CƠN MƯA CHIỀU
Truyện ngắn Hoàng Minh Đức
Trong cơn mưa bão có một chiếc xe cứu thương từ bệnh viện tuyến huyện chuyển lên. Bệnh nhân là một ông già 80 tuổi. Tuy tuổi đã già nhưng ông ta có vẻ còn tráng kiện lắm. Ông có đầu tóc bạc phơ, nước da cũng trắng và dáng người cao to, quắc thước. Ông bị tai nạn do cây cối đổ ven đường làm giập nát mất đùi trái. Ông bị mất máu nhiều quá, cần phải tiêm cầm máu và cho mổ ngay. Ông thuộc người có nhóm máu hiếm ABRh(D) âm, nên rất nan giải. Hiện giờ nhóm máu này ở trong bệnh viện đã hết. Mà trong bệnh viện này chỉ mình Bác sĩ An mới có. Trong cuộc đời của An đã cho hàng trăm ca. Nhìn cái khuôn mặt này, hoàn cảnh này đã gợi cho anh nhớ đến một cơn mưa chiều xa lắc xa lơ.
*
* *
Những năm hòa bình đầu tiên, làng tôi ai nấy nô nức vào hợp tác xã. Ban đầu cả làng lấy nhà ông chủ nhiệm làm nơi hội họp tạm thời. Sau đó xã viên vào rừng chặt gỗ về làm nhà kho. Những người ở ngoài hợp tác được coi là lạc hậu, còn mang nặng đầu óc tư hữu của chế độ cũ. Những nhà như thế, con trai đi dạm ngõ sẽ bị chối từ, con gái thì không ai bước chân đến coi mắt. Nhiều đám cưới của thanh niên cũng được tổ chức theo đời sống mới. Các chi đoàn thanh niên xúm tay vào trang trí, mua quà tặng cho các cặp uyên ương. Trên phông màn đám cưới có dán một đôi chim bồ câu trắng và hai câu khẩu hiệu: “Tổ quốc hòa bình, gia đình hạnh phúc”; “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Nhiều đôi trai gái rất lấy làm hãnh diện về điều đó lắm, nhất là có bí thư xã đoàn hay bác chủ nhiệm lên phát biểu ý kiến, trao nhiệm vụ.
Những năm có sân phơi hợp tác, cứ mỗi tháng đội chiếu bóng lưu động số 7 lại về phục vụ ở xã tôi một tối. Phim chiếu trên màn ảnh rộng, bên cọc tre căng màn ảnh có treo một cái loa nén thật to hướng về phía khán giả. Ngay buổi chiều là có hai thanh niên vác loa đi quanh làng quảng cáo rầm rộ bộ phim sẽ chiếu tối nay. Lũ trẻ con chúng tôi giục bố mẹ nấu ăn cơm sớm để được chọn chỗ ngồi tốt. Giá vé lúc ấy người lớn là 1 hào, trẻ con 5 xu. Trẻ dưới 7 tuổi thì được miễn. Anh thuyết minh có tên là Ngọc. Anh Ngọc có nước da trắng, người dong dỏng cao, rất thư sinh. Anh thường mặc bộ quần áo trắng, mái tóc lúc nào cùng chải rẽ ngôi, xức nước hoa thơm nức. Trong mắt lũ con nít chúng tôi, anh thật tuyệt vời, giọng thuyết minh của anh sao mà ngọt ngào đáng yêu đến thế. Mỗi khi có đội chiếu bóng về làng, các anh chị, đặc biệt là đám con nít chúng tôi cứ vây lấy anh líu ríu như bầy chim. Cuộc sống yên bình trôi qua được mấy năm thì giặc Mỹ mang bom đánh phá miền Bắc.
Ngày mùng 5 tháng 8 năm 1964, quân dân miền Bắc đánh thắng trận đầu, bắn rơi 8 chiếc máy bay giặc Mĩ. Trong một đêm chiếu phim, anh Ngọc giơ lên một mảnh xác máy bay bị bắn cháy trước bóng điện cho nhân dân xem rồi thuyết minh: “Giặc Mỹ xâm phạm bầu trời miền Bắc nước ta, quân dân ta đã chia lửa với đồng bào, đồng chí miền Nam. Chúng bay cao thì đã có cao xạ pháo, chúng bay vừa thì có trung liên, đại liên, chúng bay thấp thì có súng trường”. Mọi người vỗ tay hoan hô. Đúng ngay tối hôm đó, lúc bộ phim mới bắt đầu chiếu thì máy bay địch ập đến. Chúng thả pháo sáng rồi lượn mấy vòng quanh sân kho. Bóng đèn điện vụt tắt. Máy bay sà xuống thấp lắm. Lần đầu tiên chúng tôi thấy hai chiếc máy bay địch lướt qua trong ánh sáng đèn dù. Tiếng anh Ngọc vẫn bình tĩnh hướng dẫn bà con chạy theo giao thông hào để thoát ra khỏi khu vực chiếu phim. Lũ con nít chúng tôi lúc đó xem anh Ngọc là thần tượng, một con người anh hùng.
*
* *
Năm tôi học lớp 5, chị Nụ đã tốt nghiệp lớp 7 (hệ 10 năm). Chị Nụ đẹp lắm. Chị thường mặc bộ bà ba đen bó sát thân người. Hai má chị lúc nào cũng ửng đỏ. Tiếng tăm của chị đẹp nổi tiếng một vùng làm bao người dòm ngó. Những đường cong trên cơ thể mềm mại của chị hút hồn bao chàng trai và các chú bộ đội về đóng quân ở trong làng. Làng tôi là nơi bộ đội tập kết một đêm để vào miền Nam chiến đấu. Đi đâu hai bác tôi cũng hãnh diện với bạn bè vì có một đứa con gái đẹp.
Có một ông bạn của bác làm chủ nhiệm hợp tác xã ở xã bên dắt đứa con trai đến đặt vấn đề tìm hiểu. Đó là một chàng trai gầy gò, đã tốt nghiệp lớp 10, có giấy báo đi học ở nước ngoài. Anh mặc bộ cánh rộng thùng thình gồm một chiếc áo sơ mi vải lanh trắng, quần linen và chiếc áo khoác màu nâu đỏ. Ông chủ nhiệm khoe có thằng con trai lớn đang học ở Ba Lan, gửi hàng về nhiều lắm. Hai bác tôi rất ưng ý. Hai nhà môn đăng hộ đối. Thế mà chị Nụ tôi vẫn không đồng ý. Bác tôi bảo: “Mày còn chê bai nó cái nỗi gì? Nó vừa giàu có, lại đẹp trai, có học thức. Trong làng ta thử hỏi có ai hơn nó. Nó sẽ đi học nước ngoài, tương lai còn đang phía trước con ạ”. Chị trả lời: “Con có người yêu rồi. Khi nào con sẽ cho bố mẹ gặp anh ấy”.
Thời gian này giặc Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất nên việc xem phim ảnh họa hoằn mới có một đôi hôm. Đội chiếu bóng lưu động số 7 thỉnh thoảng về phục vụ từng đội sản xuất, phân chia chiếu theo từng ca kíp. Nhà kho các đội phải che phông màn xung quanh kín mít.
Ngày có đội chiếu bóng trở lại làng, chị Nụ tôi vui lắm. Chị hăng hái cùng thanh niên ngụy trang các nhà kho và hướng dẫn các kíp vào xem. Trai làng đi theo phục vụ đội chiếu bóng chủ yếu là muốn được gần gũi chị Nụ.
Hết đợt chiếu bóng, chị ra ngẩn vào ngơ. Chị hay tư lự nhìn về phía xa xăm và bỗng mỉm cười một cách vô duyên cớ. Rồi chị thèm quả chua. Chị thèm khế, thèm chanh và đặc biệt là những quả chay ngoài vỏ màu xanh, trong ruột đỏ lòm. Trong vườn nhà chị có một cây chay sai quả lắm. Chúng tôi thường trèo lên hái trộm chia nhau ăn. Quả chay mềm khi chín có vị ngọt thanh nhưng khi còn xanh chua lét.
Chỉ nghĩ đến quả chay là người ta đã chảy ứa nước miếng thế mà chị cầm lấy nhai ngấu nghiến rất ngon lành. Trên cái cổ cao trắng ngần của chị đã xuất hiện mấy đường gân xanh. Bác gái tra khảo hỏi mấy chị tôi cũng không nói. Hai bác tôi mãi chờ cái ngày “người đó” sẽ về cưới hỏi như lời chị Nụ nói mà chẳng thấy. Hai bác tôi ngày trước hãnh diện với hàng xóm bao nhiêu thì nay câm lặng bấy nhiêu. Bác trai rít lên: “Nhục ơi là nhục! Nhà chỉ có một đứa con”. Bác gái tôi vỗ về: “Thôi ông ạ. Việc nào có đó. Đừng la mắng con lúc này mà tội, ảnh hưởng đến đứa bé”.
Chị Nụ thì ngồi ở nhà khóc thút thít một mình. Bà con trong làng bây giờ được dịp đàm tiếu. Nhất là ông chủ nhiệm xã bên và đám trai làng hậm hực vì không được chị nhận lời. Bây giờ họ dèm pha, chế giễu. Bác gái tính đưa chị lên mạn ngược để sinh nở nhưng bác trai quát: “Voi ỉa giữa đàng lấy sàng mà đậy. Đậy sao nổi. Bây giờ ai cũng biết rồi còn đi đâu nữa. Ở nhà mà đẻ”.
Lòng chị Nụ buồn tê tái. Mặt chị giờ đây cũng đã sần sượng, chai lì. Chị mong mãi mong hoài mà người ấy của chị có trở lại đâu. Lần đầu tiên chị vượt cạn một mình không có ai bên cạnh. Chị đẻ thiếu tháng, lúc cả nhà đi vắng, chị cũng chẳng dám gọi ai. Chị núm lấy cái chỏm tóc của thằng bé lôi ra rồi tự mình lấy cái thanh nứa cắt rốn.
Chiến tranh ngày càng tàn khốc, vùng tuyến lửa vắng hẳn phim ảnh. Thằng An con trai chị Nụ lớn lên trong sự ghẻ lạnh của mọi người. Hình như nó cũng hiểu hoàn cảnh con không cha nên chẳng dám ốm đau. Nhiều lần thằng bé hỏi cha nó là ai, mẹ nó chỉ trả lời bâng quơ cho qua chuyện: “Bố con là bộ đội. Bố còn bận chiến đấu ở chiến trường xa chưa về. Con cố gắng mà học hành cho giỏi là sẽ được gặp bố”. Tháng nào nó cũng cố gắng học giỏi để được đứng thứ nhất trong lớp. Sau buổi hô thứ cuối tháng, ra khỏi cổng trường những đứa học thua nó chặn lại trêu: “Lêu lêu cái thằng không cha”. Nó trả lời: “Bố tao là giải phóng quân. Khi nào bố tao về sẽ bắn chết hết chúng mày”.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng vẫn không thấy bố thằng bé đâu cả. Được dịp, lũ bạn tha hồ trêu chọc nó: “Hết chiến tranh sao bố mày không về”. “Bố tao đã hy sinh rồi. Bố tao là liệt sĩ”. “Không phải! Bố mày là cái thằng cha chiếu bóng. Tao nghe mẹ tao nói thế”. Nó bảo mẹ phải đi tìm bố cho bằng được. Những lúc ấy chị Nụ chỉ biết có khóc. Đêm đêm nước mắt chị đầm đìa, ướt cả chiếc gối.
*
* *
Có một ngày trời đổ cơn mưa chiều. Trận mưa đầu mùa làm thay đổi cuộc đời chị Nụ. Trận mưa đến bất ngờ quá nên chị đi mua hàng không về kịp. Ngày ấy đứa nào cũng có người nhà đưa áo mưa đến, chỉ riêng thằng An con chị là không có. Nó vội chạy vượt lên trước trong cơn mưa. Một thằng cùng lớp chạy theo nó nói:
“Trời mưa sao bố mày không đưa áo mưa cho mày”. Nó quay lại nhổ một bãi nước bọt rồi bặm môi chạy tiếp. Thằng kia chạy theo lấy cái chân khoèo nó ngã sấp xuống vũng nước. Nó vùng dậy bốc bùn ném vào mặt thằng xô nó ngã. Hai đứa hùng hục lao vào đấm đá nhau như hai con trâu điên. Cả đám bạn xúm lại đánh chùm. May quá, có một người đàn ông vác cuốc đi làm đồng về. Anh quát: “Các cháu có thôi đi không. Sao cả đám đông lại đánh một bạn như thế”. Rồi anh quay sang thằng bé: “Nhà cháu ở đâu để chú đưa về. À! Cháu là con mẹ Nụ phải không. Thôi cháu che ni lông cùng đi với chú. Ướt át hết cả rồi”.
*
* *
Nghe tin anh Khang sẽ lấy chị Nụ, đám con gái trong làng giật mình. Ông bố của anh cũng không đồng ý. Ông bảo: “Con gái trong làng chết hết cả rồi sao. Trai tơ sao lại đi lấy nạ dòng. Mà lấy ai cơ chứ. Thà là gái góa chồng mà chồng phải là người đánh giặc hy sinh vì đất nước chứ ai lại lấy một đứa con gái chửa hoang. Một đứa lẳng lơ không ra gì, cả làng không ai dòm ngó”.
Ban đầu anh tới, chị cũng chối đây đẩy. Chị nói : “Đời em chẳng ra gì, em không còn xứng đáng với anh”. Mặc. Anh bỏ ngoài tai hết. Anh nói anh đã để ý đến chị từ cái hồi chưa đi bộ đội. Anh nói với chị những lời yêu thương và san sẻ tình yêu với đứa con riêng của chị. Anh ngồi tỉ tê với thằng bé và lắng nghe những suy nghĩ của nó khi nhận xét về bạn bè. Còn thằng bé thì mừng hết chỗ nói. Từ nay chẳng ai dám ăn hiếp, bắt nạt nó nữa. “Anh sẽ coi thằng bé như con trai của mình. Sau này em nghiệm lại lời anh nói hôm nay”. Và anh thực hiện đúng lời hứa của mình. Anh tôn trọng cuộc đời riêng tư của chị. Anh không hề hỏi chị bố của thằng bé là ai.
Anh dọn về ở với chị. Hàng ngày chị đi mua hàng ở chợ hôm bán chợ mai, còn anh thì vẫn đi làm đồng. Cưới được một năm thì chị mang thai. Anh sung sướng nghiêng tai vào bụng chị nghe nó quẫy đạp, tiếng tim đập thình thịch của con mình. Thằng An, đứa con trai của chị Nụ ngày càng ngoan ngoãn hơn. Nó đã biết giúp mẹ làm việc vặt. Nó hãnh diện với bạn bè là có một người cha đi bộ đội trở về và nó vẫn luôn luôn đứng đầu lớp. Anh Khang còn làm cho bọn trẻ nhiều đồ chơi và vui đùa với chúng. Anh làm cho mỗi đứa một con diều sáo nên đứa nào cũng thích. Chúng đã sống hòa đồng với cậu con trai. Bọn trẻ ngày càng yêu quý chú Khang và có phần nể trọng thằng bé.
Ngày chị trở dạ, anh chở chị lên trạm xá. Đứa trẻ sinh ra sống thoi thóp được một tuần thì chết. Chị rất đau buồn. Cái hạnh phúc nhỏ nhoi chị muốn đem lại cho anh để đền bù những thiệt thòi mà anh phải gánh chịu cũng không có. Chị tự dằn vặt bản thân mình. Anh vỗ về an ủi: “Con cái là lộc trời cho, mình ở hiền gặp lành chắc chắn sẽ được đền đáp”.
Lần nữa chị lại có thai, anh không cho chị sờ tay động chân vào những công việc trong nhà. Hai tháng cuối cùng chị đã nghỉ bán ở chợ. Lần này anh chở chị lên dưỡng thai trên bệnh viện huyện trước cả một tháng trời. Anh lần hồi kiếm gà tần, cá chép nấu cháo bồi dưỡng cho chị. Anh hồi hộp đón nhận đứa con sinh nở lần thứ hai. Chị chuyển dạ, bác sĩ bảo anh hãy ra ngoài. Đã hai ngày trời nước ối vỡ mà đứa bé chẳng chịu ra. Chị chưa xuất hiện cơn co thắt. Bác sĩ tiêm thuốc oxytocin để kích đẻ. Thấy ai ở phòng hộ sinh đi ra anh cũng chạy theo hỏi: “Vợ tôi ra sao rồi bác sĩ”. Bà bác sĩ thông báo: “Người mẹ có nguy cơ phát triển biến chứng tiền sản giật. Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng”. Lòng anh như lửa đốt đứng ngồi không yên. Suốt mấy ngày anh không kịp ăn uống gì, chỉ ngồi gặm tạm chiếc bánh mì trước dãy ghế của phòng chờ. Ngày thứ 5, cô hộ sinh đi ra hỏi ai là Nguyễn Văn Khang. Cô dẫn anh sang phòng hóa sinh đi xét nghiệm máu. Anh đi chênh vênh trong trạng thái không trọng lượng. Trở về anh được dẫn đến xem đứa con vừa mới sinh ra. Đó là một cái bọc nặng 3,4 kg chỉ có tim thai còn đập. Người vợ anh nằm trong phòng cấp cứu. Chị Nụ bị băng huyết. Bác sĩ thông báo anh bị nhiễm chất độc Dioxin. Anh bỗng nhớ đến những mùa mưa đi qua cánh rừng Trường Sơn cháy lá.
*
* *
Thằng An ngày xưa bây giờ đã là ông bác sĩ trưởng khoa. An cho tôi biết, bệnh nhân bị gãy đùi có tên là Trần Văn Ngọc, không có người nhà đi theo chăm sóc. Một người hàng xóm thương tình đi nuôi. Người đó cho biết ông Ngọc đã qua ba đời vợ. Nhà chỉ có một thằng con trai duy nhất thì đã bị sốc ma túy mà chết cách đây hơn 15 năm. Không biết có đúng là Ngọc thuyết minh ở đội chiếu bóng số 7 ngày xưa không. Đội chiếu bóng quốc doanh đã bị giải thể từ lâu rồi nên tôi không có dịp gặp lại. Ra đi chị Nụ cũng không cho tôi biết ai là cha thằng bé. Còn anh Khang, người không huyết thống, không máu mũ ruột rà nhưng đã nuôi thằng An lớn lên trong vòng tay anh yêu thương hơn cả ruột thịt. Cái nghĩa, cái tình đã gắn kết hai con người khốn khổ lại với nhau. Khi thằng An thi đậu á khoa đại học Y Hà Nội, anh Khang bán con bò cho nó lấy tiền rồi đèo lên ga. Oái oăm thay trời hôm đó lại cũng đổ cơn mưa chiều. Anh đem đồ đạc cho nó lên toa xe rồi hối hả đạp xe về.
Nhìn theo bóng người cha cúi rạp người trên chiếc xe đạp đi trong cơn mưa, nước mắt An chảy ra giàn giụa, trĩu nặng yêu thương. Bất giác nó thấy có một người đàn ông cũng lặng lẽ đứng nhìn theo nó. Thỉnh thoảng ông ta lại đưa tay lên vuốt nước mưa.
Nay đi đâu An cũng ám ảnh với ánh mắt kỳ lạ đó. Hình ảnh của người đàn ông lạ lùng năm xưa không biết đi tiễn ai cũng đứng dưới sân ga vuốt nước mưa nhìn theo An với ánh mắt bâng khuâng trong cơn mưa chiều, khó tả.
Hoàng Minh Đức
Xóm 2 , Thôn Minh Lệ, xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị.