Tiếng Loa chiều cuối năm - Ký sự: Bùi Văn Hoằng

Ngày đăng: 09:51 07/10/2026 Lượt xem: 324
TIẾNG LOA CHIỀU CUỐI NĂM
                                                                                                         Truyện ngắn
 
      Mùa đông năm ấy đến sớm và buốt giá hơn thường lệ. Khói bếp của làng Đoài và làng Đông quyện vào nhau, mờ mịt cả một khoảng đồng vùng chiên trũng. Nhưng sự lạnh lẽo của thời tiết chẳng thấm tháp gì so với bầu không khí ngột ngạt đang bao trùm lên ngôi làng mới thành lập: Thôn Đông, thôn Đoài.
       Lệnh sáp nhập hai thôn làm một đã có từ sáu tháng trước, nhưng đến nay, lòng dân vẫn như dòng sông ngày lũ, ngổn ngang và đầy phù sa bất an.
       Ông Cường, nguyên Trưởng thôn Đoài cũ, nay là Phó Trưởng thôn mới, ngồi bên bục đá ngoài sân đình. Chiếc điếu cày trên tay ông rít lên một hồi sòng sọc, nhả ra làn khói xám xịt như thời cuộc. Đáng lẽ ở cái tuổi năm mươi lăm, ông đã được nghỉ ngơi. Nhưng đợt sáp nhập vừa rồi, cấp trên cơ cấu ông làm phó để “dìu dắt” trưởng thôn mới. Người nắm chiếc ghế Trưởng thôn Đông Đoài hiện tại là anh Thành – một thanh niên ngoài ba mươi, vốn là cháu họ của một lãnh đạo trên xã, trước đây làm cán bộ đoàn bên làng Đông.
         “Bất cập! Bất cập quá ông Cường ạ!” Bà Hiền, một người dân xóm Trong, vừa đi chợ về đã quăng đôi quang gánh xuống sân đình, thở hổn hển. Gương mặt bà đỏ gay vì tức giận lẫn mệt mỏi. “Có chuyện gì thế bà Hiền? Bình tĩnh ngồi xuống uống bát nước vối đã,” ông Cường ôn tồn bảo.
       - Bà Hiền xua tay: “Nước non gì nổi nữa! Tôi lên nhà văn hóa thôn mới để xin cái giấy xác nhận hộ nghèo cho thằng cháu đi học. Đi bộ rạc cả cẳng hai cây số sang tận bên làng Đông cũ. Gặp anh Thành trưởng thôn thì anh ấy bảo không biết nhà tôi có nghèo thật không, vì anh ấy không quản lý địa bàn này trước đây. Anh ấy bảo tôi phải về xin chữ ký của ông, rồi lại mang sang cho anh ấy ký, rồi mới lên xã. Ông xem, trước đây chân bước ra cửa là gặp ông, loáng cái xong việc. Bây giờ hành dân như hành hình!”
       - Ông Cường thở dài. Câu chuyện của bà Hiền không phải là duy nhất. Từ ngày sáp nhập, quy mô thôn tăng lên gấp đôi với hơn bốn trăm hộ dân, địa bàn kéo dài cả mấy cây số. Nhưng ngặt nỗi, bộ máy cán bộ lại tinh giản. Đúng lúc đó, ông An – Bí thư chi bộ thôn mới – bước vào sân đình với chiếc cặp da sờn góc. Khuôn mặt vị bí thư già hằn sâu những nếp nhăn suy tư. Ông An vốn là Bí thư làng Đoài, sau khi sáp nhập, nhờ uy tín cao nên ông được bầu làm Bí thư chi bộ chung, còn ông Đức bên làng Đông làm Phó Bí thư. “Thành chưa ký à bà Hiền?” Ông An lên tiếng, giọng trầm buồn. “Để tí nữa họp chi bộ, tôi sẽ nhắc nhở. Thành nó còn trẻ, chưa sâu sát được hết các hộ dân bên làng Đoài mình đâu.” “Không chỉ có thế đâu thưa Bí thư, Trưởng thôn!” Ông Tiến, Trưởng ban
Công tác Mặt trận thôn mới, cũng phanh kít chiếc xe vào sân. Ông Tiến là người làng Đông cũ, vốn tính thẳng thắn và công tâm. Ông dựng xe, mặt đầy vẻ ngao ngán: “Tôi vừa đi một vòng vận động đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa. Dân bên làng Đoài thì bảo cán bộ thôn toàn người làng Đông ưu tiên, nên họ không đóng.
       Dân bên làng Đông lại tị nạnh là tại sao hạ tầng bên Đoài kém thế mà tiền quỹ lại chia đều để sửa đường bên đó. Chia rẽ nội bộ nghiêm trọng lắm rồi!” Bốn người cán bộ và người dân ngồi lại với nhau trong bóng chiều nhập
nhoạng. Cuộc sáp nhập trên giấy tờ thì nhanh gọn, chỉ bằng một quyết định hành chính và một con dấu mới. Nhưng để sáp nhập lòng dân, sáp nhập những thói quen, phong tục và cả những quyền lợi sát sườn của con người thì lại là một bài toán quá tầm với của những người thực thi cơ học. Bất cập lớn nhất nằm ở khâu bố trí nhân sự. Cấp trên quy định mỗi thôn chỉ có một Trưởng thôn, một Phó trưởng thôn và một Công an viên. Khi sáp nhập, để “đẹp lòng” cả hai bên, xã đã sắp xếp anh Thành làng Đông làm Trưởng thôn vì trẻ tuổi, có bằng đại học tại chức; ông Cường làng Đoài làm Phó thôn vì già dặn, kinh nghiệm. Thế nhưng, anh Thành có bằng cấp nhưng thiếu thực tế, chẳng biết mặt hết người dân, suốt ngày chỉ ôm cái máy tính và giấy tờ theo chuẩn “số hóa”. Còn ông Cường có uy tín, thông thuộc từng bờ xôi ruộng mật thì lại bị biến thành “cái bóng”, chỉ đi giải quyết những việc lặt vặt hoặc đi điều đình những vụ tranh chấp đất đai, mâu thuẫn gia đình mà anh Trưởng thôn trẻ không dám sờ vào.
         Tối hôm đó, cuộc họp liên tịch giữa Chi ủy, Ban ban quản lý thôn và Ban công tác Mặt trận diễn ra tại nhà văn hóa mới – vốn là nhà văn hóa làng Đông cũ được cơi nới thêm. Anh Thành trưởng thôn ngồi ở bàn chủ tọa, bật máy tính xách tay, dõng dạc phát biểu: “Thưa các đồng chí, theo tinh thần chỉ đạo của Ủy ban nhân dân xã, chúng ta phải hoàn thành việc thu các loại quỹ trước ngày mùng mười tháng này. Hiện tại tiến độ bên khu vực làng Đoài cũ rất chậm. Đề nghị đồng chí Cường đốc thúc bà con. Chúng ta làm việc phải theo chỉ tiêu, không thể cứ chậm trễ mãi.” Ông Cường nhìn cậu trưởng thôn trẻ, nén tiếng thở dài, nói: “Báo cáo Trưởng thôn, không phải bà con chây ì đâu. Mà vì đợt này trạm bơm nước đặt bên làng Đông ưu tiên bơm nước vào đồng làng Đông trước, đồng làng Đoài bị hạn, lúa vụ mười vừa rồi năng suất giảm một nửa. Dân không có thu nhập, lại thêm việc đi lại làm giấy tờ khó khăn nên họ đang bức xúc. Tôi nghĩ mình phải đối thoại, giải thích cho dân hiểu, hoặc xin xã giãn thời gian đóng góp.” “Không được!” Thành gạt phắt đi. “Chỉ tiêu của xã giao xuống, nếu thôn chúng ta không hoàn thành thì cuối năm sẽ bị hạ thi đua. Việc nước nôi là do lịch điều tiết chung của hợp tác xã, không thể lấy đó làm lý do.”
         Không khí phòng họp bỗng trở nên căng thẳng. Ông Tiến Mặt trận đập tay xuống bàn: “Anh Thành nói thế không được! Làm cán bộ thôn là làm dâu trăm họ, phải nhìn vào cái bụng của dân mà hành xử. Dân đói thì lấy đâu ra tiền đóng quỹ? Anh suốt ngày ngồi văn phòng nhìn con số, anh có biết bà con xóm Trong, xóm Ngoài đang sống thế nào không? Từ ngày sáp nhập đến giờ, cái loa phát thanh của thôn đặt bên này, bên làng Đoài người ta có nghe thấy gì đâu? Thông báo họp hành, chính sách mới họ hoàn toàn mù tịt. Họ bảo họ bị coi như "con ghẻ" đấy!” Thành đỏ mặt, định lý luận tiếp thì ông An Bí thư giơ tay ra hiệu im lặng. Vị bí thư già ho khan vài tiếng, ánh mắt nghiêm nghị nhìn quanh một lượt rồi dừng lại ở anh trưởng thôn trẻ. “Anh Thành ạ,” ông An chậm rãi nói, giọng tuy nhẹ nhàng nhưng đanh thép. “Tôi hiểu áp lực thi đua của anh với xã. Nhưng anh nên nhớ, mục đích của việc sáp nhập thôn là để tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý và phục vụ nhân dân tốt hơn. Chứ không phải sáp nhập để làm khổ dân, để tạo ra khoảng cách giữa cán bộ và nhân dân. Việc bố trí cán bộ hiện tại có phần chưa hợp lý. Anh là Trưởng thôn nhưng chưa bao giờ bước chân xuống đồng làng Đoài vào mùa cấy, chưa từng đến thăm một hộ nghèo bên đó lúc ốm đau. Anh chỉ giao việc cho ông Cường qua điện thoại. Dân người ta tinh lắm, cán bộ có lòng với dân hay không, người ta nhìn vào hành động chứ không nhìn vào bằng cấp trên giấy.”
       Thành cúi đầu, hai tay đan vào nhau, mặt hơi biến sắc. Lời nói của ông Bí thư như đánh trúng vào điểm yếu nhất của anh. Anh được đưa lên cái ghế này phần lớn là nhờ cơ cấu và các mối quan hệ, chứ kinh nghiệm dân vận gần như bằng không. Ông An quay sang ông Cường và ông Tiến: “Còn hai đồng chí, chúng ta là cán bộ già, có kinh nghiệm. Thay vì trách móc, chúng ta phải cùng anh Thành tháo gỡ. Việc cái loa không nghe rõ, ông Tiến ngày mai cùng đội thợ kiểm tra, kéo thêm đường dây sang bên làng Đoài. Việc nước nôi, tôi và anh Thành sẽ lên làm việc trực tiếp với Chủ nhiệm hợp tác xã ngay trong sáng mai để điều tiết lại. Đối với những hộ đặc biệt khó khăn như nhà bà Hiền, thôn phải cử người mang giấy tờ đến tận nhà hướng dẫn, ký kết, không để bà cụ phải đi bộ vất vả nữa.”
        Cuộc họp kéo dài đến tận đêm muộn. Dù chưa giải quyết được triệt để mọi bất cập của cơ chế, nhưng ít nhất, những nút thắt trong lòng những người cán bộ đã phần nào được tháo gỡ. Họ hiểu rằng, nếu chính họ còn chia rẽ, còn tị nạnh “làng này, làng nọ” thì làm sao đòi hỏi nhân dân đồng lòng. Những ngày sau đó, người ta thấy có sự thay đổi rõ rệt ở thôn Đông Đoài. Anh Thành trưởng thôn không còn ngồi lì trên văn phòng nữa. Dưới sự dẫn dắt của ông Cường, anh bắt đầu lội xuống những con đường đất đỏ của làng Đoài cũ, vào tận nhà bà Hiền để trao quyết định hộ nghèo và ký xác nhận các giấy tờ cho con cháu bà. Anh cũng được ông Cường chỉ cho cách nói chuyện, cách lắng nghe tâm tư của những người nông dân chân lấm tay bùn. Hệ thống loa phát thanh mới cũng được kéo băng qua cánh đồng mông mênh, nối liền hai làng cũ.
        Một buổi chiều cuối năm, gió bấc vẫn thổi hun hút, nhưng bầu trời đã có những vệt sáng ấm áp của mùa xuân đang đến gần. Tiếng loa phát thanh vang vọng khắp đầu làng ngõ xóm: Alô, alô... Đây là đài truyền thanh thôn Đông Đoài. Sau khi bàn bạc với Ban quản lý hợp tác xã, kể từ ngày mai, nguồn nước sẽ được ưu tiên điều tiết về đồng làng Đoài cũ để bà con kịp làm đất cho vụ chiêm xuân. Ban quản lý thôn cũng thông báo, lịch họp tiếp xúc cử tri chuẩn bị cho việc kiện toàn bầu cử Trưởng thôn nhiệm kỳ mới sẽ được tổ chức luân phiên tại cả hai nhà văn hóa cũ để thuận tiện cho bà con đi lại...”
       Nghe tiếng loa, bà Hiền đang nhặt rau trước hiên nhà dừng tay, mỉm cười. Ông Cường đi ngang qua cổng, nhìn thấy bà liền vẫy tay chào: “Bà Hiền ơi, nước về đồng rồi nhé! Ngày mai bảo nhà thằng cả ra khơi bờ nhận nước!”
       “Vâng, cảm ơn ông, cảm ơn các cán bộ!” Bà Hiền nói vọng ra, giọng vui vẻ hẳn.
       Sự bất cập trong chính sách và việc bố trí cán bộ cơ sở có thể cần thời gian để cấp trên điều chỉnh, sửa đổi bằng những văn bản, nghị định mới. Nhưng ở ngay mảnh đất Đông Đoài này, bằng sự bao dung của những người cán bộ già như ông An, ông Cường, ông Tiến, và bằng sự cầu thị của người trẻ như anh Thành, khoảng cách giữa hai ngôi làng đang dần được thu hẹp. Lòng dân, vốn là thứ tài sản quý giá nhất, đang được sưởi ấm trở lại sau những ngày đông giá buốt./.

                      Bùi Văn Hoằng
Hội viên Hội văn học nghệ thuật Trường Sơn

tin tức liên quan