KHÚC DÂN CA VỀ MỘT DÒNG SÔNG
Sân ga Hàng Cỏ sáng ấy ngập sắc hoa. Những bông hoa còn ngậm sương rực rỡ xếp trong dành tre khoe sắc. Đoàn học sinh trẻ quần xanh, áo trắng mới tinh, tung tăng tay xách chiếc va li lớn, đầu đội mũ ca lô xanh. Các bạn nam mang giày đen, các bạn nữ mang giày vàng, mỗi người được tặng một bó hoa bước lên các bậc vào sảnh lớn, xếp hàng rồi lần lượt theo nhau bước qua cửa to, ra dãy hành lang dài rộng mái che cong, đứng thành hàng chờ lên tàu.
Những gương mặt trẻ sáng trưng toát lên vẻ thông minh, dáng thể thao cao, đẹp đứng thành khối vui tươi, sang trọng khác hẳn với những người trong nhà ga mặc quần áo vải thô, đi chân trần hay guốc mộc, tay xách nải lam lũ gợi cái nghèo sau chin năm đánh giặc.
Đó là đoàn học sinh đầu tiên được tuyển chọn từ các trường trung học kháng chiến, đã tập trung nhiều tháng tại khu Đông Dương học xá để sang các nước bạn xã hội chủ nghĩa học tập.
Đoàn thanh thiếu niên tinh hoa của Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bước lên tàu liên vận quốc tế ra nước ngoài.
Những người tiễn đưa hân hoan, bịn rịn vẫy tay chúc những bạn trẻ lên đường, hy vọng về một lớp trí thức giỏi giang, mai đây trở về xây dựng đất nước.
Còi tàu réo vang ba lần, đoàn tàu rùng rùng chuyển bánh. Mọi người đã vào các toa. Hồ Trí trưởng đoàn đi dọc hành lang kiểm tra bỗng la lên: “Ai thế này? Lên tàu lúc nào?”
Chàng trai cao dong dõng đẹp như những chiến sĩ bước ra từ bức tranh của họa sĩ Nguyễn Sánh, cười nói: “Em là công nhân xúc than đầu máy đến toa anh để tiễn người quen đi một đoạn”
Bộ quần áo công nhân ngành hỏa xa xanh đen, mũ kêpi đội đầu cũng không thể che dấu danh phận chàng trai. Đó là chàng học sinh trung học Nguyễn Thành Hưng người thổi sáo hay nhất khoá, thi điểm cao, thể thao loại nhất nhưng không được chọn vào tốp “vĩ nhân” trẻ để lên đường ra thế giới vì vướng một tý về lý lịch ông tổ đời trước. Hôm nay, nhờ ông chú làm ở đầu máy cho mặc nhờ quần áo công nhân đường sắt lén lên đầu máy theo tàu liên vận.
Con mắt tinh đời của Hồ Trí, người từng là học sinh cự phách trường Petrus Ký theo tiếng gọi kháng chiến bỏ Sài Gòn ra bưng biền làm chân thư ký của các vị lãnh đạo Miền, lạ gì cái cách chàng trai đồng bằng mê người trong mộng, bất chấp tất cả vượt đầu máy toa xe đến đây. Người trong cuộc ai cũng biết nhóm thanh thiếu niên hơn hai mươi người này ngoài một số con của gia đình nông dân, công nhân, trí thức cực giỏi còn lại thuộc loại “5C” tức “con cháu các cụ cả” theo cách nói của các nhà tổ chức.
Và ở nơi nối hai toa xe người con gái đẹp nhất khóa, váy xanh lơ dài tận gót, tóc xỏa ngang vai đang đứng chờ.
Đó là Lý Lệ Trang. Cô gái có giọng hát vàng sâu lắng những làn điệu dân ca, ngôi sao của bao đêm diễn hoành tráng trên sân khấu trước sân trường Đông Dương học xá.
Tiếng ca ấy hòa với tiếng sáo trúc của chàng trai Thành Hưng lúc vi vu như cơn gió thoảng, lúc réo rắt dập dồn như nước trào qua con suối nhỏ, lúc êm đềm lững lờ như trôi trên dòng sông lớn, làm thổn thức bao trái tim, xao xuyến những tâm hồn, yêu đất nước này hơn.
