắp chân bên trái. Có cảm giác anh ta bị một vật gì đó sắc nhọn cứa lên bắp chân. Nhưng Simits đâu có quyền dừng lại để xem xét. Anh tiếp tục bị hai người lính xốc nách kéo đi băng băng trong rừng. Không biết những người lính này đến từ đâu mà nhanh như vậy? Simits thất vọng với chính mình. Thế là mình đã không được giải cứu rồi! Mình đã bị bắt! Số phận mình rồi sẽ ra sao...Olivia ơi! Vĩnh biệt em!...
Chưa đến nửa giờ sau có ba chiếc trực thăng bay đến từ hướng tây. Sau khi quan sát nhanh, chúng hạ độ cao rồi rồi đáp xuống đất trong vòng lửa mà tốp F4H tạo nên. Mỗi chiếc máy bay có một tiểu đội lính phản ứng nhanh với trang bị gọn nhẹ và hỏa lực mạnh. Một trung đội lính phản ứng nhanh nhanh chóng túa ra từ bụng ba chiếc trực thăng, nhanh chóng chiếm lĩnh địa hình. Mới đây từ trên không các máy bay còn nhận được tín hiệu SOS từ dưới mặt đất của phi công Simits. Vậy mà bây giờ họ không còn thấy tín hiệu? Có thể viên phi công này bị thương rồi không? Hay máy phát tín hiệu trục trặc? Mệnh lệnh được phát ra: Dốc toàn lực tiếp tục truy lùng phi công Simits!
Trung đội lính phản ứng nhanh tỏa ra lùng sục. Sau gần nửa giờ, cuộc lùng sục thất bại. Bóng dáng viên phi công Simits vẫn mất tăm!
Đội quân phản ứng nhanh đành phải nhanh chóng về lại máy bay. Trên nền bầu trời ba chiếc trực thăng mất hút ở chân trời phía tây.
Lúc này mặt trời đã khuất sau ngọn núi.
***
Sau nửa giờ liên tục chạy, những người lính đã đưa ông tới một ngôi nhà ẩn dưới tán cây rừng. Nó được đào nửa nổi nửa chìm trong lòng đất.
Ông được dẫn giải vào trong nhà hầm.
Ngồi trước một cái bàn được làm hoàn toàn bằng nứa, là một người chỉ huy. Ngồi cạnh bên ông ta là một người lính trẻ hơn, khoảng hai bốn, hai lăm tuổi gì đó. Simits cảm thấy bối rối. Họ đưa ông đến đây làm gì? Hỏi cung ư? Ông liếc nhanh căn nhà hầm. Không thấy có bất cứ một dụng cụ tra tấn nào, ngoài ba người lính đã bắt giữ và dẫn giải ông vẫn đang bồng súng đứng nghiêm trang trong hầm. Ông bớt lo lắng phần nào.
Người chỉ huy ra hiệu cho Simits ngồi xuống một chiếc ghế được lát bằng những thanh nứa. Một người lính mở dây trói cho Simits.
Viên chỉ huy chuẩn bị lên tiếng thì một tay Simits giơ lên, một tay kéo ống quần, chỉ vào bắp chân trái của mình, ra hiệu mình bị thương, cần được băng bó. Viên chỉ huy đứng lên. Ông ta nhìn vào cái chân trái của viên phi công. Một vết rách máu đang rỉ ra. Ngay lập tức ông ta ra lệnh kêu quân y tới xử lý vết thương cho viên phi công Mỹ.
Một người lính chạy vào hầm. Trên vai anh ta đeo một túi cứu thương. Người lính quân y nhanh chóng xử lý vết thương bằng cồn. Tiếp theo là rắc kháng sinh lên vết thương rồi băng lại. Người lính quân y chuẩn bị tiêm cho viên phi công một mũi thuốc. Thấy vậy, Simits vội ngăn lại. Anh ta nghi ngờ mình có thể bị tiêm thuốc độc. Thấy vậy, anh lính phiên dịch vội tiến đến để giải thích cho viên phi công Mỹ: Đây chỉ là thuốc phòng chống vi trùng uốn ván. Tuy nhiên, anh ta không biết từ uốn ván tiếng Anh là gì. Anh ta phải vất vả kết hợp với động tác chân tay mới khiến viên phi công hiểu ra. Việc băng bó vết thương và tiêm phòng uốn ván đã xong. Cơ thể Simits như dịu lại. Anh ta ngồi xuống ghế.
Lúc này viên chỉ huy mới lên tiếng hỏi:
-Tên, chức vụ của ông?
Người lính trẻ ngồi cạnh ông nhắc lại câu hỏi của ông ta bằng tiếng Anh. Anh ta phát âm chưa chuẩn lắm nhưng Simits cũng hiểu.
Simits trả lời: Simits. Cấp bậc Đại úy.
Nghe Simits trả lời, người lính trẻ lúng túng khi phiên dịch ra tiếng Việt.
-Ông bay từ đâu đến? Người lính trẻ lại dịch ra tiếng Anh. Simits cười thầm vì phát âm tiếng Anh của anh ta khá dở. Tuy nhiên Simits vẫn hiểu người chỉ huy kia muốn gì. Simits trả lời mình bay từ sân bay Cò Rạt, Thái Lan.
Người lính trẻ lại dịch sang tiếng Việt cho vị chỉ huy của mình nghe mà Simits nghe không hiểu.
-Ông làm nhiệm vụ trính sát bao lâu rồi? Vị chỉ huy tiếp tục hỏi. Người lính trẻ tỏ ra rất khó khăn trong việc tìm từ ngữ diễn đạt để viên phi công hiểu câu hỏi mà vị chỉ huy kia muốn biết. Cuối cùng thì mọi việc cũng qua đi.
Viên chỉ huy đứng dậy và bước ra khỏi nhà hầm.
Trong nhà hầm lúc này chỉ còn lại người lính trẻ “phiên dịch viên” trong việc hỏi cung vừa diễn ra và ba người lính súng AK vẫn lăm lăm trong tay.
Người lính phiên dịch ra hiệu gì đó với một trong ba người lính gác trong hầm. Một lúc sau, anh ta mang vào hầm một chiếc khay bằng nhôm màu xanh xám đựng thức ăn và cơm. Qua việc trao đổi giữa viên chỉ huy ban nãy với người lính phiên dịch, Simits nghe được viên chỉ huy gọi anh ta là “Tran Kien” (Trần Kiên).
Tran Kien ra hiệu cho một người kính mang vào một bi đông nước để Simits rửa tay. Rồi anh ta chỉ tay vào đĩa thức ăn đặt trên bàn, mời Simits ăn tối. Bữa ăn có cơm, rau luộc, một ít bột cá rang mặn và mấy miếng thịt lợn… Đây là lần đầu tiên Simits ăn cơm kiểu của người Việt mà lại là khẩu phần ăn của lính Việt Cộng. Bụng đói, dù khá chật vật với chiếc thìa và đôi đũa trên tay Simits đã nhanh chóng chén hết khẩu phần ăn dành cho một tù binh như ông ta. Dù chưa bao giờ ăn loại rau luộc này nhưng Simits vẫn chén một cách ngon lành. Mãi tới sau này Simits mới biết đó là rau tàu bay, loại rau rừng rất sẵn ở Trường Sơn. Rau tàu bay luôn xuất hiện trong bữa ăn của lính Việt Cộng ở Trường Sơn.
Bữa ăn thêm một ngạc nhiên nữa đối với Simits. Từ khi bị bắt đến lúc này mình chưa bị đối xử bằng bạo lực nào. Bữa ăn và thái độ của những người lính đối với ông thật dễ chịu, cho dù trong ánh mắt của họ khá nghiêm nghị và đầy cảnh giác.
Sau bữa ăn, Simits ngồi thừ người trên ghế. Anh thật sự bối rối. Anh không tin nổi máy bay của mình bị bắn và bị bắt thế này. Mọi việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sự tưởng tượng của mình. Chẳng lẽ cam chịu số phận tù binh này sao? Liệu có cơ hội nào trốn thoát không? Biết đâu đấy, Chúa sẽ rủ lòng thương mà tạo cơ hội cho mình? Nhưng bây giờ hãy bắt đầu từ cái chân bị thương của mình. Vết thương chỉ dài khoảng năm xăng ti mét thôi, lại không sâu. Từ khi được người lính quân y xử lý vết thương, Simits thấy vết thương dịu đau nhiều. Hãy dùng vết thương này để đánh lừa những người lính kia. Thấy cái chân đau của mình đi lại khó khăn, họ sẽ mất cảnh giác…
Nghĩ thế, tay Simits liên tục đặt lên vết thương, miêng khẽ rên làm như vết thương bị đau nhức lắm. Động tác của Simits không lọt khỏi những con mắt của những người lính canh gác trong căn hầm.
Đêm ấy là đêm đầu tiên trong đời Simits ngủ trong căn nhà hầm giữa rừng. Một người lính đã mắc một chiếc màn lên chiếc giường phía trong cùng căn hầm để Simits ngủ qua đêm. Ngủ cạnh Simits là người lính phiên dịch Tran Kien. Hai người lính trẻ thì ngủ ở hai chiếc giường hai bên cửa hầm. Chắc là để canh gác. Simits không làm sao nhắm được mắt. Anh miên man nghĩ về số phận của mình. Anh nghĩ về người vợ thân yêu của mình…
***
Tù binh Simits không bị trói chân, trói tay. Anh ta nằm trên giường một cách thoải mái. Được đối xử khá tử tế, Simits không còn tin vào những điều mà trước đó anh ta được phổ biến về sự đối xử tàn ác của Việt Cộng đối với tù binh của đối phương. Simits không lý giải được điều này. Tại sao những người Việt Cộng từ chỉ huy đến người lính lại đối xử tử tế với một tù binh như anh? Có phải vì mình là một phi công có giá trị hay không? Tại sao một phi công chỉ điểm nhiều cuộc bắn phá gây thiệt hại cho đối phương đã không bị trả thù mà lại được đối xử rất tình người? Bao nhiêu câu hỏi cứ xuất hiện không ngớt trong cái đầu của Simits. Ông suy nghĩ về tình cảnh hiện nay của mình. Tương lai dường như khép lại với Simits khi ông đang nằm trong tay kẻ thù của nước Mỹ. Liệu Việt Cộng có trao trả tù binh không? Hiện nay Việt Cộng và Hoa Kỳ đang là kẻ thù của nhau, sao có chuyện này được? Chả lẽ mình sẽ phải sống những năm tháng còn lại của cuộc đời ở trong đại ngàn Trường Sơn này ư? Chẳng lẽ mình mãi mãi không được gặp lại người vợ trẻ Olivia nữa sao? Trước khi sang Cò Rạt, Simits được nghỉ phép về Texar. Anh đã làm đám cưới với Olivia, một cô gái hàng xóm học dưới anh ba lớp. Olivia là một cô gái xinh đẹp, hiền dịu. Họ có một tuần bên nhau, hạnh phúc. Sự nhẹ nhàng, hiền dịu của Olivia đã cho Simits những giờ phút hạnh phúc của một chàng trai. Những chiếc hôn ngọt ngào dài bất tận. Những cái ôm thật chặt khiến hai cơ thể như hòa tan làm một. Những làn da trắng sáng mềm như nhung. Đôi bồng đảo của em hừng hực, quyến rũ. Họ quấn vào nhau hàng giờ không muốn rời nhau. Olivia đã đưa Simits tới tận cùng của cảm xúc. Simits như thấy trời đất quanh mình như xà xuống, tiếp thêm sức mạnh cho đôi trai gái đang quấn quýt bên nhau… Chỉ một tháng sau khi sang Cò Rạt, Olivia báo tin cho chồng: Em đã chậm chu kỳ hàng tháng của phụ nữ một tuần rồi. Có lẽ nào em đã mang thai? Em mong điều đó là hiện thực… Ba tháng sau, Olivia khẳng định với Simits: Chắc chắn em đã mang thai. Chúng ta đã có con rồi anh yêu! Em mong đứa con đầu lòng của chúng ta sẽ là con trai, anh ạ. Anh hãy đặt tên cho con trai chúng mình đi, anh…
Giờ thì đứa con trai của họ đang ở tháng thứ sáu rồi. Chỉ ba tháng nữa thôi, đứa con trai như mong ước của Olivia sẽ chào đời. Nó chào đời mà không có cha ở bên cạnh. Bao giờ con trai của anh mới được gặp cha của nó? Liệu nó có là đứa con mồ côi không? Không thể xảy ra điều đó được! Mình sẽ trở về bên Olivia và con trai. Đặt tên gì cho nó, anh đã viết trong bức thư gửi cho Olivia. Anh định, sau chuyến bay hôm nay sẽ viết thêm vài dòng nữa sẽ gửi cho Olivia. Nhưng bức thư ấy mãi mãi nằm yên trong ngăn kéo trên bàn làm việc của mình rồi…
Thương Olivia và con trai quá chừng! Nước mắt Simits trào ra khóe mắt. Nước mắt cứ chảy mãi… Hai mắt Simits nhắm lại. Nhưng các ý nghĩ thì cứ dồn dập ùa về khiến ông không làm sao ngủ được. Chỉ đến khi gần sáng Simits mới thiếp đi vì mệt mỏi…
Hôm ấy, sau bữa sáng, Simits được dẫn giải lên đường. Luôn đi kèm bên Simits là người lính phiên dịch Tran Kien. Hai người lính trẻ hôm qua, một người đi trước, một người đi sau. Tay của những người lính này luôn nắm chặt khẩu AK trong tay. Trước khi lên đường, Tran Kien nói câu “So-ri” rồi trói hai cổ tay Simits bằng một sợi dây dù màu xanh. Tay anh ta nắm chặt một đầu dây và đi song song với Simits.
-Mình đang được dẫn đi đâu đây? Câu hỏi cứ hiện lên trong đầu mà Simits không tự tìm được câu trả lời. Cuối cùng, Simits mạnh dạn hỏi. Tran Kien trả lời bằng tiếng Anh: “Chúng ta ra Hà Nội!”
Ra Hà Nội ư? Từ rừng Savanakhet, Lào đến Hà Nội xa cả ngàn ki lô mét. Chắc chắn là phải đi bộ. Bao giờ mới tới Hà Nội đây? Ra Hà Nội, mình sẽ phải vào “Khách sạn Hin - tơn” Hỏa Lò Hà Nội như báo chí đã đưa tin về nơi giam giữ phi công Mỹ bị bắn rơi ở Bắc Việt Nam ư? Qua báo chí, Simits biết, Hỏa Lò là một nhà tù giữa lòng Hà Nội được người Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ XX để giam giữ những người Cộng sản ở Đông Dương…Simits cũng biết phi công Everett Alvarez là viên phi công Hoa Kỳ đầu tiên bị bắt năm 1964 vẫn đang bị giam giữ tại “Hilton Hà Nội”. Chả lẽ mình sẽ phải chung số phận với Everett Alvarez, với John Mc Cain sao? Simits ngàn lần không muốn thế!
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Simits: Phải tìm sơ hở, đó là cơ hội để trốn thoát. Mình đã nghiên cứu rất kỹ địa hình trên bản đồ rồi. Từ con “đường mòn” trên bản đồ, nơi chiếc OV10 của mình bị bắn rơi, đi về hướng tây chỉ vài giờ đồng hồ sẽ tới được địa phận của chính quyền Hoàng Gia Lào quản lý. Họ là đồng minh với Hoa Kỳ. Cơ hội trốn thoát và được giúp đỡ là rất lớn. “Trốn thoát” là hai từ xuất hiện gần như thường trực trong đầu Simits. Ông thấy mình cần tận dụng triệt để cái chân trái bị thương của mình. Tuy nó chỉ là vết rách nhỏ trên da bắp chân trái, nhưng Simits vẫn cố đi cà nhắc chứng tỏ chân của mình đau nhức, không thể hoạt động bình thường được…
Người “lính phiên dịch” này chắc ít tuổi hơn mình? Simits nghĩ trong đầu. Cậu ta là một chàng trai khá to cao so với những người lính mà Simits đã gặp kể từ khi bị bắt. Rất tiếc vốn tiếng Anh của anh ta hạn chế quá, nếu không mình và anh ta sẽ trao đổi được nhiều thông tin cần thiết. Sau một cuộc nói chuyện vô cùng khó khăn, Simits biết “người phiên dịch” của mình đã từng học hết năm thứ nhất đại học. Cậu ta được học tiếng Anh từ năm thứ nhất này. Cậu ta rời trường để vào Trường Sơn đã hai năm nay. Với vốn tiếng Anh của một năm đại học, lại bỏ không dùng đến hai năm rồi, nên anh ta đã quên nhiều. Cậu ta là lính tiểu đội trinh sát của một đơn vị cao xạ ở Huội Mơn. Khi mình bị bắt, anh ta mới được “trưng dụng” làm phiên dịch bất đắc dĩ. Cậu ta là một người thông minh nên dù có quên, cậu ta cũng đã vận dụng trí nhớ tuyệt vời của mình để có thể nghe hiểu một phần thông tin từ Simits. Chỉ có điều phát âm của cậu ấy thì khá dở. Nghe anh ta nói, Simits phải cố suy luận mới hiểu cậu ta định nói gì. Thế còn hơn không. Nếu không có cậu ta thì từ chiều hôm qua mình không hiểu những gì xảy ra xung quanh mình…
V.CHUYỆN Ở TRẠM GIAO LIÊN TRƯỜNG SƠN
Quá buổi trưa hôm ấy, Simits được đưa tới một trạm giao liên. Trạm giao liên đã dành riêng một nhà hầm để Simits và Tran Kien ở. Hai cậu lính tham gia dẫn giải Simits tới giao cho trạm giao liên đã trở về đơn vị của họ. Chỉ còn lại Simits và Tran Kien ở lại. Trạm giao liên đã cử tới một người lính cảnh vệ bồng súng đứng gác trước cửa nhà hầm mà Tran Kien và Simits ở.
Simits đảo mắt quan sát nhanh toàn bộ trạm giao liên. Phải có tới hơn mười căn nhà hầm như căn nhà mình đang ở. Tất cả đều được làm dưới những cây rừng cao lớn, tán lá xòa che một cách kín đáo. Simits không thể tưởng tượng được dưới tán cây rừng, cuộc sống ở trạm giao liên này lại sôi động như thế. Người ta đi lại, nói cười thật vui vẻ. Hóa ra, dưới những tán cây rừng của đại ngàn Trường Sơn, quân đội Bắc Việt có một cuộc sống và hoạt động thật khác, ngoài sức tưởng tượng của mình. Nghệ thuật xây dựng những căn nhà nép mình dưới những tán cây rừng ken dày như thế, hèn nào các loại máy bay của không lực Hoa Kỳ không thể phát hiện ra. Khu vực trạm giao liên này chỉ cách khu vực Huội Mơi chừng gần ba giờ luồn rừng. Như thế nó không quá xa khu vực con đường ô tô đi qua Huội Mơn. Tức là hàng ngày máy bay OV10 của mình bay trinh sát khu vực Huội Mơn đã bao lần bay trên đầu cái trạm giao liên này mà tuyệt nhiên không phát hiện ra nó. Thật bái phục nghệ thuật xây dựng doanh trại ở Trường Sơn của Việt Cộng!
***
Hôm ấy trạm giao liên có Đoàn thiếu nhi miền Nam và hai đoàn cán bộ ra Bắc được nghỉ lại trạm giao liên một ngày.
Hơn mười một giờ, cả trạm giao liên xôn xao khi Simits xuất hiện. Mọi người nhanh chóng được biết: Đây là một phi công Mỹ mới bị bắt làm tù binh. Ông ta cao lớn, mũi lõ, da trắng hếu. Một bên chân viên phi công này bị thương khiến ông ta đi cà nhắc.
Tiếng ồn ào khiến Hà và Hùng – thành viên của đoàn thiếu nhi cùng choàng dậy. Chúng đi ra khỏi lán. Viên phi công Mỹ và chú bộ đội áp giải nó đang ở trong cái nhà hầm cạnh hầm của Hà. Hai chị em nó tò mò tìm hiểu. Lúc này, chú bộ đội áp giải tên phi công Mỹ đang đứng trước cửa hầm. Bên hông chú đeo một khẩu súng ngắn. Bên cạnh đó là một con dao găm.
Tên phi công Mỹ đang ngồi trong nhà hầm.
Chú bộ đội đeo súng ngắn bước ra ngồi trên một chiếc ghế kế bên cửa hầm. Mắt chú luôn nhìn vào hầm, theo dõi thằng Mỹ ăn trưa.
Cái Hà mạnh dạn tới gần, gật đầu chào. Chú ấy cũng chào lại một cách thân thiện.
- Cháu ra Bắc hả?
- Dạ…Chú ơi. Mình bắt được nó ở đâu vậy?
- Chiều hôm qua ở Huội Mơn, cháu ạ. Nhưng cháu không biết Huội Mơn đâu. Đấy là một trọng điểm nằm giữa Binh trạm 34 và Binh trạm 35, cháu ạ. Thằng này lái máy bay OV10. Cháu có biết máy bay OV10 không? Nó là loại trinh sát có hai thân. Bộ đội Trường Sơn bọn chú gọi nó là “Thằng gọng bừa”. Thằng OV10 này cực kỳ nguy hiểm. Nó chuyên bay thám thính dai như đỉa trên không. Nếu phát hiện điều gì khả nghi dưới mặt đất, nó lao xuống bắn đạn khói chỉ điểm cho bọn máy bay tiêm kích bay tới quăng bom, bắn tên lửa. Thằng này là một phi công lão luyện mới bay được máy bay OV10 đó cháu ạ.
- Thế thì nó nhiều lần chỉ điểm cho đồng bọn tới đánh phá ta rồi chú nhỉ? Hà hỏi nhưng cũng là khẳng định.
- Phải đó cháu. Chiều qua số thằng này nhọ rồi. Nó chủ quan bay khá thấp để quan sát. Không ngờ hai loạt đạn cao xạ 37 ly của đơn vị chú bắn lên từ trận địa bí mật đón lõng ở rìa trọng điểm Huội Mơn. Máy bay trúng đạn, buộc nó phải nhảy dù để bảo toàn tính mạng. Cái dù của nó rơi cách trận địa pháo không xa. Lập tức các lực lượng quanh trọng điểm được lệnh vây bắt phi công…
Tên này rất cáo già. Nó luôn phát tín hiệu SOS để đồng bọn tới giải cứu. Chỉ ít phút sau, một lũ máy bay các loại bâu tới. Bọn tiêm kích bắn đạn vòng tròn xung quanh vị trí thằng phi công đang đứng. Khói lửa ngút trời. Hóa ra chúng bắn toàn đạn giấy để uy hiếp ta mà không gây sát thương cho tên phi công dưới mặt đất, cháu ạ. Một lúc sau, có ba chiếc trực thăng của chúng bay tới. Chúng đang tìm cách đổ quân xuống giải cứu tên phi công đồng đội của chúng. Nhưng nó làm sao nhanh bằng bộ đội ta. Lực lượng bộ binh và đơn vị chú đã xuyên rừng nhào tới bắt sống tên này. Bộ đội ta thông minh tắt máy phát tín hiệu cấp cứu vệ tinh của nó. Rồi nhanh chóng đưa tên này thoát nhanh ra khỏi vị trí nó vừa đứng.
Khi máy bay trực thăng đổ quân xuống giải cứu thì tên phi công đã không còn ở đó nữa…Theo giấy tờ trên người nó thì tên phi công này là một đại úy.
Các chú áp giải nó ra Bắc đó cháu.
-Thế thì chú đồng hành cùng với các cháu rồi. Hà cười, nhìn chú bộ đội đang cởi lòng bằng con mắt rất thiện cảm. Nó vội hỏi làm quen:
- Dạ, chú tên gì chú?
- Chú là Trần Kiên. Quê chú ở Nam Hà. Còn cháu?
- Dạ cháu là Mai Hà, ở Trảng Bàng, Tây Ninh ạ. Chú Kiên gật đầu với Hà, rồi chú bước nhanh vào hầm.
Bằng mấy câu tiếng Anh, chú dẫn thằng phi công Mỹ lên khỏi hầm. Chú cho nó ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa hầm để sưởi nắng. Tụi Mỹ rất khoái tắm nắng mà?
- Chú biết tiếng Ăng Lê sao? Hà hỏi.
- Một chút để giao tiếp thôi mà. Chú được học tiếng Anh hết năm đầu tiên đại học thì vào Trường Sơn. Bây giờ thì quên nhiều rồi.
- Chú cho cháu hỏi vài câu tên phi công này nhé?
- Cháu có học tiếng Anh à?
- Dạ cũng mới học thôi chú.
- Cháu cứ hỏi tự nhiên.
Hà tiến lại trước mặt viên phi công Mỹ:
- Which state in the United States are you from? (Ông đến từ bang nào nước Mỹ?)
Viên phi công Mỹ ngạc nhiên khi thấy trong rừng lại có một cô bé gái hỏi chuyện mình bằng tiếng Anh. Hắn nhìn Hà với con mắt dò hỏi nên chưa trả lời.
Đúng lúc này nghe tin có phi công Mỹ ở trạm giao liên, Đoàn thiếu nhi Miền kéo đến gần như đông đủ. Tụi nhỏ đứng vây quanh cái Hà. Viên phi công Mỹ lúng túng trước đông đảo các em nhỏ. Thấy vậy, cái Thảo Hóc Môn lách người tiến đến trước mặt phi công. Thảo sắp học hết lớp tám. Vốn tiếng Anh của nó cũng khá. Nó lên tiếng hỏi:
- Why did you come here to invade our country? (Tại sao ông lại tới đây xâm chiếm đất nước chúng tôi?)
Viên phi công Mỹ trả lời:
- You’re wrong, I’m fighting in Laos, not Vietnam. (Mày nói sai rồi. Tao đang đánh nhau trên đất Lào, không phải là trên đất nước Việt Nam).
- Laos and Vietnam are one. (Nước Lào và Việt Nam là một). Hà vội chất vấn. Simits chưa chịu trước mấy đứa nhóc tỳ này.
- "Vietnamese people are invading Laos. You knew that." (Người Việt Nam đang xâm lược Lào. Mày biết điều đó mà).
Nghe thế, cái Thảo quát lên:
- Nonsense! You're lying! (Vô lý! Ông nói láo!)
Rồi không ai bảo ai, tất cả tụi nhỏ đều giơ tay hô: “Ông nói láo! Ông nói láo!”
Phi công Simits từ ngạc nhiên đến sợ hãi. Ông ta cúi mặt xuống không dám ngẩng lên nhìn đám con nít. Simits nghĩ nhanh trong đầu: “Một đất nước thật kỳ lạ!”
Để bảo đảm an toàn cho viên phi công, chú Trần Kiên vội bước tới dắt tay Simits đi vào hầm. Trần Kiên quay ra bảo:
- Phi công Mỹ này sợ các cháu thật đấy! Các cháu về nghỉ đi. Nói với ông ta thế đủ rồi!
Tụi nhỏ tiếc không được tiếp tục chất vấn, mắng nhiếc viên phi công Mỹ này vài câu nữa.
Tỏa về các lán ngủ mà nhiều đứa còn tiếc hùi hụi.
V.CUỘC CHẠY TRỐN TRONG ĐÊM
Đêm ấy, Simits ngủ lại tại căn nhà hầm cùng với Tran Kien. Ông được chỉ định ngủ trên cái giường ở góc trong cùng. Cạnh đó là giường của Tran Kien. Cái giường gần cửa hầm là giường của người lính được cử canh gác Simits ngay từ khi ông được dẫn giải tới đây.
Cái giường của Simits làm bằng các thanh gỗ rừng. Mặt giường được lát bằng những tấm nứa. Ngay từ thuở lọt lòng, Simits đã được ngủ trên những tấm nệm êm ái. Vì thế phải ngủ trên sạp nứa, lưng Simits đau nhừ. Simits liên tục trở mình, không làm sao ngủ được. Ông nằm ngửa, mắt nhìn lên đỉnh màn tuyn mà Tran Kien đã mắc cho ông. Ý nghĩ chạy trốn tiếp tục xuất hiện. Chạy trốn bằng cách nào? Nếu không chạy trốn đêm nay thì không bao giờ nữa? Ông nhớ như in tấm bản đồ địa hình mà mình đã xem, đã nghiên cứu không biết bao nhiêu lần. Sau mỗi lần bay trinh sát trở về, Simits đã dành cả giờ với chiếc kính lúp trên tay, ông soi từng vị trí địa hình mà hôm nay đã trinh sát. Rồi ông xem kỹ địa hình cho chuyến bay trinh sát ngày mai…Con đường mòn giao liên chắc chắn phải nằm ở phía tây con đường đất đỏ dành cho các chiến xa của Việt Cộng rồi. Nó không thể ở quá xa đường ô tô. Theo địa hình, trạm giao liên này cách địa phận do lực lượng Lào thân Mỹ không xa lắm. Chỉ khoảng hai ba giờ đi bộ về hướng tây mà thôi. Đây là cơ hội vàng với mình. Ban ngày khi tới đây, Simits đã quan sát rất kỹ địa hình địa vật từ ngôi nhà hầm “giam giữ” mình. Hướng tây khi ra khỏi cửa hầm sẽ đi vuông góc bên tay phải. Mình phải lao vào rừng từ đây…
Tim Simits đập dồn dập khi nghĩ về từng bước phải tiến hành khi muốn thoát ra khỏi căn nhà hầm. Hai con mắt anh mở thao láo. Tai lắng nghe mọi động tĩnh từ cậu lính phiên dịch đang ngủ bên cạnh. Rồi quan sát động tĩnh từ người lính canh gác ở cạnh cửa hầm…Phải chờ đến đêm khuya thôi. Nghĩ thế, dù hai con mắt đã cay xè nhưng Simits vẫn không dám ngủ. Đêm nay có thể là cơ hội cuối cùng.
Giờ này tiếng nổ ầm ầm của bom cùng tiếng đạn nổ của súng cao xạ bắn lại máy bay Mỹ từ các trọng điểm trên con đường mòn vẫn vọng về. Các tiêm kích của đồng đội vẫn cần mẫn ngăn chặn những chiếc chiến xa đêm đêm vượt qua trọng điểm tiến về phía nam… Sau những loạt đạn cao xạ ấy, có đồng đội nào của mình ở Cò Rạt bị bắn rơi không? Simits vội xua ngay ý nghĩ vừa xuất hiện trong đầu. Kệ chúng nó. Hãy tập trung lo cho chính mình đi. Phải tự hành động thôi. Lúc này không thể trông chờ vào bất cứ ai. Chỉ một mình ta đối mặt với hiểm nguy thôi! Chúa sẽ thương mình! Nhất định mình sẽ được Chúa che chở. Nhất định! Nhất định!... Cứ thế Simits lẩm nhẩm trong đầu không ngơi…
Sương đêm bắt đầu rơi tí tách trên mái nứa lợp che căn nhà hầm. Chỉ còn tiếng dế kêu trong đêm. Đêm chắc đã khuya lắm. Simits ao ước giá trên tay mình lúc này còn chiếc đồng hồ dành riêng cho phi công thì tốt biết bao. Trên ấy có bao tiện ích. Nhưng ngay từ lúc bị bắt, đồng hồ, súng ngắn, máy phát tín hiệu cấp cứu, cùng chiếc la bàn để trong chiếc túi bên hông đã bị những người lính tước đoạt hết. Họ coi đó là phương tiện quân sự nguy hiểm.
Simits nhìn ra cửa hầm. Giữa đêm mà bên ngoài hầm ánh sáng trăng vẫn vằng vặc chiếu xuống những khoảng sáng xuyên qua tán cây rừng hắt xuống cái sân nhỏ trước cửa hầm. Đêm nay giữa tháng. Bầu trời mùa này không một gợn mây. Trăng ở Trường Sơn rất sáng. Trời đã ủng hộ mình rồi!
Lúc này, tiếng ngáy nhỏ đều đều từ giường của Tran Kien phát ra. Cậu ta chắc chắn đã ngủ say. Ngoài kia, cậu lính trẻ bắt đầu ngáy khá đều. Chứng tỏ cậu ta cũng đã ngủ say.
Thời cơ đã đến. Simits từ từ ngồi dậy, cố gắng không để phát ra một tiếng động nhỏ. Rất may, đôi dày của Simits không bị tịch thu. Có lẽ vì đôi chân của người cao một mét tám lăm như Simits thì không có đôi dép cao su nào của Việt Cộng anh có thể đi vừa. Thế là họ đành phải để anh giữ lại đôi dày phi công của anh. Trước khi đi ngủ, Simits đã quan sát thấy chiếc thắt lưng của Tran Kien đã cởi ra để trên bàn ngủ. Khẩu súng ngắn đã bị Tran Kien tháo ra dắt vào bụng. Trên đó chỉ còn một chiếc dao găm và một cái túi cứu thương cá nhân nho nhỏ. Simits nhanh tay cần chiếc thắt lưng lên. Anh rón rén bước nhẹ ra cửa. Qua ánh trăng từ ngoài sân hắt vào, Simits thấy cậu lính cảnh vệ vẫn ôm súng ngủ. Tiếng ngáy vẫn đều đều phát ra. Rất may, Simits không bị trói chân tay khi ngủ. Có lẽ họ nghĩ cái chân bị thương của anh ta thì không dễ gì chạy trốn được. Đây có thể là sai lầm chết người của họ, nhưng lại là thời cơ vàng dành cho Simits.
Simits khom người bước nhanh ra khỏi cửa hầm. Không một động tĩnh khác lạ. Màn đêm se lạnh đã phủ lên toàn bộ trạm giao liên. Đêm vẫn in phăng phắc.
Ra khỏi hầm, Simits lao nhanh vào rừng theo hướng vuông góc với tay phải mình. Lao đi được khoảng hơn một trăm mét gì đó, Simits cắm đầu chạy, mặc cho cây rừng cào lên mặt, vướng vào người. Mình đã ở rất gần với tự do. Thời cơ trở về Cò Rạt, trở về với Olivia đang mở ra trước mắt. Mình không được phép bỏ lỡ. Theo kinh nghiệm, Simits cứ theo hướng ánh trăng lặn để chạy. Hướng lặn của trăng sẽ là đích đến tự do và được giải thoát của mình…
Càng đi, Simits càng thấy cây rừng thưa hơn, đất rừng bằng phẳng hơn. Trái tim và hơi thở của Simits như giãn ra. Anh rất muốn đi chậm lại để lấy sức, nhưng cứ nghĩ về thời cơ tự do đang ở rất gần, hình ảnh Olivia đang vẫy gọi ở phía trước… khiến Simits không dám dừng lại.
Rất có thể, giờ này họ đã phát hiện ra mình chạy trốn. Chắc chắn họ sẽ huy động lực lượng truy lùng. Nếu dừng lại bây giờ sẽ rất nguy hiểm. “Cố lên Simits ơi! Olivia mong đang chờ mày đó! Đồng đội ở Cò Rạt đang chờ mày trở về đó! Không thể dừng lại! Chạy đi! Chạy đi! Tiếp tục chạy đi! Chạy đi nhanh nhất có thể!”…Simits chấn an và tự động viên mình…
Sau gần ba giờ thực hiện một cuộc chạy Maratong xuyên rừng, một cái đồn xuất hiện ở phía trước. Tim Simits như muốn vỡ ra vì mừng vui. Mình được cứu rồi! Chắc chắn đây là một cái đồn của quân đội Hoàng Gia Lào đồng minh với Hoa Kỳ… Simits không tin với chính mình. Không biết sức lực nào đã giúp mình có thể liên tục chạy trong rừng suốt gần ba giờ liên tục như thế? Có lẽ ý chí được và khát vọng trở về, được thoát khỏi Việt Cộng đã giúp Simits làm được điều phi thường ấy. Simits muốn gục xuống vì cạn kiệt sức lực nhưng anh vẫn tiếp tục chạy. Phía sau có thể những người lính Việt Cộng đã đuổi theo mình rất sát. Không thể dừng lại, không thể gục ngã! Nếu có gục ngã thì chỉ có thể gục ngã ngay trước cái cổng đồn kia mà thôi! Cố lên Simits ơi! Mày làm được mà! Tự do đang chờ mày! Chỉ còn mấy chục mét nữa thôi, mày sẽ được tự do! Simits vừa chạy vừa nghĩ trong hơi thở gần như cạn kiệt. Simits đã loạng choạng. Anh dơ hai tay lên trời và bước chân đã dúi dụi, liêu siêu. Cổng đồn chỉ còn hai mươi mét… mười lăm mét… mười mét… năm mét…rồi một mét. Simits ngã ngào xuống mặt đất ngay trước cái barie rồi ngất đi.
Những người lính canh đồn chạy ra. Họ nhận ra một người nước ngoài đang ngất lịm trên mặt đất.
Simits đã được sơ cứu. Anh ta tỉnh lại, vui mừng nhìn những người lính Hoàng Gia Lào đang vây quanh mình.
Viên sĩ quan, chắc là viên đồn trưởng hỏi anh bằng tiếng Anh:
-Ông là ai? Đến từ đâu vậy?
Simits giải thích mình là Simits, một phi công Hoa Kỳ bị Việt Cộng bắn rơi trên “Đường mòn Hồ Chí Minh”. Mình đã bị bắt làm tù binh rồi trốn thoát…Anh cần được giúp đỡ.
Viên sĩ quan chấn an anh:
-Ông yên tâm. Chúng tôi sẽ giúp đỡ ông. Để chúng tôi báo cáo với cấp trên của tôi về trường hợp của ông.
Cái đồn này không có điện thoại liên lạc. Họ chỉ liên lạc với cấp trên bằng máy thông tin “2 W”. Viên chỉ huy đã gọi cho cấp trên, thông báo có một viên phi công Hoa Kỳ tại căn cứ Cò Rạt, tên là Simits đã trốn thoát khỏi bộ đội Việt Cộng, cần được giải cứu gấp…
Hơn một giờ sau, một chiếc trực thăng HU1A bay tới. Nó đậu ngay trong sân của đồn.
Viên chỉ huy không quân trực tiếp của Simits xuất hiện. Ông ta giang hai cánh tay ôm chầm lấy Simits. Ba ngày trước, chính ông ta đã chỉ huy lực lượng phản ứng nhanh nhằm giải cứu Simits. Những người lính ứng cứu nhanh đổ quân xuống khu rừng mà Simits đã nhảy dù. Nhưng cuộc giải cứu đã thất bại. Simits đã bị Việt Cộng bắt trước khi lực lượng ứng cứu nhanh đổ quân. Bây giờ thì điều kỳ diệu mà Chúa đã mang đến. Simits đang đứng trước mặt ông ta, đang ở trong vòng tay của ông rồi!
Thật thần kỳ! Chỉ có thể giải thích chuyện này khi Chúa đã dang tay ra với Simits! Cậu ta quả là người may mắn và hạnh phúc!
VI. CUỘC HỘI NGỘ KỲ LẠ
Hai cha con ông Simits bay đến Tân Sơn Nhất. Họ lại phải bay tiếp để ra Nội Bài.
Hà Nội đang gần giữa thu. Cảnh sắc thật đẹp. Trần Liên đánh xe ra tận sân bay đón hai cha con Simits.
Vừa ra khỏi cửa kiểm soát hải quan sân bay, Oliver đã nhìn thấy một người đàn ông cầm tấm biển “Welcom Oliver & Simits to Hanoi. We are so glad have here!” được anh ta dơ cao trên đầu.
Oliver cùng cha tiến về phía Trần Liên. Anh ta chìa tay ra bắt. Phía sau anh ta là một người đàn ông đã có tuổi, mái tóc xanh chải ngược rất đẹp. Chắc chắn ông ta là cha của Trần Liên. Người đàn ông này rất tự nhiên tiến lại, nói bằng tiếng Anh khá lưu loát, giới thiệu mình là Tran Kien, cha của Trần Liên. Ông bắt tay Oliver. Khi dơ tay bắt tay Simits, ông ta bỗng khựng lại một chút. Nhưng ngay sau đó ông chìa tay ra bắt tay ông Simits thật chặt. Simits nhìn người đàn ông. Một gương mặt gợi lên trong ông nhớ tới một ai đó trong sâu thẳm. Nghĩ mãi ông ta vẫn chưa tìm được câu trả lời…
Hai cha con Trần Liên giúp hai cha con Oliver xếp va li lên xe.
Họ đưa hai cha con Oliver về khách sạn mà cha con họ đã “búc” từ trước.
Hai cha con Trần Liên đã mời hai cha con Oliver ăn trưa ngay tại khách sạn. Họ đặt toàn món ăn dân tộc của Việt Nam để đãi hai cha con nhà đầu tư dự án cho mình.
Trong bữa ăn, với vốn tiếng Anh khá tốt, Trần Liên tranh thủ giới thiệu từng món ăn trên bàn cho hai cha con Oliver. Họ hoàn toàn bỡ ngỡ và bị thuyết phục khi ăn những nón ăn dân tộc độc đáo của Việt Nam.
Trong suốt bữa ăn, ông Trần Kiên cứ ngắm nhìn người đối diện với mình trên bàn ăn. Ông ấy có cái nét giống một ai đó mà ông không thể nào hình dung ra một cách rõ ràng. Hay mình đã nhìn thấy ông ta trong một bức ảnh nào đó chăng? Một người đàn ông cao lớn, cái khuôn mặt khá điển trai kia từ trong sâu thẳm, hình như ông đã gặp ở đâu đó? Ông lắc đầu cố sua đi ký ức vừa lóe lên trong đầu.
Rồi không hiểu sao, Trần Kiên cất tiếng hỏi Simits:
-Ông có thể vui lòng cho biết: Trước khi nghỉ hưu, ông làm gì, không?
-Tôi có mười năm làm phi công quân sự. Sau đó tôi chuyển ra ngoài kinh doanh theo nghề nghiệp của cha mẹ ở Texas. Simits trả lời một cách tự nhiên.
Nghe tới đây, Trần Kiên đã nghĩ, “có khi nào ông ta là viên phi công Simits từng bị bắt ở Trường Sơn năm nào không?” Simits cũng không ngừng nghĩ tới người đàn ông đang ngồi trước mặt và đang hỏi về mình…
Để chắc chắn, Trần Kiên tiếp tục hỏi:
-Ông có sang Việt Nam tham chiến không? Ông Simits nhìn thẳng vào mắt Trần Kiên. Lưỡng lự một chút rồi ông tiếp tục trả lời:
-Năm 1970, tôi có sang Việt Nam, ở sân bay Biên Hòa một thời gian.
-Sau đó ông ở đâu? Trần Kiên tiếp tục hỏi.
-Tôi sang Cò Rạt, Thái Lan. Nghe tới đây, Trần Kiên không khỏi giật mình. “Phải chăng ông ta là viên phi công Simits được mình dẫn giải cách đây gần nửa thế kỷ?”. Bây giờ hai quốc gia đã bình thường hóa quan hệ từ lâu. Hoa Kỳ và Việt Nam đang là đối tác chiến lược toàn diện của nhau. Hai bên đã khép lại quá khứ. Có gì phải lo lắng kia chứ. Suy nghĩ thế, ông Trần Kiên mạnh dạn hỏi tiếp:
-Ông đã từng bị bắn rơi máy bay ở Trường Sơn, phải không? Nghe Trần Kiên hỏi, Simits xững người lại. Tại sao ông ta lại biết mình bị bắn rơi ở Trường Sơn nhỉ? Simits nhìn thẳng vào ông ta. Ông giật mình. Người đang ngồi đối diện với mình chả lẽ là người lính phiên dịch Tran Kien năm xưa? Tại sao mình không nhận ra anh ta ngay từ đầu nhỉ? Mái tóc đen của ông ta đã đánh lừa mình. Một chút bối rối thoáng đến. Simits thận trọng hỏi lại:
-Phải chăng ông là Tran Kien – người phiên dịch năm xưa sao?
-Đúng rồi. Ông là viên phi công lái OV10 bị bắn rơi đầu năm 1971 ở Huội Mơn? Và ông đã chạy trốn thành công?
-Xin lỗi ông. Đúng thế!
Trần Kiên vội vàng đứng dậy. Ông đi tới bên Simits, chủ động dang hai tay ra ôm lấy Simits.
-Gần năm mươi năm, hôm nay chúng ta mới lại gặp nhau! Trần Kiên ôm chặt lấy Sinits thật lâu rồi bắt chặt tay ông ta – Trái đất thật tròn! Số phận để chúng ta gặp lại nhau trong một hoàn cảnh mà đến những nhà sáng tạo nghệ thuật của Hollywood cũng không thể nghĩ ra được.
Ông Simits vẫn chưa hết bàng hoàng. Ông nghĩ nhanh trong đầu: Liệu ông ta có oán giận mình không? Biểu hiện tình cảm của Tran Kien với mình vừa rồi không phải là hành động của một người muốn trả thù. Sau cuộc chạy trốn của mình, theo logic quân sự thông thường, chắc chắn ông ta sẽ bị cấp trên xử lý kỷ luật. Chẳng lẽ Tran Kien đã quên chuyện đó? Chẳng lẽ ông ta không oán giận mình sao? Thời gian qua, theo dõi tin tức, những cuộc trở lại của những cựu chiến binh Mỹ nơi mảnh đất mà họ đã từng bắn giết, từng tàn sát dân lành ở Việt Nam để sám hối, để hàn gắn vết thương chiến tranh. Có biết bao chuyện cảm động về người dân Việt Nam đối xử với các cựu chiến binh Mỹ. Họ không trả thù, không oán hận. Họ đón tiếp chân tình. Họ tha thứ… Rồi nhiều cựu chiến binh Mỹ đã quay trở lại giúp đỡ chính người dân nơi mà năm xưa họ từng nổ súng bắn giết, từng châm lửa đốt nhà…Khi đọc những dòng viết trên báo chí: “Người Việt Nam thật sự đã khép lại hận thù, gác lại quá khứ để hướng tới tương lai”; “Người Việt Nam là một dân tộc giàu lòng vị tha. Cha ông họ từng nhiều lần tha thứ cho kẻ thù. Họ còn cấp lương thực, tàu thuyền cho kẻ bại trận về nước…” Ông chưa thật sự tin chuyện ấy…
Tran Kien ôm vai, kéo nhẹ Simits ngồi lại ghế ngồi, rồi trở về ngồi lại chiếc ghế của mình. Bằng một giọng tiếng Anh khá trôi chảy, Tran Kien tiếp tục:
-Ông có biết, đêm ấy, tôi và cả cậu lính cảnh vệ đều thiếp đi lúc nào không hay. Chúng tôi chủ quan nghĩ rằng: Cái chân bị thương của ông khiến ông có muốn trốn chạy thì cũng không thể. Vả lại với địa hình rừng núi như vậy, ông không thể nào trốn chạy được. Nhưng chúng tôi đã nhầm. Khi tỉnh dậy lúc hơn ba giờ sáng, không thấy ông nằm trên giường, tôi nghĩ có lẽ ông ra ngoài đi vệ sinh. Khi biết ông đã bỏ trốn, tôi liền nổ súng báo động. Lập tức chỉ huy trạm giao liên đã huy động một tổ cảnh vệ cùng tôi bủa đi truy tìm ông. Chúng tôi đoán ông chỉ có thể trốn chạy về phía tây mà thôi. Gần hai giờ truy đuổi, chúng tôi đã thất bại. Ông vẫn mất hút. Chúng tôi dừng lại trước cửa rừng. Nhìn về phía cái đồn trú quân do quân đội Hoàng Gia Lào đóng giữ ở huyện Viêng Thoong, tỉnh Saravan, chúng tôi đoán ông đã ở trong cái đồn kia an toàn rồi. Khi nhìn thấy chiếc trực thăng bay tới từ phía tây, chúng tôi mới quay trở lại. Ông đã được người Mỹ tới đón.
Tran Kien tiếp tục: Ông có biết, sau khi ông trốn chạy, tôi khốn đốn thế nào không? Simits với vẻ mặt lo lắng và có phần e sợ khi nghe Tran Kien tiếp tục nói.
-Tôi đã bị kỷ luật cảnh cáo vì để “tù binh” chạy trốn. Tôi phải ngồi viết kiểm điểm trong nhiều ngày và bị cách chức tiểu đội trưởng trinh sát tiểu đoàn. Bị kéo dài dự bị đảng viên thêm một năm. Trước đó, tôi nằm trong danh sách được chọn ra Bắc đào tạo sĩ quan pháo binh. Nhưng cánh cửa ấy đã bị đóng sập.
Sau chiến thắng 30/4/1975, tôi xin xuất ngũ với cái lon Thượng sĩ trở về trường Đại học học tiếp năm thứ hai khoa chế tạo máy đại học Bách khoa. Ra trường, tôi cưới vợ. Năm 1981, chúng tôi sinh cháu Trần Liên. Nói rồi, ông Tran Kien cười lớn:
-Giờ hai chúng ta được ngồi trên cùng một bàn ăn thế này, thú thật tôi không bao giờ nghĩ đến tình huống này. Đúng là trong chiến tranh, điều gì cũng có thể xảy ra!
Tiếng cười của Tran Kien sảng khoái, không chứa đựng một chút nào của sự hận thù. Thái độ ấy của Tran Kien khiến Simits thêm yên lòng?
Simits mạnh dạn hỏi:
-Ông có oán hận tôi không?
-Có chứ! Khi ông chạy thoát, tôi đã rất oán hận ông và giận cả bản thân mình nữa. Sự chạy thoát của ông đã để lại cho tôi vô vàn rắc rối. Nhưng đó là chiến tranh mà ông. Nếu ở vào hoàn cảnh của ông, tôi cũng hành động như ông mà thôi. Chúng ta là những người lính. Không thể có lựa chọn nào khác!
-Còn bây giờ, ông có oán hận tôi không? Simits hỏi.
-Không không! Chiến tranh đã khép lại nửa thế kỷ rồi mà. Hãy hướng về tương lai mà sống chứ! Kẻ nào ôm chặt quá khứ mà không biết nhìn về tương lai, kẻ đó ngu dốt và sẽ thất bại. Dân tộc Việt Nam chúng tôi đã gác lại quá khứ đau thương để nhìn về tương lai, để xây dựng lại, để xây dựng cuộc sống mới. Có thế, chúng tôi mới đi lên từ đống tro tàn của chiến tranh để có được cơ đồ tươi đẹp như ngày nay, ông ạ.
Nghe Tran Kien nói, Simits đứng dậy. Ông ta tiến đến bên Tran Kien. Tran Kien cũng đứng dậy. Simits ôm chầm lấy Tran Kien, miệng rối rít hai từ “Cám ơn ông! Cám ơn ông! Ông là một người lính chân chính mà tôi đã gặp – Một người lính thật cao thượng!”
Thấy hai người cha ôm nhau chân tình, thắm thiết, không ai bảo ai, cả Oliver và Trần Liên đều đứng dậy. Họ chạy tới ôm lấy hai người cha vẫn đang “dính” vào nhau chưa muốn rời. Một hình ảnh thật đẹp. Hình ảnh ấy khiến những thực khách có mặt tại phòng ăn của khách sạn vô cùng ngạc nhiên.
Bữa ăn bị dán đoạn, bây giờ lại tiếp tục.
Tran Kien ngẩng đầu lên hỏi Simits:
-Thế sau khi ông được trực thăng đón về Cò Rạt thì cuộc sống của ông ra sao? Ông lại bay trên OV10 chứ?
Simits cười.
-Cám ơn người phiên dịch năm nào của tôi. Giá mà ngày đó tiếng Anh của anh lưu loát như bây giờ thì tốt biết bao! Simits cười, tiếp tục nói:
-Cũng giống như anh thôi. Tôi cũng phải ngồi viết giải trình từ khi bị bắt cho đến khi chạy trốn. Viết rất chi tiết. Rồi tôi còn phải ngồi đối diện với sĩ quan tâm lý chiến và cả nhân viên an ninh không quân nữa. Họ quần tôi cả tuần ấy. Họ sợ tôi bị Việt Cộng tẩy não, mua chuộc rồi cài cắm…Sau một tuần khai báo, “điều trần”, tôi chưa được phân công nhiệm vụ. Tôi được giải quyết về phép mười lăm ngày. Thế là tôi được về Texas City thăm gia đình. Tôi không được ở lại khi Olivia sinh nở. Sau mười lăm ngày nghỉ phép, tôi phải bay trở lại Cò Rạt, khi mà chỉ chưa đầy một tháng nữa thôi là Oliver sẽ chào đời. Trở về đơn vị, tôi không được bay tiếp mà ở lại dưới mặt đất để phục vụ, hỗ trợ đồng nghiệp thực hiện các chuyến bay trinh sát và oanh kích “Đường mòn Hồ Chí Minh”. Họ sợ và đề phòng nếu tôi tiếp tục được lái máy bay thì biết đâu đấy, tôi sẽ lái máy bay đầu hàng Việt Công thì sao? Họ cảnh giác cũng đúng thôi. Chiến tranh mà!
Tôi ở Cò Rạt cho tới khi ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và ở Lào. Cuối tháng 3 năm 1975, tôi cùng một bộ phận đơn vị rút về Mỹ. Tôi tiếp tục làm công tác huấn luyện bay cho các phi công mới thêm năm năm nữa. Sau mười lăm năm khoác lên mình bộ quần áo phi công Mỹ, tôi xin giải ngũ để trở về hỗ trợ công ty của ba mẹ tôi. Nếu ở thêm năm năm nữa tôi sẽ được nghỉ hưu trọn đời. Nhưng thôi, tôi quyết định giải ngũ. Và bây giờ như anh thấy đấy, tôi làm Chủ tịch kiêm cố vấn cho Quỹ đầu tư do con trai Oliver của tôi làm Giám đốc.
Và nhờ cái duyên, tôi và anh đã vinh hạnh được Chúa sắp xếp cho hai người lính có nhiều duyên nợ chúng ta gặp lại nhau hôm nay ở đây. Cám ơn Chúa đã phù hộ tôi trốn thoát. Và cũng nhờ sự chủ quan của các anh nữa. Hôm nay Chúa lại đưa đẩy tôi đến trong vòng tay của anh – một người lính Việt Cộng năm xưa. Nói đến đây, Simits cười rất tươi và ngửa hai tay ra, nhún đầu, nói một cách hóm hỉnh:
-Tất nhiên, hôm nay tôi không “bị anh bắt trở lại” rồi! Trong vòng tay của anh và vòng tay của tôi, chúng ta đã trở thành hai người bạn, hai đối tác làm ăn mới. Chúng ta đã khép lại câu chuyện buồn và thật kỳ lạ về số phận hai người lính trong cuộc chiến của “ngày hôm qua”! Chúng ta cùng hai con trai của mình đang mở ra một “chương mới”! Tôi tin là “chương mới” này của chúng ta sẽ hoàn toàn tốt đẹp.
Xin chúc mừng anh và cháu Trần Liên. Hai cha con tôi đã nghiên cứu rất kỹ về Dự án đầu tư phát triển chiếc máy nông nghiệp “3 trong 1” của cha con anh. Ngay trong bữa cơm này, tôi và Oliver có thế ký kết ngay thỏa thuận đầu tư mà không cần phải chờ xem xét cơ sở nhà xưởng và máy mẫu của cha con anh mới quyết định ký Hợp đồng như thỏa thuận trước đó nữa.
Tôi hoàn toàn tin tưởng anh – người phiên dịch bất đắc dĩ của tôi năm xưa.
Simits ngừng lời, ông mời tất cả cùng nâng cốc.
Trần Liên mở cặp lấy ra bốn bản Hợp đồng thỏa thuận đầu tư tám trăm ngàn đô la cho Dự án phát triển chiếc máy nông nghiệp “3 trong 1” của Công ty Cơ khí Kiên Liên như đã thỏa thuận trước đó.
Bốn chữ ký lần lượt được ký. Và hai con dấu được đóng lên bản Hợp đồng. Lại những cái bắt tay và ôm hôn của hai người lính và hai đứa con của họ.
Rượu sâm banh nổ vang. Bốn cái ly chảy tràn xâm banh. Tiếng thủy tinh va vào nhau thật vui tai. Có lẽ chưa có một bản Họp đồng nào lại được “đốt cháy” các bước thủ tục và tiến hành thuận lợi như thế!
Qua cuộc chiến tranh hôm qua đã khiến họ gặp nhau, biết về nhau. Họ nhận ra phẩm chất rất con người của nhau. Hai đất nước đã khép lại một chương đau buồn nhất thế kỷ hai mươi để hôm nay cùng hướng về một kỷ nguyên, một chương mới của hai dân tộc. Quyết định của hai đất nước hôm nay đã kéo theo hàng triệu số phận sống trong sự thù địch bước sang một trang mới…
Trong cái chương mới của lịch sử giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Tran Kien và Simits đã tìm thấy một điểm tựa chung. Họ tin tưởng nhau và cùng hướng về một tương lại tốt đẹp!
Trong không khí của sự thân thiện, Tran Kien hỏi Simits:
-Anh có nhớ hai trận B52 rải thảm ở phía nam của mấy con ngầm vượt sông Sê Công năm 1972 không? Nhắc về ký ức, mắt Simits sáng lên:
-Có chứ! Làm sao tôi quên được. Nhưng tôi rất buồn là sau chuyến bay trinh sát, tôi đã chỉ điểm để B52 rải thảm xuống một khu kho tàng của các anh.
Tran Kien cười:
-Xin báo tin buồn với anh. Theo thông báo của đơn vị chúng tôi thì anh đã bị lực lượng nghi binh của chúng tôi đánh lừa đấy. Cái mà anh tưởng là đã phát hiện ra khu kho tàng của chúng tôi chỉ là một khu kho giả mà thôi. Khu kho nghi binh này của chúng tôi đã hút gần hai trăm tấn bom đạn từ B52 của các anh rải xuống. Chỉ thương cho những vạt rừng Trường Sơn không bóng người thôi. Chúng đã bị tàn sát bởi bom đạn của các anh.
Nói đến đây, Tran Kiên dừng lại một chút rồi hỏi tiếp:
-Anh có nhớ là đã phát hiện ra ba bốn chiếc ô tô chạy ban ngày khiến bụi bay mù mịt không?
-Có chứ! Tôi đã rất khâm phục sự dũng cảm của những chiếc chiến xa của các anh. Họ không sợ gì cả, ngang nhiên chạy lúc trời đã rất sáng.
-Rất buồn là anh cũng lại bị lính nghi binh chúng tôi đánh lừa. Để hút máy bay tiêm kích của các anh, lính nghi binh đã buộc những cành cây vào dây rừng rồi kéo chạy trên đường cho bụi bay lên mù mịt làm giả như ô tô đang chạy. Thế là đạn khói từ chiếc OV10 được bắn xuống và các máy bay tiêm kích đã ập tới quăng bom, bắn tên lửa tới tấp xuống những đám bụi trên đường ấy. Trong khi đó, mấy chàng lính kéo cây trên đường cho bụi bay lên thì đã ngồi trong hầm trú ẩn vững chắc và an toàn.
-Thật thế sao? Simits ngạc nhiên hỏi lại.
-Các anh chưa biết sự tài tình của nghệ thuật nghi binh của chúng tôi trên Trường Sơn đâu. Có thể nói hàng chục ngàn tấn bom đạn Mỹ đã trút “uổng phí” xuống những cánh rừng không người như thế đấy. Các anh có vũ khí, phương tiện vô cùng tối tân, hiện đại. Phải thú nhận rằng, các anh có nhiều thủ đoạn chiến tranh rất hiểm độc. Nhưng chúng tôi đã tìm ra rất nhiều biện pháp đối phó lại các anh một cách hiệu quả mà các anh không thể ngờ tới đâu.
-Tuy tôi không trực tiếp ấn nút vũ khí để sát hại các anh, nhưng nhiều đêm từ trong sâu thẳm, lương tâm tôi cứ bị rằn vặt. Dù sao, tôi cũng đã nhiều lần chỉ điểm để đồng đội của tôi tới quăng bom, bắn tên lửa sát hại các anh. Hóa ra tôi đã bị các anh đánh lừa một cách không ngờ. Hôm nay nghe anh tiết lộ, tôi như trút được gánh nặng. Thế là tôi đã không gián tiếp sát hại các anh rồi. Tôi chỉ gián tiếp tàn sát các cánh rừng Trường Sơn mà thôi!
Simits ngẩng lên rồi đặt câu hỏi với Tran Kien:
-Anh cho tôi hỏi. Chúng tôi biết tại các trọng điểm, các anh có nhiều trận địa pháo cao xạ. Trên nhiều quả đồi, nhiều cánh rừng bị bom đạn cày xới, chỉ còn một màu đen cháy xám của cây rừng. Vậy các anh ẩn nấp ở đâu, để đêm đêm các anh lại nổ súng mãnh liệt vào các tiêm kích của Hoa Kỳ chúng tôi như thế? Đây là sự thắc mắc không chỉ của riêng tôi mà của tất cả các phi công Hoa Kỳ hoạt động trên “Đường mòn Hồ Chí Minh” đấy!
Nghe tới đây, Tran Kien cười vang.
-Chúng tôi vẫn ở giữa những cây rừng và mặt đất cháy đen đấy thôi!
-Anh không nói hài hước đấy chứ? Simits nghi ngờ.
-Không! Các trận địa pháo của chúng tôi không hề di chuyển. Để đánh lừa các anh, chúng tôi đã ngụy trang pháo và trận địa bằng chính màu đen cháy xám của cây rừng và của mặt đất. Nghệ thuật ngụy trang của chúng tôi khiến chiếc OV10 của anh bay đi bay lại nhưng không thể phát hiện ra, là thế
-Trời ơi! Tôi thật không ngờ trước sự tiết lộ bí mật quân sự thế kỷ của anh đấy!
-Bây giờ, điều đó đâu còn là “bí mật quân sự” nữa. Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỷ rồi. Nhiều bí mật của hai bên đã được giải mật rồi. Điều tôi tiết lộ sự thật với anh quá đỗi bình thường, không phải là một “bí mật quân sự”.
-“Bình thường” ư? Với chúng tôi thì đó là nghệ thuật ngụy trang quá tuyệt vời! Hèn nào chúng tôi thua các anh là phải thôi. Simits thú nhận một cách chân thành.
-Thôi nhé! Chuyện cũ qua rồi. Nhắc lại để biết thôi. Chúng ta không nên quá bận tâm về nó! Anh có đồng ý với tôi không? Tran Kien lại nở nụ cười, hỏi Simits.
-Tất nhiên rồi. Nhưng Tran Kien này. Tôi vẫn đang giữ của anh chiếc thắt lưng mà tôi đã lấy đi khi chạy trốn đấy. Trên đó có chiếc bao da đựng con dao găm, một túi thuốc cá nhân, một bao súng ngắn. Sau này tìm hiểu, tôi biết đó là bao da để khẩu súng K54 của các anh. Bao năm nay, tôi vẫn treo trang trọng trong phòng làm việc của mình. Trở về Mỹ, tôi sẽ gửi trả lại chủ nhân của nó nhé!
Nghe Simits nói, Tran Kien hơi bất ngờ. Ngần ấy năm anh ta vẫn còn giữ được “chiến lợi phẩm” đã đánh cắp của đối phương trên đường trốn chạy sao? Nghĩ một lúc, Tran Kien lên tiếng:
-Không cần đâu. Anh cứ giữ lấy để kỷ niệm, không cần gửi trả lại tôi đâu. Anh coi nó là “chiến lợi phẩm” từ chiến tranh cũng được. Mà coi nó đơn thuần chỉ là vật kỷ niệm từ chiến tranh cũng chẳng sao. Cuộc chiến đã lùi xa gần nửa thế kỷ rồi. Vật ấy, tôi nghĩ sẽ giúp anh và những người bạn của anh nhắc nhớ về một cuộc chiến tranh xâm lược không đáng có ấy để cân nhắc ứng xử đúng đạo lý trong tương lai. Tôi nghĩ nó chỉ đơn giản vậy thôi!
Nghe Tran Kien phân tích, Simits chỉ biết cười và gật gật đầu một cách tâm đắc.
***
Sau bữa cơm gặp mặt ấy, Tran Kien và Trần Liên đã đưa hai cha con ông Simits về thăm cơ ngơi của họ. Sau khi Hà Tây sáp nhập với Hà Nội, Tran Kien đã quyết định rời quê hương Hà Nam của ông để lên một thị trấn sầm uất thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông mua đất mở một xưởng cơ khí máy nông nghiệp. Họ muốn thay đổi để nhận được cơ chế làm ăn thông thoáng, cởi mở của Thủ đô.
Hai cha con ông Simits hoàn toàn bị thuyết phục bởi được tận mắt nhìn cái cơ ngơi dự án phát triển chiếc máy nông nghiệp “3 trong 1” của họ…
Một cái nhà xưởng rộng rãi gồm hai đơn nguyên khung thép công nghiệp lợp tôn và hệ thống chống móng bề thế. Một đơn nguyên được chia làm hai bộ phận riêng biệt: Chế tạo cơ khí trong ấy có đầy đủ máy tiện, máy phay, máy khoan, mắt cắt, máy đột dập khá hiện đại và khu lắp ráp thành phẩm. Nhà xưởng còn lại là nơi dành cho phun sơn công nghiệp và kho chứa thành phẩm.
Simits liếc nhanh vệ sinh công nghiệp của tất cả nhà xưởng khiến ông rất hài lòng. Một nhà xưởng công nghiệp khá hiện đại và gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, chứng tỏ người chủ có năng lực quản trị rất tốt. “Sự tin tưởng của mình về hai cha con Tran Kien đã rất đúng! Với cơ ngơi này, với sáng chế này, chắc chắn hai cha con họ sẽ rất thành công! Quyết định đầu tư của hai cha con ông có tương lai hoàn toàn tốt đẹp!”.
Simits đang mải suy nghĩ thì Tran Kien kéo một người người đã đứng tuổi, mặc quần áo công nhân đến trước mặt Simits:
-Simits! Anh có nhận ra người này không?
Simits khá bất ngờ. Ông nhìn thẳng vào khuôn mặt của người công nhân đã có tuổi đang đứng trước mặt mình hồi lâu rồi lắc đầu:
-Rất tiếc! Xin lỗi tôi không nhớ!
Tran Kien kéo người bận đồ công nhân tới gần hơn, rồi vỗ lên vai anh ta một cách thân mật:
-Đây là cậu Lê Thu – Người y tá năm xưa đã xử lý vết thương và băng bó cho anh đấy. Ngày ấy, cậu Lê Thu mới hai mươi tuổi. Anh không nhận ra cậu ta cũng phải thôi. Khi nhận được mệnh lệnh băng bó vết thương cho anh, cậu ta chỉ chăm chú vào công việc nên anh không nhận ra anh ta cũng phải. Sự việc diễn ra khá nhanh. Gần nửa thế kỷ trôi qua rồi mà!
Nghe Tran Kien giới thiệu người đã băng bó vết thương cho mình năm xưa, Simits lao đến, ôm chầm lấy anh ta, miệng rối rít nói lời “xin lỗi và cảm ơn” rất nhiều lần.
-Simits này. Cậu Lê Thu sau đó được Tiểu đoàn cử đi học và được cấp bằng y sĩ quân y rồi tiếp tục trở về đơn vị công tác. Đầu năm 1977, cậu ấy cởi áo lính về làm việc ở trạm y tế xã một thời gian. Cách đây hai mươi năm, Lê Thu đến phụ trách y tế, kiêm luôn Trưởng phòng hành chính của Xưởng tôi đó. Cậu ấy là một người không chí giỏi chuyên môn y tế mà còn rất chu đáo, cẩn thận trong công việc quản lý hành chính của Xưởng. Con gái cậu ấy hiện là kế toán của Xưởng chúng tôi đó! Nghe Tran Kien giới thiệu, Simits không ngớt gật gật đầu.
Nghe xong, Simits vội rút ví. Ông ta lấy ra một tệp nhiều tờ đô la mệnh giá 100, rồi cầm lấy bàn tay của Lê Thu, đặt những tờ đô la lên đó. Simits liên tục không ngớt nói lời “cám ơn!”
Quá bất ngờ trước xử sự của Simits, Lê Thu cầm lấy tập tiền đặt trở lại lên tay của Simits. Lê Thu nhìn Simits cười:
-Cám ơn tình cảm của ông! Nhưng ông không cần phải làm thế đâu! Ngày ấy, tôi chỉ làm nhiệm vụ của một người lính thôi mà!
-Le Thu! Tôi cám ơn anh thật lòng mà! Nhờ xử lý của anh mà vết thương của tôi dịu đi rất nhanh và không bị viêm nhiễm sau đó. Nhưng tôi vẫn giả vờ vết thương vẫn còn đau lắm… Nhờ được anh xử lý quá ổn mà tôi đã trốn thoát đấy! Vì gặp anh quá bất ngờ. Tôi không kịp mua quà tặng anh. Anh vui lòng nhận đi. Đây là tình cảm chân thành của tôi. Nói rồi tay trái của Simits đặt lên trái tim mình và cúi đầu cảm ơn chân thành.
Tran Kien bất ngờ trước hành động của Simits. Anh tiến đến cầm xấp tiền đang để trên tay của Lê Thu và Simits. Anh rút ra một tờ tiền đặt lên tay Lê Thu. Những tờ tiền còn lại, anh đặt lên lòng bàn tay của Simits.
-Theo tôi, Lê Thu này, cậu hãy nhận một tờ để kỷ niệm tấm lòng của Simits. Còn Simits này, xin anh nhận lại đi cho Lê Thu vui lòng. Simits ngửa hai lòng bàn tay ra làm động tác “bất lực” trước hành động của Tran Kien và Le Thu. Ngay sau đó Simits lại tiến tới ôm chặt Lê Thu thật lâu…
Tran Kien vẫy tay kêu một thanh niên trẻ tuổi cũng vận bộ đồ công nhân đi đến trước mặt mình. Ông kéo tay anh ta đến trước mặt Simits:
-Anh còn nhớ vị Tiểu đoàn trưởng của tôi, Đại úy Nguyễn Lam, người hỏi cung khi anh bị bắt không?
-Tôi nhớ! Thế ông ấy cũng có ở đây sao?
-Không! Ông ấy đã mất cách đây năm năm do tái phát vết thương rồi. Nhưng con trai út của ông ấy thì đang là Phó Giám đốc Xưởng của tôi đấy. Cậu ấy là Nguyễn Hùng – người đang đứng trước mặt anh đây này. Nói rồi Tran Kien giơ tay giới thiệu Nguyễn Hùng với cha con ông Simits.
-Trời! Con út của người hỏi cung đầu tiên khi tôi bị bắt đây ư? Simits chìa tay ra bắt chặt tay của Nguyễn Hùng.
-Cha của anh là một người tốt! Nói rồi, ông ta đưa ngón tay cái ra trước mặt dứ dứ thật lâu. Rồi Simits quay sang hỏi Tran Kien:
-Sao cái Xưởng cơ khí của anh lại tập hợp nhiều những người lính từng sát cánh với anh và những con em của họ như thế?
-Xưởng của tôi có ba mươi lăm cán bộ, công nhân thì có tới hai mươi lăm người là cựu chiến binh và con em của họ. Trở về với đời thường, những cựu chiến binh chúng tôi chịu nhiều thiệt thời. Chúng tôi đã cưu mang, giúp đỡ nhau. Ở đâu có những chủ doanh nghiệp là cựu chiến binh họ đều làm như thế, không riêng cái Xưởng cơ khí này của tôi đâu.
Nghe Tran Kien nói, Simits nghĩ nhanh trong đầu: “Những người cựu chiến binh Việt Nam thật đặc biệt! Họ giúp đỡ nhau sau cuộc chiến với cái cách không thể ấn tượng hơn! Ở Mỹ, mình chưa thấy có chuyện này…?”
***
Mục đích chính của cuộc làm việc tại Việt Nam đã hoàn tất. Hai cha con Simits rất thảnh thơi. Họ muốn thực hiện một tua du lịch tại Hà Nội.
Không biết có phải đã “đọc được” mong muốn ấy của họ hay không, Tran Kien ngỏ lời muốn đưa hai cha con Simits đi thăm một số điểm du lịch không thể bỏ qua tại Hà Nội. Simits và Oliver nhận lời ngay.
Thế là ngay ngày hôm sau, Trần Liên đích thân lái xe đưa cha mình và hai cha con đối tác đầu tư thực hiện một tua du lịch chọn lọc và ấn tượng nhất tại Thủ đô và Hà Nam quê hương của họ trong đó có việc đi thăm khu du lịch Bái Đính – Tràng An... Cả hai cha con Trần Liên là “hướng dẫn viên” du lịch kiêm phiên dịch tự nguyện và nhiệt tình nhất cho hai cha con Simits. Toàn bộ chi phí cho tua du lịch ấn tượng ấy, Simits không để hai cha con Tran Kien có cơ hội thanh toán. Simits nói một cách chân tình:
-Tran Kien! Tôi có nhiều tiền hơn anh. Anh hãy để cho cha con tôi trả tiền. Cám ơn tình cảm mà anh và con trai đã dành cho tôi và Oliver. Anh và cháu Trần Liên hãy gạt bỏ ý nghĩ là phải “chiêu đãi” nhà đầu tư nhé! Hãy cho phép tôi được làm ngược lại. Chúng ta hãy cùng nhau gạt bỏ hết những thông lệ trong giao dịch làm ăn kinh tế đi nhé! Đây không phải là cơ hội để tôi chuộc lỗi cho cuộc chạy trốn năm xưa của tôi đâu. Tôi muốn làm một điều gì đó để cả hai chúng ta cùng cảm thấy an lòng về nhau. Thú thật, tôi định trả tiền xăng và tiền phí ô tô cho cháu Trần Liên. Nhưng tôi nghĩ đó có thể là một sai lầm. Anh sẽ nghĩ rằng cha con tôi đã thóa mạ vào tình cảm chân tình của cha con anh. Nên tôi đã bỏ ý định đó rồi! Cám ơn anh và cháu Trần Liên rất nhiều!
Hãy cùng hướng về tương lai, Tran Kien nhé!
Hai người lính, hai người cựu chiến binh Việt – Mỹ lại ôm lấy nhau thật lâu. Hôm nay họ đang cùng bước trên con đường mà hai Tổ quốc của họ đã và đang lựa chọn!
Hà Nội, những ngày tháng 7/2026.