Trở lại Bến Giằng xưa - Ký của Nhà văn Phạm Thành Long
Ngày đăng:
09:13 18/08/2026
Lượt xem:
18
TRỞ LẠI BẾN GIẰNG XƯA
Ký của Nhà văn Phạm Thành Long

Cầu phao Bến Giằng do công binh Sư đoàn 471 Trường Sơn bắc 9/1973 - Ảnh Phạm Thành Long
Các cụ xưa dạy “Họa vô đơn chí!” nó thật ứng nghiệm với mình. Cái lưng bị gỗ đè sau trận B52 ở chiến trường giờ mới “ngấm đòn”. Ba đốt sống bị ảnh hưởng ngày trước thỉnh thoảng vẫn dở chứng nhưng chỉ lên gặp viên đại tá Nguyễn Văn Hồng ở Phòng 36, H13, 28 Điện Biên Phủ (con rể cụ Lang Hanh bên Yên Sở, Hưng Yên) ông ấy dí mấy cái vào lưng là êm. Mười năm nay do mình tập luyện cột sống đều nên “nó sợ” mà không dám dở chứng gì.
Ngày 13/7/2026, gặp đúng ngày oi nồng. Đi bộ và tập các động tác khí công ở sân chung cư thì tôi lên nhà, mồ hồi nhễ nhại. Thiền 20 phút xong mình chui vô nhà tắm. Nước chưa kịp nóng mình đã mở vòi tắm. Cái lạnh khiến thân thể rùng mình. Cái lưng thấy đau nhói và bị co rút lại. Cái lưng của tôi đau khủng khiếp, không cúi, không thẳng lưng được. Nằm xuống, tôi không thể tự đứng dậy được. Tôi phải mời nhân viên tới xoa bóp, bấm huyệt cho cái lưng đau của mình. Sau mười hai tối day lưng, bấm huyệt, cái lưng của tôi mới đỡ.
Oái oăm thay, ngày 18 và 19 tháng 7 năm 2026 tới, Sư đoàn 471 Trường Sơn của tôi sẽ làm Lễ khánh thành Bia Di tích Sở chỉ huy Sư đoàn 471 tại Bến Giằng và tổ chức Kỷ niệm 55 năm thành lập Sư đoàn. Trước đó hơn 10 ngày, tôi đã nhờ cháu gái Khuất Minh, phóng viên Ban Thời sự đặt mua vé bay vào Đà Nẵng ngày 17/7. Cái lưng đau thế này làm sao đi đây? Tôi lo lắng vô cùng. Bao ngày chờ đợi, rất có thể mình sẽ bỏ lỡ chuyến đi lịch sử? Gần tám mươi rồi, mọi thứ không thể chủ quan được. Các bộ phận cơ thể của người cao tuổi giờ đã rệu rã cả rồi. Bị tổn thương không dễ phục hồi ngay được. Bằng chứng là đợt bị đau lưng lần này rất lâu. Cháu Thịnh nhân viên vật lý trị liệu cho tôi khi sờ vào cái lưng của tôi cháu đã thốt lên: “Cái lưng của chú các cơ co cứng lại rồi. Làm sao chú không đau kia chứ?” Cháu làm cả tuần, mỗi lần hai giờ mà các cơ của tôi phục hồi khá chậm…
Tối 15/7 cái lưng của tôi mười phần mới đỡ sáu phần. Chắc chắn không thể đi xa và ngồi ô tô nhiều giờ.
Dù rất đau, tôi vẫn cố ngồi trước máy vitinh để làm Giấy mời và Bằng Vinh danh những người ủng hộ từ 5 triệu đồng trở lên cho xây dựng Bia Di tích Sở chỉ huy Sư đoàn. Đây là công trình lịch sử truyền thống mà Ban Thường vụ Hội Trường Sơn Sư đoàn 471 chúng tôi đã đầu tư công sức từ đầu năm 2024 để khảo sát, làm việc với Huyện Nam Giang thuộc tỉnh Quảng Nam để xin địa phương cắm đất xây dựng. Nội dung của tấm Bia Di tích do tôi khởi thảo cùng sự góp công sức của Trung tá Nguyễn Kim Chúc, nguyên trợ lý tác chiến Sư đoàn, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Khóa I, Hội Trường Sơn Sư đoàn. Tôi và anh Nguyễn Kim Chúc và anh Nguyễn Thuận Quảng nguyên Tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh Sư đoàn có một “cái duyên” trời định. Ngày còn ở chiến trường, ba anh em chúng tôi khá gắn bó với nhau. Nhiều chuyến công tác, ba anh em cùng sát cánh bên nhau. Trở về đời thường ba anh em lại gắn bó bên nhau từ năm 1995 xây dựng nên Ban Liên lạc toàn quốc Sư đoàn 471 rồi sau này là Hội Trường Sơn Sư đoàn…
Qua nhóm Zalo của Thường trực Hội TS Sư đoàn 471, Phạm Sinh liên tục đưa hình ảnh và thông tin cập nhật tiến độ xây dựng Bia Di tích. Ngày 15/7, công trình đang hoàn tất công đoạn cuối cùng. Ngày 16/7, đã hoàn thành toàn bộ sơn công trình. Tôi sốt ruột vô cùng. Cái lưng vẫn còn đau thế này thì đi làm sao? Tôi đành phải nhắn tin cho cháu gái xin hủy vé máy bay. Rất may, vì cháu gái quen thân với Vietnam Ảirlines nên vẫn OK.
Dù sức khỏe không tốt, tôi vẫn gắng hoàn thành in Giấy mời, Bằng Vinh danh cám ơn người đóng góp từ 5 triệu đồng trở lên cho việc xây dựng Bia Di tích, gửi 30 giấy chứng nhận cấp học bổng Vừ A Dính cho các cháu học sinh dân tộc xã Bến Giằng…
Ngày 18 và 19 tháng 8, tôi liên tục mở điện thoại để xem thông tin, ảnh, video clip tường thuật về Lễ khánh thành Bia Di tích và Lễ Kỷ niệm 55 năm thành lập Sư đoàn. Nhìn đồng đội từ mọi miền tụ về Bến Giằng hôm nay mà trong người như có lửa đốt. Chờ đợi, háo hức để được trở lại nơi mà mình đã có những tháng ngày đáng nhớ. Tại đây đã giúp tôi viết được rất nhiều câu truyện xảy ra ở Bến Giằng. Mảnh đất này thật đặc biệt. Từ Phù Trường, huyện Viêng Thoong, tỉnh Saravan, Nam Lào, Sư đoàn chúng tôi được lệnh hành quân trở về đất mẹ ngày 25/5/1973. Sau hai ngày hành quân trên đường B46, vượt trên 200 km, chúng tôi tạm dừng chân ở khu vực sân bay Khâm Đức cũ. Từ Khâm Đức, mỗi phòng cử 10 cán bộ, chiến sĩ tham gia vào lực lượng “đánh thức” đường 13 ở Bến Giằng để Sư đoàn đặt đại bản doanh tại đây.
Đường 13 được Pháp mở vào những năm 20 của thế kỷ trước. Con đường rộng khoảng ba mét, xe cơ giới có thể đi một chiều. Tuy nhiên còn đường từ nhiều năm không được sử dụng, cây cối mọc phủ kín mặt đường. Một lối mòn len lỏi giữa lau lách và cây cối do đồng bào đi bộ mà hình thành. Theo phân công, mỗi phòng chúng tôi chia nhau ra từng đoạn đường để chặt cây cối, lau lách.
Chưa đầy một tuần, con đường 13 đã lộ diện. Sư đoàn còn điều một chiếc máy húc từ Trung đoàn đoàn 10 công binh tới san gạt mặt đường. Nhiều chỗ, máy húc đã mở rộng thêm mặt đường để hai ô tô có thể tránh nhau dễ dàng.
Những ngày lao động vất vả dưới cái nắng như thiêu như đốt. Chúng tôi ai cũng đen nhẻm và người hốc hác do cường độ lao động và ăn uống kham khổ. Để cải thiện cho bữa ăn, chúng tôi tranh thủ tìm kiếm rau rừng bên sông Thanh. Sông Thanh rất nhiều cá. Rất may, anh Lã Đại Hải, trợ lý Ban Cán bộ Sư đoàn đã gửi mua được một tay lưới đánh cá. Thế là buổi chiều ngày thứ tư, sau giờ phát đường, chúng tôi phân nhau cầm lưới thả cho trôi theo dòng nước. Những chú cá trắng to chừng ba, bốn lạng lao vào lưới. Chạy lưới chừng hơn một trăm mét đã có khoảng hơn một chục con cá mắc lưới. Ngay buổi chiều đầu tiên chúng tôi bắt được hơn ba mươi chú cá. Chúng tôi kho cá rồi nấu canh cá với lá tai chua hái trong rừng. Có cá bồi dưỡng, sức khỏe chúng tôi được hồi phục nhanh chóng. Trong những ngày chặt cây, phát đường tôi vô tình gặp được người anh họ là Phạm Ngọc Sơn. Anh tốt nghiệp kinh tế tài chính, công tác ở Ủy ban Kế hoạch nhà nước. Năm 1968, anh đi B bổ sung vào Ban Kinh tế Khu 5. Hôm ấy anh đi công tác về UBND Giải phóng Nam Giang. Hai anh em nhận ra nhau mừng mừng tủi tủi. Chúng tôi mời anh ăn cơm. Khi chia tay chúng tôi còn tặng anh một sâu cá năm con cá trắng Sông Thanh. Anh bảo: Thế là mình lại có quà khi gặp anh em ở huyện Nam Giang rồi…
Đường 13 được khai thông. Các đơn vị được lệnh hành quân lên Bến Giằng để xây dựng doanh trại. Tại đây, nhà cửa đều được chỉ đạo làm nổi trên mặt đất, không phải làm nhà hầm. Vì thế việc làm nhà khá nhanh chóng. Chỉ sau chưa đầy một tháng, doanh trại của các đơn vị đã nhanh chóng hình thành. Cách ngã ba sông ở Bến Giằng đi vào đường 13 khoảng gần 2 km lần lượt mọc lên doanh trại của Viện quân y 46, Tiểu đoàn thông tin 446, Đại đội Cảnh vệ, Phòng Tham mưu Tác chiến, Phòng Vận chuyển, Khu Bộ Tư lệnh, Hội trường, Nhà giao ban, Nhà khách. Tiếp đến là doanh trại Phòng Chính trị, Phòng Hậu cần, Phòng Công binh, Tiểu đoàn An Dưỡng, Tiểu đoàn Huấn luyện 15. Doanh trại kéo dài gần 2 km.
Đầu tháng 8, Sư đoàn quyết định san gạt các hố bom và cây cối một bãi bồi ven sông Thanh, tạo thành một sân vận động lớn của Sư đoàn. Sân vận động có một sân bóng đá, sân bóng chuyền, hố nhảy cao, nhảy xa. Phía trong của sân vận động được máy húc san một vạt đồi nhỏ thành một sân khấu biểu diễn rộng lớn.
Đêm đêm doanh trại của các phòng ban, đơn vị bóng điện sáng trưng. Nếu nhìn từ đài quan sát thì cả khu vực Bến Giằng dài gần 2 km, đèn điện sáng rực. Có thể nói Bến Giằng như một thị trấn khá sầm uất trong vùng giải phóng - Một “thị trấn” độc nhất vô nhị của vùng giải phóng của chiến trường Khu 5 do Bộ đội Trường Sơn làm chủ.
Ngày 2/9/1973, Bộ Tư lệnh sư đoàn quyết định tổ chức Lễ mít tinh kỷ niệm với sự tham gia của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn và cán bộ, đồng bào các dân tộc huyện Nam Giang. Lãnh đạo tỉnh Quảng Đà và huyện Nam Giang đã tới dự. Hàng chục khẩu pháo của Trung đoàn 545 vươn nòng lên trời cao, sẵn sàng bảo vệ an toàn cho Lễ mít tinh…
Sau Lễ mít tinh đã diễn ra hội thao đội ngũ của các đơn vị. Cùng lúc trên sân vận động là thi đấu bóng chuyền, thi chạy, thi nhảy cao, nhảy xa. Cuối cùng là trận đấu bóng đá giữa Liên quân Phòng Tham mưu Tác chiến, Phòng Tham mưu Vận chuyển với Liên quân Phòng Chính trị - Phòng Hậu cần và Phòng Công binh. Tư lệnh và các Phó Tư lệnh thi đấu cho Tham mưu tác chiến - Vận chuyển. Chính ủy và các Phó Chính ủy thi đấu cho Liên quân Chính trị - Hậu cần - Công binh. Ngày ấy, tôi đã viết bài tường thuật về trận đấu bóng đá đặc biệt đầu tiên trên Trường Sơn đăng trên báo Quân đội Nhân dân…
Từ khi đường 13 được khai thông, việc đi lại, lưu thông trong vùng khá thuận lợi. Thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp các cô gái gùi thồ lương thực đi vào phía UBND giải phóng Nam Giang. Trước đây họ phải vất vả luồn lách qua lối mòn đầy lau lách và cây cối lút đầu người trên đường 13. Giờ thì đường 13 đã phẳng phiu, quang đãng, rộng rãi…Có một cậu chuyện khá kỳ lạ xảy ra với Ban Tuyên huấn chúng tôi. Trong lúc làm khu vệ sinh, chúng tôi phát hiện và đào được một cái chóe rất lớn, có hoa văn xanh rất đẹp. Chóe cao gần tới cổ của tôi. Chẳng lẽ khu vực này là nơi chôn cất đồ quý của đồng bào? Thông thường người sở hữu cái chóe lớn và đẹp như thế này phải là người giàu có? Người ta bảo chóe có đôi. Thế là chúng tôi đào rộng khu vệ sinh ra nhưng không tìm được cái thứ hai. Sau này, mấy người quen của kho hậu cần thông báo với chúng tôi có mấy thùng thịt hộp bị quá hạn, phồng rộp, không còn sử dụng được. Vì có cái chóe, chúng tôi liền xin những thùng thịt hộp về, mở ra cho vào chóe. Chúng tôi rang một ít gạo rang làm thính trộn vào để làm mắm. Ba thùng thịt hộp quá hạn cho vào chóe mà mới đầy chưa tới một nửa. Thế mới biết cái chóe lớn như thế nào. Cuối tháng 9 năm 1974, Sư đoàn được lệnh hành quân ra Tân Lâm, Quảng Trị để thành lập Sư đoàn ô tô. Tôi liền nhắn cho anh Phạm Ngọc Sơn vào lấy chiếc chóe với mắm thịt đã ủ được gần một tháng. Mở ra, chóe mắm thơm phức. Chúng tôi không thể mang nó đi một cách nguyên vẹn với hành trình hơn 500 km trên đường Đông Trường Sơn…
Nhiều sự kiện và chiến tích đã xảy ra trên đất Bến Giằng. Cuối năm 1973, Sư đoàn nhận được thông báo từ Hà Nội có một đài phát thông tin của địch gần khu vực đóng quân của Sư đoàn. Bộ Tư lệnh huy động lực lượng của Đại đội Cảnh vệ, Đại đội 7 bộ binh lùng sục theo thông báo từ Hà Nội. Cuối cùng ta cũng phát hiện ra dấu vết của nhóm thám báo. Chúng chỉ để lại dấu vết là một chỗ đun nấu còn nóng ấm trên một đỉnh núi. Bọn thám báo đã rút chạy về Đà Nẵng…
Tôi nhớ, khi Ban Thường vụ Hội TS Sư đoàn triển khai kế hoạch xây dựng Bia Di tích Sở chỉ huy Sư đoàn ở Bến Giằng, tôi được phân công dự thảo nội dung Bia. Hội nghị lịch sử của Ban Thường vụ diễn ra ở một địa điểm khá đặc biệt: Ngôi nhà chính trong Trang trại rộng 108 ha của đồng chí Trần Thị Chung, Phó Chủ tịch Hội Sư đoàn tại Tân Yên, Yên Bái. Nội dung Bia được thông qua và được Phạm Sinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội TS Sư đoàn chuyển cho nơi hợp đồng khắc bia ở Ninh Bình…
Thấy bố buồn khi không dự được hai sự kiện đầy ý nghĩa của Sư đoàn, con gái lớn Phạm Diệp Anh và con rể Nguyễn Tuấn Thành đã rất tâm lý. Hai con tổ chức một tua du lịch vào Đà Nẵng từ ngày 27 đến 31/7/2026. Các con mời vợ chồng tôi cùng bà mẹ chồng của cháu và cậu con trai thứ hai Nguyễn Tuấn Phong lên đường. Đêm 26/7 bà thông gia Vũ Ngọc Toàn bị tiền đình nặng. Thế là con rể tôi phải ở lại để đưa mẹ đi bệnh viện. Tua du lịch Đà Nẵng chỉ còn con gái cùng cậu cháu ngoại và vợ chồng tôi.
8 giờ sáng ngày 28/7, chiếc ô tô 7 chỗ ngồi hiệu IZUSU đã tới đón chúng tôi đi Bến Giằng. Các cháu đã đặt một cuốc xe từ trước.
Ngôi trên xe, tôi đã giới thiệu cho mọi người về di tích Bến Giằng. Cháu lái xe tên Châu nghe tôi giới thiệu về di tích Bến Giằng liền hỏi:
-Ông ở Bến Giằng thời kỳ nào ạ?
-Từ cuối tháng 5 năm 1973 cháu ạ. Tôi trả lời.
-Ôi, thế thì từ lúc ba cháu chưa sinh, ông ạ.
-Ba cháu sinh năm nào? Tôi hỏi.
-Dạ, giữa năm 1975 ạ…
Từ Đà Nẵng, xe của chúng tôi thẳng hướng đi Đại Lộc. Từ đây xe bon bon trên đường 14B để đi Bến Giằng. Đường 14B trườn qua những con đèo để tới xã Thạnh Mỹ. Đường đi bằng phẳng hơn. Thạnh Mỹ cách Bến Giằng 7 km. Gần đến Thạnh Mỹ thì tôi nhận được điện thoại của cô giáo Hiệu trưởng trường Mầm non Bến Giằng A Rất Quý. Cô hỏi “Bác đã đi tới đâu rồi ạ?” Tôi trả lời: “Mình sắp tới Thạnh Mỹ rồi!” “Cháu đón bác ở gần trạm xăng Thạnh Mỹ ạ. Cháu muốn gặp bác một chút ạ.”. “Được rồi cô giáo”. “Cháu gửi định vị cho bác nhé!”. “Cám ơn cô Hiệu trưởng!” Tôi quay lại giải thích với con gái Diệp Anh và mọi người trong xe: “Đây là cô Hiệu trưởng A Rất Quý. Trường này vừa qua bố đã xin tài trợ từ CHLB Đức được 500 triệu đồng để cải tạo 2 phòng học cũ đổ nát thành nhà ăn và bếp nấu ăn cùng mua sắm trang thiết bị nấu ăn và nhà ăn. Bố chỉ liên hệ qua điện thoại thôi…
Mải nói chuyện xe chúng tôi qua Thạnh Mỹ lúc nào không hay. Khi nghe điện thoại của cô A Rất Quý, chúng tôi mới biết đã vượt qua Thạnh Mỹ, xe lúc này chỉ còn cách cấu Bến Giằng một ki lô mét thôi. Đành phải hẹn gặp cô Hiệu trưởng trên đường quay trở ra Thạnh Mỹ.
Qua cầu Bến Giằng, ngay phía tay phải của cầu, Bia Di tích Sở chỉ huy Sư đoàn 471 đã hiện ra.
Mặc dù đã nhìn kỹ ảnh, xem các video clip mọi người đưa lên trang zalo của Hội TS Sư đoàn 471 về Khu Di tích, tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên. Toàn bộ nền của khu Di tích được tôn cao hơn một mét so với cốt nền hiện có. Tôi cùng vợ, con gái và cháu ngoại bước lên năm bậc lát đá đen để lên nền của Di tích. Tôi bồi hồi xúc động đọc cho vợ, con và cháu ngoại nghe những dòng chữ khắc trên tấm bia đá cao, to và rất dày.
Nhìn tấm Huy hiệu Hội Trường Sơn Việt Nam được đặt chính giữa và cao nhất; nhìn chiếc logo của Sư đoàn mà tôi và Nguyễn Chí Công đã khởi thảo ngày nào ở Bến Giằng năm 1973 và chiếc logo của Bến Giằng – Nam Giang hôm nay được đặt đúc kỳ công từ Ninh Bình mang vào, tôi mới thấy sự công phu của công trình này… Trần Thị Chung với bề dày kinh nghiệm xây dựng nhiều công trình của mình đã rất cầu kỳ đặt ra kỹ thuật cho công trình này. Có lẽ trong số hơn mười Bia di tích Trường Sơn đã được thiết kế và xây dựng trên nhiều miền đất nước, tôi chưa thấy công trình nào được đổ bê tông cho toàn bộ diện tích của công trình. Bia Di tích Sở chỉ huy Sư đoàn ở Bến Giằng với diện tích 35 mét vuông được đổ bê tông với hai lớp sắt phi 10 dày 15 phân. Bức tường đặt các logo ốp ngay sau lưng tấm Bia Di tích cũng đều được đổ cột xi măng cốt thép vô cùng vững chãi. Nền Di tích toàn bộ được lát đá xanh phẳng phiu cũng được chuyển từ Ninh Bình vào…Có lẽ khi quyết định áp dụng các yếu tố kỹ thuật cho công trình, cô bạn đồng đội Phó Chủ tịch Trần Thị Chung của tôi đã tính đến cả chuyện đề phòng khu vực này nếu có xảy ra động đất thì công trình Bia Di tích của Sư đoàn chắc chắc vẫn “chơ gan cùng tuế nguyệt” thôi!
-Vị trí đắc địa. Công trình rất đẹp anh ạ. Bà vợ tôi khẳng định.
Gia đình tôi đã chụp nhiều bức ảnh kỷ niệm tại Bia Di tích.
Tôi gọi điện cho Chủ tịch UBND xã Châu Ngọc Vĩnh. Anh đang chủ trì một cuộc họp của lãnh đạo xã trên tầng 2 của Tòa nhà trụ sở UBND. Thấy chúng tôi tới, anh Châu Ngọc Vĩnh rời phòng họp chạy ra đón chúng tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp anh Vĩnh. Trước đó, tôi chỉ trao đổi công việc qua điện thoại.
Gặp tôi anh rất mừng. Anh bảo:
-Hôm trước nghe các cô, các chú thông báo chú bị bệnh nên không vào dự được. Chúng cháu cứ tiếc mãi. Làm việc với chú qua điện thoại, bây giờ mới được gặp chú ở ngoài đời.
Tôi tranh thủ tặng Chủ tịch chè Tân Cương Thái Nguyên, rồi tặng 10 cuốn sách của mấy đầu sách xuất bản gần đây của tôi cho Thư viện của xã. Biết anh Vĩnh đang chủ trì một cuộc họp quan trọng, tôi đề nghị được chụp vài bức ảnh kỷ niệm giữa gia đình tôi và anh. Chị Hương, Phó Chủ tịch phụ trách Văn xã đã giúp chúng tôi thực hiện nguyện vọng này.
Chia tay, Chủ tịch Châu Ngọc Vĩnh ngỏ ý muốn mời cơm chúng tôi, xong chúng tôi từ chối để thực hiện mấy chương trình tiếp theo…
Theo nguyện vọng của tôi, cháu lái xe đưa chúng tôi đi vào hướng cửa khẩu Nam Giang để tôi trở lại quan sát các vị trí đóng quân ngày xưa của các đơn vị. Đường 14D mấy năm nay có xe tải trọng lớn khai thác mỏ chạy trên con đường này nên mặt đường bị hư hỏng nặng. Ổ voi, ổ gà chi chít mặt đường. Chiếc Izusu bò thận trọng trên đường. Đi khoảng hai ki lô mét, tôi thấy đến một vùng khá bằng phẳng bên tay trái con đường. Cái sân vận động lớn của Sư đoàn nay được rào lại thành 2 khu hoạt động: Sân Thể dục thể thao của xã và Khu Văn hóa các dân tộc Bến Giằng nằm cạnh khu Thể dục Thể thao. Một ngôi nhà Rông khá bề thế làm không gian sinh hoạt văn hóa. Xe đi thêm vài trăm mét nữa, tôi thấy có một cái cống lớn, bên dưới là một con suối nhỏ chạy qua. Tôi nhận ra ngay đây là khu doanh trại của Phòng Chính trị của tôi năm xưa. Con đường rộng một mét từ ngoài đường chạy vào Phòng Chính trị giờ không thể nhận ra vì cây cối tốt um. Từ hẻm núi phía trong doanh trại Phòng Chính trị của chúng tôi có một con suối rất trong chạy qua. Nó đi ngang trước sân nhà Ban Cán bộ rồi chảy qua nhà bếp của phòng. Nó lượn vòng trước chân đồi Ban Tổ chức rồi chạy thẳng ra đường 13 (nay là Đường 14D). Ngày trước tụi Pháp đã cho xây một chiếc cống lớn bằng gạch. Khi ta cải tạo và mở rộng Đường 14D, cái cống ấy vẫn được giữ nguyên. Vì thế, tôi không thể nhầm được.
Vượt qua cái cống ngầm, Đường 14D đi lên một con dốc nhỏ. Tôi nhớ bên tay trái con đường là doanh trại Phòng Hậu cần. Đi tiếp khoảng hai trăm mét, phía bên tay phải là doanh trại của Phòng Tham mưu Công binh Sư đoàn. Rất tiếc, trời đã trưa mà đường 14D lại hỏng hóc rất xấu nên chúng tôi phải quay ra, không tiếp cận được vị trí của Tiểu đoàn An dưỡng và Tiểu đoàn Huấn luyện 15 nằm ở phái trong. Tiếc nhất là không được nhìn thấy khu doanh trại của Tiểu đoàn huấn luyện ở bên kia con suối nhỏ. Nơi ấy có một hội trường lớn được mở. Mùa mưa năm 1973, tại đây Phòng Chính trị Sư đoàn đã mở hai lớp bồi dưỡng cho khoảng 400 bí thư Chi bộ trong toàn sư đoàn, mỗi lớp 200 đồng chí trong 30 ngày. Tôi vinh dự có tên trong số 200 học viên lớp bồi dưỡng Bí thư chi bộ đầu tiên mở ra tại đây.
Khi đi ngang qua sân vận động, tôi không thể hình dung ra khu vực doanh trại của Bộ Tư lệnh. Vì nó nằm sâu ở nên trong những quả đồi khá thấp với loạt cây rừng non mọc lại sau những đợt Mỹ thả chất độc hóa học làm chết các vạt rừng nguyên sinh hai bên bờ sông Thanh trong xanh của thập niên cuối 60 thế kỷ trước.
Bánh xe nặng nhọc bò tránh những ổ voi trên đường. Con đường bị những chiếc xe tải lớn chở đầy quặng tàn phá không thương tiếc con đường. Dù vậy, trong tôi vẫn rộn lên tình cảm thật khó tả khi sau 53 năm lại được đặt chân lên mảnh đất này với bao cậu chuyện, hình ảnh hiện về. Tại mảnh đất này, tôi đã viết được biết bao hồi ức, những truyện ngắn từ những chi tiết có thật xảy ra từ năm 1973 đến năm 1974 khi chúng tôi đã sống những ngày sôi động sau Hiệp định Pari đầu 1973? Đâu rồi Đại hội mừng công toàn Sư đoàn, tháng 12/1973? Đâu rồi Đại hội Thanh niên Quyết thắng Sư đoàn đầu năm 1974 mà lần đầu tiên chúng tôi tổ chức triển lãm hình ảnh của Sư đoàn? Đâu rồi những tranh cổ động, những khẩu hiệu, những tờ Bản tin Sư đoàn được Tổ Tuyên truyền do tôi phụ trách in và phơi đầy trước sân nhà Ban Tuyên huấn và Hội trường của Phòng ở kế bên? Đâu rồi trong những cơn mưa trắng trời của mùa mưa năm 1973, Liên chi đoàn Thanh niên của Phòng Ban Tuyên huấn mà tôi là Chi ủy viên, Bí thư Liên chi đoàn xuyên rừng tìm những cây chuối về nuôi chú lợn rất to của Ban Tuyên huấn mang từ Phù Trường, tỉnh Saravan sang, giờ đã trở thành chú “lợn quốc dân” của cả Phòng? Đâu rồi cái ngày cả Phòng mổ “chú lợn quóc dân” của Phòng để ăn tươi mừng Quốc khánh đầu tiên sau hòa bình? Đâu rồi tốp văn nghệ của Phòng Chính trị do tôi phụ trách tập luyện say mê các tiết mục văn nghệ tham gia Hội diễn lần thứ 2 toàn Sư đoàn đã giành Giải A tốp ca nam 13 người mà có tới 9 tay đàn và dụng cụ âm nhạc các loại biểu diễn vô cùng sôi động trên sân khấu? Đâu rồi những giờ tăng gia chăm sóc vườn rau dền tía khổng lồ bên bờ sông Thanh? Chỉ cần hái lá dền từ 20 cây dền khổng lồ mà chúng tôi trồng đã đủ cho một bữa ăn của cả phòng Chính trị với 64 người ăn! Đâu rồi những tối chủ nhật các đội chiếu phim của Sư đoàn phục vụ cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn và đồng bào các dân tộc Nam Giang? Đâu rồi ánh điện như sao xa, thắp sáng bừng doanh trại các Phòng, Ban, đơn vị san sát trong một “thị trấn 471” sầm uất ở Bến Giằng? VV…và VV…
Ký ức tươi rói của những năm tháng ở Bến Giằng cứ ùa về trong tôi không ngừng.
Tôi nhắm nghiền hai mắt cho cuốn băng video quá khứ cứ tự nhiên chôi về…Cứ thế, cứ thế, ký ức cứ ùa về trong tôi cho tới khi chiếc xe bắt đầu đến Hội An.
Một chuyến về nguồn của tôi thật đẹp và đầy ý nghĩa.
PTL.
tin tức liên quan