Cặp đôi đứng bên nhau nhìn ra cánh đồng phía bắc sông Hồng sau những trận mưa mùa hạ, trôi nhanh loang loáng dưới ánh nước phù sa. Đồng bằng đẹp rực rỡ trong nắng sớm, ngàn vạn tia nắng lung linh như những hạt kim cương từ cánh đồng hắt lên lấp lánh, chói chang đưa con tàu bay đi trong không gian vô tận.
Thời gian như dừng lại nghe hai trái tim trẻ khẻ nói với nhau niềm mong ước, câu hẹn thề.
Con tàu đi trong nhịp đập nối ray rồi chậm dần, chậm dần dứng hẳn trước cây cầu cao lung linh màu bạc bên sông lớn.
Ai đó nói: “Cầu đang sửa, tàu phải tạm dừng ở đây thôi!”
Bờ bên kia là nhà của gia tộc cô gái. Trời xanh, sau mùa lũ dòng sông nước trong veo hiền hòa, bãi đất ngoài đê ruộng dâu xanh biếc, màu xanh cây lá.
Câu ca: “Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Đôi ta thương nhớ đến bao giờ cho nguôi…” âm vang đâu đây.
Vang mãi, vang mãi với dòng sông, với những trái tim nức nở.
“Sông Cầu nước chảy lơ thơ
”Đôi ta thương nhớ biết bao giờ cho nguôi...”
Như chìều lòng người, con tàu màu trắng xanh lơ dừng mãi, không đi.
Tàu chưa đi được vì trong kháng chiến chống Pháp cầu bị hư hỏng, phải sửa cho từng chuyến tàu qua.
Cuối cùng rồi tàu cũng sắp chuyển bánh, còi réo dục khách lên đường. Chàng trai buông tay cô gái mang nặng nỗi lòng xuống bến, hẹn người thương, thề đợi chờ.
Chàng xuống ga này. Nhà chàng bên này sông bị giặc Pháp san phẳng chỉ còn trơ nền móng.
Con tàu reo vang, lướt nhẹ qua cầu bỏ lại xóm làng, bỏ lại dòng sông.
Sông Cầu nước chảy lơ thơ mãi vấn vương những ai ra đi đến những miền xa lạ.
Hai năm, tám mùa mưa nắng. Tuyết rơi rồi tuyết tan, đoàn học sinh miệt mài học tập quên cả đất trời đang đổi thay. Và năm học cuối Trường Dự bị đại học L. của nước Cộng hòa trên bờ biển Ban Tich mở hội. Đoàn học sinh các nước lần lượt mang lên sân khấu những lời ca bản nhạc đặc sắc nhất của dân tộc mình.
Anh Hồ Trí hân hoan nói: “Về học, học sinh ta chả thua ai, điểm cao nhất nhì. Nhưng về văn nghệ nhảy, múa, hát phải luyện cho tốt”. Và những điệu val, tăng go, fox trot… bước chân trong đôi giày bóng lộn lại xoay…Dòng sông Đa nup của châu Âu với điệu val bất hủ rộn rã dưới ánh đèn màu.
Và trên hết bài hát do nữ sinh xinh đẹp Lệ Trang về dòng sông quê hương vang lên mềm mại, thanh cao, trầm lắng. Tình yêu muôn đời nhung nhớ. Tiếc thay, phần nhạc đệm thiếu tiếng sáo của chàng trai đồng bằng vẫn xa lắm nơi chân trời, thay vào đó là tiếng đàn piano thánh thót miên man xứ người. Váy hồng phủ trên vai, mái tóc dài đen nhánh, bước chân huyền diệu lướt nhẹ trên sàn tựa sóng lượn, thuyền trôi nương dòng. Điệu dân ca vang mãi, vang mãi thổn thức, say đắm bao con tim.
“Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Đôi ta thương nhớ đến bao giờ cho nguôi…”
Mùa thu tiếp là những tháng ngày miệt mài trên giảng đường đại học. Mùa đông băng tuyết, bãi bờ lạnh lẽo càng hun đúc quyết tâm của những chàng trai, cô gái ra sức học để làm chủ kiến thức được tích lũy qua bao đời và trí thức mới nhất của nhân loại. Càng học càng hăng.
Mùa hè năm ấy, đoàn học sinh còn được tiếp thêm sức mạnh mới vô cùng lớn lao, trong đời người Việt Nam mấy ai có được.
Gặp lãnh tụ kính yêu - Bác Hồ.
Người cầm tay căn dặn từng cháu thanh niên, nói những lời tâm huyết thân yêu nhất với đàn cháu.
Lời Người ngắn gọn như chân lý, gửi những mong ước của Người cho thế hệ tương lai.
Cùng nhau hứa không bao giờ quên lời dạy của Người.
Những mùa đông tiếp nhau.
Và phố phường ấy, bầu trời ấy, thế giới ấy cứ di chuyển về muôn phương như những dòng sông mang băng tuyết, rác rềnh của thế giới cuồn cuộn trôi.
Tuyết rơi, mưa băng lạnh buốt, đêm ngày bầu trời một màu xám xịt trắng nhờ nhờ, trong những câu lạc bộ sinh viên bầu không khí nóng ran, đèn đêm muôn màu nhấp nháy.
Điệu nhãy mới như bom nguyên tử, nổ bùng những bước chân trẻ. Ghi ta điện âm trầm giữ nhịp, ghi ta điện âm cao vút solo réo như điên, như dại. Trống điện dồn nén chát chúa làm con người trẻ vật vã, ngất ngây. Nhạc này, điệu nhãy này chưa bao giờ nhân loại được nghe, được cảm, được run rẫy và đang chết vì nó.
Đó là “rock and roll”.
Đó là các anh chàng theo thần tượng, mặc quân phục biến tướng, đeo hàng đống huy chương, huân chương giả, quàng chùm dây xích mạ vàng nhấp nháy, cầm ghi ta điện tăng âm hết cỡ, la hét khản cả giọng. Đó là hình ảnh thần tượng: anh chàng trẻ bên kia đại dương với “mi cờ rô” to, dài trong tay, quỳ xuống, nhảy lên, ngữa, nghiêng hung hăng hát đang được treo khắp nơi trong sảnh câu lạc bộ sinh viên, chiếu sáng trên những bức tường quảng cáo các thành phố lớn của lục địa già.
Nàng sinh viên năm thứ ba quay cuồng trong tiếng nhạc.
Ông “atasie” tùy viên văn hóa của đại sứ theo dõi học tập hệ sinh viên hưởng học bổng quốc gia, hỏi Hồ Trí đoàn trưởng.
Hồ Trí ngập ngừng nói: “Tất cả đều tốt và khá, riêng trường hợp này nợ các môn, các tín chỉ từ năm trước chưa trả, năm thứ ba … chắc rất gay. Đoàn thanh niên đã nhắc nhở, giúp đỡ nhiều lần”.
Hè về, những tia nắng đầu tiên nhãy nhót trên hàng cây táo, cây lê trong vườn cũ của đại sứ quán. Ở lâu đài các đại học những đợt trả bài thi kiểm tra lần lượt theo nhau.
Ôi! đỉnh cao như núi En pơ, Karpat trong khoa học phải vượt.
Chao ôi là núi, đó là núi sách, núi kiến thức.
Trưởng đoàn lại đến “Sứ” báo cáo.
Ông “atasie” tùy viên văn hóa kết luận: “Đã xin ý kiến Bộ Giáo dục bên nhà. Những trường hợp này nên đưa về nước học tiếp. Học bổng quốc tế có hạn. Phải giải thích, làm tốt tư tưởng cho các em”.
Ôi “rock and roll”! Nó cuống đi bao số phận người theo bước nhãy.
Và bài hát: “Only you!” (Chỉ có em) vút cao ồn ào như giông, như bão trong rừng tiếng ghi ta, trống nhạc chói tai, chói óc.
“Chỉ có em” và “Chỉ có em” của anh chàng Presley vang vang nơi nơi sân trường, câu lạc bộ…
Xa rồi, xa lắm bài ca nhẹ nhàng, sâu lắng duyên tình “Sông Cầu nước chảy lơ thơ…”
Con tàu liên vận quốc tế sơn màu xanh nước biển đứng trong nhà ga chính của thành phố lớn, máy điện nổ rì rầm. Tiễn người con gái đẹp lên đường chỉ có ông “a ta sie” tùy viên văn hóa.
Ngày xưa, khi đến sân ga này cả khối người nước bạn, nước ta ra đón, những bó hoa hồng trao tặng. Nay, ngày về lặng ngắt, khách lạ lưa thưa.
Đưa bạn ra biên giới sang đất nước khác là người bạn gái bao năm cùng học bên nhau, sau khi lên đại học, học khác trường, khác nghành - Nguyễn Thị Đoan Trang.
Cũng tên là Trang nhưng đây là Trang đã hát bè đệm cho Trang ngôi sao hát solo.
Chia tay, bên kia là nước khác, kích cỡ đường tàu cũng khác, chị em ôm nhau khóc, không nói nên lời. Đoan Trang lên chuyến tàu nội địa trở về trường. Lệ Trang đứng khuất trong cánh cửa toa tàu liên vận quốc tế.
Chiều hôm sau, cầm tờ báo “Express …”trên tay ông “a ta sie” tùy viên văn hóa hoảng hốt gọi ngay điện thoại cho Hồ Trí. Đang bận học trong thư viên Hồ Trí tức tốc lên xe điện đến ngay.
“Thế này thì không ổn rồi”.
Hồ Trí đọc một mạch bài báo trên trang nhất của tờ báo “Express …” (Tin Nhanh …) nổi tiếng mách lẻo, chuyên đăng những tin tức giật gân câu bạn đọc. Ở cái thành phố trung tâm châu Âu này, nơi bản lề giữa Đông và Tây đang hồi nóng rực chiến tranh lạnh. Mỗi một sự kiện nhỏ có thể thổi lên thành việc lớn, ngụy tạo dư luận, bôi nhọ những nhà nước như ta.
“Phóng viên phỏng vấn đưa ra những dấu hỏi vu vơ về cấm đoán yêu đương, quy kết thành nhân quyền. Thật hết chỗ nói”.
“Các em học sinh thuộc lớp đầu tiên hưởng học bổng cao của nhà nước, lại được ăn mặc, đi lại như tiêu chuẩn các nhà ngoại giao. Quyền lợi là thế, nghĩa vụ phải làm đúng những điều đã tự nguyện cam kết trong Quyết tâm thư”.
Hồ Trí liền gọi điện thoại cho Đoan Trang nhờ Đoan Trang yêu cầu Lệ Trang đúng chín giờ sáng ngày mai đến Văn phòng tiếp khách của đại sứ quán để gặp. Nhớ hồi âm.
Hồ Trí biết chỉ có chị em nhà Trang rõ nơi ở và số điện thoại liên lạc của nhau.
Bận học đến nổi không có khỏanh khắc nào để đi ăn, phải vừa cầm chiếc bánh mì tròn kẹp thịt vừa ăn, vừa đọc, vừa viết nhưng việc này quá quan trọng không thể trể. Như đã hẹn, đúng chín giờ sáng Hồ Trí có mặt tại nhà khách đại sứ.
Vườn hồng đang vào hè đẹp như hình vẽ vườn thượng uyển trong kinh thánh. Táo lê nở hoa, cỏ xanh mơn mởn, không gian đầy tiếng chim. Cảnh sắc tươi đẹp như bừng lên nhưng lòng người đầy lo nghĩ, đâu có vui để thưởng thức.
Vui sao được.
Nhìn mãnh sân rộng, lát những tấm đá cẩm thạch bóng bẫy như gương trước biệt thự hai tầng sơn màu sữa, hàng cửa xanh lơ viền nâu nhạt, bỗng nhớ nơi đây lãnh tụ tối cao của đất nước đã ngồi cùng đàn cháu những học sinh vừa tốt nghiệp Trường dự bị đại học sắp vào các đại học lớn.
Mấy chục năm Người mới trở lại châu Âu với cương vị mới Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, biết bao nhiều việc phải làm, biết bao nhiêu nhân vật phải tiếp nhưng Người vẫn dành thời gian một buổi sáng gặp đàn cháu thân yêu hơn hai năm trước đã gửi sang nước bạn.
Người hỏi thăm sức khỏe, kết quả học tập và căn dặn những lời vàng ngọc muôn vàn yêu thương với đàn cháu. Người cho chụp ảnh kỹ niệm.
Trước hiên, dãy ghế đầu Người đứng đó, các chàng trai chen nhau cố đứng sát bên Người, ai cũng muốn gần Người nhất. Người cười và nghiêm nét mặt bảo: “Các cháu trai không được chen lấn, gọi các cháu gái đến đây, đứng bên Bác”.
Lệnh Người như lời răn của Tổ quốc. Lệ Trang, Đoan Trang được bên cạnh Người, tiếp theo là các cháu gái.
Tấm ảnh đi vào lịch sử
Nhìn hiên nhà nơi Bác Hồ căn dặn các cháu trước đây Hồ Trí càng cảm thấy đoàn học sinh trẻ được Người trực tiếp dạy bảo chưa làm hết sức mình. Được ưu ái tột cùng, mang ơn nước, niềm hy vọng của dân nhưng chưa làm tròn.
Đã quá chín giờ sáng vẫn không thấy người con gái lỡ lời với báo chí. Tuổi trẻ bồng bột, hiếu thắng nghĩ rằng những điều nói ra sẽ được toại nguyện ý của mình.
Tổ quốc, nhân dân là thực thể linh thiêng mãi mãi trong tim ta. Chớ vì cái tôi mà oán trách những người hy sinh tất cả, vượt đói nghèo, gian khó nuôi ta.
Hồ Trí linh tinh có ánh mắt từ xa nhìn vào khu vườn nơi Bác đã dạy bảo.
Không dám đến, không dám vào, không dám gặp, tự vấn, tự suy.
Bước vào văn phòng, người trưởng đoàn đã từng trải ngồi viết trang thư dài cho người em gái, người đồng đội lạc lối. Viết gần kín trang, đọc lại, thấy quá thừa câu chữ, đành gập bỏ vào túi. Trang giấy mới chỉ còn 16 từ:
Gửi em: Lý Lệ Trang
Hãy nghĩ cho kỹ, tương lai nằm ở em.
Hồ Trí.
Đã mười giờ sáng, không thể đợi đành đi ra cổng đưa bì thư kèm một bông hồng lấy từ vườn cho anh công an nước bạn đứng trong trạm gác, dặn: “Sẽ có cô gái tên Lệ Trang đến nhận”.
Bông hồng hái trong vườn của Sứ quán cùng bức thư 16 chữ theo chân người con gái vượt biển ra đi tới một nước bắc Âu xa xôi.
Chao ôi! một lần lầm lỡ, một lời nặng nề về những người đã hết lòng vì ta mà ra nông nỗi này. Ân hận, dằn vặt, xấu hổ không thể tiếp tục sống ở đây.
Đến nơi bắc bán cầu, dân ít, tài nguyên giàu, đất nước ấy dung nạp, mời gọi những số phận người muốn học, muốn làm việc, muốn quên đi lầm lỗi, khổ đau của lục địa già.
Cô gái nhỏ, cao gầy đẹp kiểu Á đông được theo học tiếp ngành Kiến trúc nội thất mà cô yêu thích.
Một vùng lạnh lẽo ghê người vào mùa đông. Tuyết và băng tràn ngập đất trời từ đông sang hè. Suốt ngày trong giảng đường và thư viện. Học, đọc và đọc. Đọc cho quên đi những nông nỗi, ngờ nghệch của tuổi trẻ. Thư viện là nhà.
Người bạn tóc vàng cùng đi chả biết tâm sự thế nào, đành chịu không dám nói một lời.
Văn hóa, đó là khoảng cách không thể xóa nhòa.
Năm nối năm, tháng nối tháng, hè qua, đông đến nhiều lúc quên cả tên chính mình khi nghe tiếng gọi lạ: “Li Tơ Rang”.
Lại nhớ câu thơ của người bạn Việt hiếm hoi, ngang qua xứ này đọc:
“Ai đưa ta đến xứ này
Bên đông đá dựng, bên tây thông ngàn”.
Đất này chỉ mỗi một loài cây sống được. Đó là vân sam một chi thông. Xanh quanh năm, xanh trong băng, trong tuyết, trong gió lốc trong bão bùng, các loài cây khác ngoài vân sam không bén rễ nổi!
Con người cũng thế chăng?
Việc trong thư viện, học và đọc sách báo thế giới. Sách Việt, báo Việt hiếm hơn kim cương, đá quý. Đêm muộn nghe khúc nhạc đêm”Noctua” dài miên man của Chopin, nhìn trên màn hình tin tức chỉ thấy người chết, lửa cháy, đất nước đau thương chìm trong bom đạn.
Mỗi lần buồn lại lấy tấm ảnh có bậc lãnh tụ kính yêu tóc hoa râm ngồi giữa các cháu yêu quý của Người xem và khóc. Ta khóc cho thỏa lòng, ta khóc cho ân hận, ta khóc để quyết học thành tài, để trọn lời hứa với Người.
Ôi! Biết bao là nhớ. Nhớ cái mùa hè nắng oong oong trên sân trường Hoc xá Đông Dương, nhớ tiếng ếch kêu vang như dàn nhạc những đêm mưa trong các ao hồ phía nam Hà Nội. Bạn bè, tin tức thưa dần. Đoan Trang là người duy nhất còn viết thư.
Người cũ có còn không?
May mà giữ được bộ đĩa hát dân ca, mỗi lần nghe, nước mắt lại đầm đìa.
Người ơi người ở đừng về…Người về em chẳng…
Ta phải về thôi!
Quê hương ơi! Biết bao giờ thôi thương nhớ
Mười năm! mươi lăm năm!
Tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đang tự dịch ra tiếng nước người.
Nàng Kiều!
Một thân gầy không một mãnh tình. Ta còn đẹp như xưa không?
Đất nước ơi! Ngày nào cũng nhìn qua trên màn hình tang thương, còn ở đây, ta cái gì cũng đủ đầy mà xem lại chẳng có gì, ngoài tấm hộ chiếu bìa xanh mòn vẹt bao năm chưa đổi.
Sách viết in rồi, ai đọc? Tiếng Việt ta biết đã cũ lắm rồi.
Cô đơn giữa nhân loại.
Về thôi.
Sân bay Gia Lâm trưa hè ngập nắng, chiếc TU hạ cánh, người đàn bà gầy, tầm thước đi guốc cao gót, mang vẻ đẹp mong manh Á đông, mặc mốt bắc Âu rời máy bay cùng hành khách.
Ngơ ngác trong sảnh lớn nhà ga. Và kia, người bạn bao năm trao nhau tin, trao nhau nước mắt, dang tay ôm người xa xứ trở về.
Đoan Trang khóc, ôm Lệ Trang.
Rời sảnh rộng mênh mông bước ra cửa lớn, gặp ngay chiếc xe con biển đỏ quân sự, bên cạnh là người đàn ông mặc quân phục mang hàm trung tá, cao gầy, gương mặt, dáng người ánh lên một thời trận mạc.
Ai đây?
Chàng Nguyễn Thành Hưng, bạn năm xưa, người có tiếng sáo xao xuyến một thời niên thiếu.
Đất trời như rạng ngời sắc hoa, nhìn đâu quê hương cũng thân yêu thấy đẹp.
Chàng tặng nàng bó hoa hồng, ôm nàng vào lòng, hỏi: “Em muốn về đâu trước?”
Nàng khóc và cười không thành tiếng: “Về nhà thôi!”
Lên xe đến nhà ga chính Hà Nội.
Nhà ga bị bom làm hư hỏng đã sửa lại mặt trước, khác xưa. Cùng nhau bước vào nơi đợi tàu. Đoàn tàu sơn xanh nâu loang lổ màu đất, màu cỏ ngụy trang chưa sơn lại như con thuyền Noe trong kinh thánh đưa đôi bạn về miền Thượng nhớ.
Đoàn tàu lao đi trong gió xuân trên đại dương lúa xanh rờn. Chàng trai, cô gái tuổi đã trung niên mà như đôi chim câu mới lớn, đứng ở nơi nối hai toa tàu như năm xưa nhìn nhau đắm đuối.
Ngoài kia, sông Hồng đang chảy, đồng bằng, làng mạc san sát, núi đồi bao la trôi trong nắng.
Và như ngày trước, đoàn tàu chạy chậm đần rồi dừng hẳn, trước mặt là dòng sông và cây cầu sơn loang lổ.
Ai đó nói: “Cầu đang sửa”.
Năm xưa, đến đây phải dừng do cầu bị Pháp phá, phải sửa. Nay, bom Mỹ làm hỏng vẫn phải sửa.
Bên này sông, vườn nhà chàng đã rợp cây trái, nhà thờ họ ngói ngã màu rêu. Bên kia sông, nhà của gia tộc nàng còn đứng vững. Dưới sông, thuyền bè san sát chen nhau và đâu đây vang lên làn điệu dân ca trong gió:
“Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Đôi ta thương nhớ biết bao giờ cho nguôi
Nhớ đến người
Lại nhớ đến người
Qua sông lại nhớ đến người…”
Qua sông lại nhớ đến người
Câu ca đợi chờ bao năm ấy.
BÙI CÔNG ĐỊNH
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn