Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh trên biển, con đường huyền thoại của ý chí và Khát vọng - Ký sự: Phạm Huy Chương

Ngày đăng: 10:43 12/10/2026 Lượt xem: 139
Kỷ niệm 65 năm ngày Truyền thống “Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên biển” (23/10/1961 – 23/10/2026).
 
 
      ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN – ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN
        CON ĐƯỜNG HUYỀN THOẠI CỦA Ý CHÍ VÀ KHÁT VỌNG
                                                                                                                  Ký sự PHẠM HUY CHƯƠNG

      Trong thiên hùng ca vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nếu dãy Trường Sơn đại ngàn là "sương sống" nâng đỡ khát vọng giải phóng dân tộc, thì trên lòng đại dương mênh mông - một hải trình được tạc nên bằng máu, mồ hôi, trí tuệ và lòng quả cảm phi thường – Đó là “Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh trên biển”.   

      Có những con đường được tạc vào đất đá, nhưng cũng có những con đường được tạo nên trên mặt sóng nhấp nhô. Hải trình đi qua không để lại rãnh mòn, nhưng dấu chân của những người anh hùng thì khắc sâu vào lòng biển mẹ. Đường Hồ Chí Minh trên biển chính là biểu tượng đỉnh cao của tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", nơi lòng dân hòa cùng sóng nước, biến điều không thể thành có thể, viết nên khúc tráng ca bất tử của thời đại Hồ Chí Minh.
      Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, dòng sông Bến Hải trở thành ranh giới đau xót chia cắt hai miền Nam - Bắc. Ở phía Nam, chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên đã công nhiên phá hoại hiệp định, lê máy chém khắp nơi, dìm phong trào yêu nước trong biển máu. Trước nỗi đau của đồng bào, tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương 15 khẳng định con đường giải phóng miền Nam phải là "Con đường cách mạng bạo lực". Tháng 5/1959, Đoàn 559 ra đời xẻ dọc Trường Sơn đại ngàn. Nhưng để chi viện kịp thời cho các địa bàn chiến lược ven biển Nam Bộ và Khu V, một quyết sách táo bạo khác đã hình thành: Mở đường trên biển.
     Tháng 7/1959, Tiểu đoàn 603 lặng lẽ ra đời tại làng cát Thanh Khê (xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình). Để giữ tuyệt đối bí mật, đơn vị mang cái tên bình dị: "Tập đoàn đánh cá Sông Gianh". Mọi hy vọng ban đầu gửi gắm vào 4 chiếc thuyền gỗ trọng tải 15–20 tấn. Thuyền được thiết kế hai đáy tinh vi: bên trên ngụy trang lưới chài, dây cước; bên dưới giấu kín những nòng súng, băng đạn và liều thuốc chữa bệnh. Vào chiều 30 Tết Canh Tý (27/1/1960), giữa cái lạnh xé da, cắt thịt của gió mùa đông bắc, chiếc thuyền gỗ đầu tiên chở 5 tấn vũ khí nhổ neo xé sóng ra khơi dưới sự chỉ huy của Thuyền trưởng Nguyễn Bất cùng 5 thủy thủ (Trần Mức, Huỳnh Ba, Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ). Họ gieo mình vào biển đêm cuồn cuộn với quyết tâm đưa hàng đến chân đèo Hải Vân. Nhưng đại dương trút cơn giận dữ. Sóng gầm gào đánh gãy bánh lái, đẩy con thuyền dạt về Cù Lao Ré tỉnh Quảng Ngãi. Giữa vòng vây dày đặc tàu tuần tiễu địch, Thuyền trưởng Nguyễn Bất đưa ra quyết định đớn đau nhưng quả cảm: Thả toàn bộ 5 tấn vũ khí và thuốc men xuống đáy biển sâu để xóa dấu vết, bảo vệ bí mật cho con đường. Mặc dầu vậy 6 thủy thủ của ta bị rơi vào tay giặc. Những trận tra tấn man rợ không thông thể mua chuộc, không thể đập tan được ý chí sắt đá của những người con trung hiếu một lòng sắt son với tổ quốc. Năm thủy thủ của tàu đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, duy chỉ có đồng chí Huỳnh Ba sống sót sau những năm tháng chịu mọi cực hình của Mỹ - Ngụy trong lao tù, nhưng vẫn kiên cường đấu tranh với địch, không nửa lời khai báo để giữ bí mật hải trình của tuyến đường.
      Sao mà quên được, chuyến đi đầu tiên chưa thành công. Tiểu đoàn 603 tạm dừng hoạt động. Nhưng ngọn lửa cháy bỏng nhiệt tình của sức tre “mở biển” xông ra chiến trường, không bao giờ nguội tắt. Từ trong gian lao, hưởng ứng cao trào Đồng khởi. Bắt đầu từ năm 1961 đến giữa năm 1962, với 6 chiếc thuyền gỗ mỏng manh từ Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa đã mạo hiểm dũng mãnh "xé sóng" đi ngược ra Bắc.  Những người con chân đất, da sạm nắng gió đại dương vinh dự được Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ Nhất BCH TW Đảng Lao động Việt Nam và các đồng chí lãnh đạo Đảng ra tận Hải Phòng thân ái đón tiếp và động viên các thành viên trong đoàn. Lòng quyết tâm của họ chính là hồi còi giục giã, đặt nền móng lịch sử cho sự ra đời của Đoàn 759 (tiền thân Đoàn 125 Hải quân Việt Nam). Hôm đó vào ngày 23/10/1961 – là mốc son quan trọng, mở đầu trang sử truyền thống của Hải trình “Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên biển” ra đời.
      Nếu đại ngàn Trường Sơn có vách đá, tán rừng che chở, thì Đường Hồ Chí Minh trên biển là mặt phẳng trần trụi trước mớ ra-đa, tàu chiến, máy bay trinh sát và thủy lôi phong tỏa hiện đại bậc nhất của đế quốc Mỹ. Thế nhưng, Trong suốt 15 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1961-1975) đường Hồ chí Minh trên biển đã có trên hai nghìn lượt tàu, thuyền vượt vượt hơn 4 triệu hải lý, vận chuyển hơn 160 nghìn tấn vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật, hàng hóa, nhu yếu phẩm, thuốc chữa bệnh, đưa đón hơn 80 ngàn lượt cán bộ, chiến sỹ vào chiến trường miền Nam chiến đấu. Đặc biệt trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Đường Hồ Chí Minh trên biển đã thần tốc vận chuyển gần 9 ngàn tấn vũ khí trang bị kỹ thuật hạng nặng gồm xe tăng và đại pháo, đưa hơn 18.000 cán bộ, chiến sỹ vượt hơn 65.000 hải lý để kịp tham gia chiến đấu hiệp đồng tác chiến với các cánh quân của ta tiến vào giải phóng Sài gòn, góp phần vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
      Đằng sau những con số biết nói ấy là vô vàn câu chuyện, muôn thiên anh hùng ca được viết bằng máu và lòng cảm tử của các chiến sỹ bộ đội hải quân Việt Nam đã tạc ghi vào trang sử vàng truyền thống “Đường Trường Sơn trên biển” anh hùng. Đó là: Ngày 1/2/1965, Tàu 143 do thủy thủ Lê Văn Thêm làm thuyền trưởng vận chuyển 63 tấn vũ khí vào bến Lộ Diêu tỉnh Bình Định. Đến ngày 10/2/1965 trên hải trình cập điểm hẹn giao hàng, bến Lộ Diêu mất an toàn. Cấp trên chỉ đạo tàu 143 chuyển hướng vào Vũng Rô giao hàng xong trước 3 giờ sáng ngày 16/2/1965. Khi rời bến tàu bị hỏng máy phải chữa đến 5 giờ sáng, buộc tàu phải nằm lại tại bãi Vũng Chùa. Bị máy bay trinh thám của địch phát hiện. Chúng đã gọi nhiều máy bay trực thăng đến thả pháo mù và bom xăng vào mục tiêu, đồng thời huy động nhiều tàu chiến và hai tiểu đoàn bộ binh và lính thủy đánh bộ  mưu toan bao vây tóm gọn toàn bộ thủy thủ tàu 143. Phương án phá hủy tàu đã được triển khai. Phối hợp với bộ đội, du kích bến vũng Rô, các thủy thủ tàu 143 đã kiên cường chống trả các đợt tấn công của địch. Với quyết tâm cao nhất, hơn nửa tấn thuốc nổ đã được đưa vào đúng vị trí của thân tàu phá hủy trong đêm 17/2/1965, rồi thoát khỏi vòng vây địch.
      Gương chiến đấu hy sinh của các chiến sĩ trên tàu không số mang phiên hiệu (41) chở hơn 40 tấn vũ khí vào Phổ An, huyện Phổ Đức tỉnh Quảng Ngãi. Đêm ngày 26/1/1966 khi những kiện hang cuối cùng vừa thả xong tại điểm hẹn thì sóng lớn đánh gãy chân vịt con tàu. Trước tình hình đó thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh lặng lé lấy lá quốc kỳ cuốn chặt vào cổ bình tĩnh chỉ huy các thủy thủ bơi trước vào bờ, rồi ra lệnh cho máy trưởng mở hết giới hạn kỹ thuật chân vịt, cho tàu 41 lao thẳng về phía hai tàu của địch, sau khi kích nổ khối bộc phá gần tấn thuốc nổ dưới gầm tàu. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và máy trưởng rời tàu sau cùng. Khi chân vừa chạm bờ thì nghe tiếng nổ ầm vang cả một vùng, tàu 41 đã phá hủy tạn vụn không để lại chứng tích. Từ phía biển địch dội pháo vào bờ, làm thuyền phó Dương Văn Lộc hy sinh, 19 thủy thủ còn lại ngược đường rừng ra hậu cứ an toàn. 7 năm, sau sự kiện đó. Ngày 11/1/1973, tập thể Thủy thủ tàu Không số (41) và Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
      Trang sử vàng truyền thống “Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Đồng đội và các chiến sỹ Hải quân Vệt Nam vẫn còn nhắc mãi, họ kể cho nhau nghe tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm của các thủy thủ trên con tàu không số mang biệt danh (235) do Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh chỉ huy. Tàu 235 rời bến Hải Phòng ngày 27/2/1968, vận chuyển nhiều tấn vũ khí, thuốc y tế vào bến Hòn Hèo. Sau hải trình vất vả, đêm 29/2/1968, tàu 235 đang vào tới điểm tập kết khu vực bến Hòn Hèo thì vấp phải tàu tuần tra của địch. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy thủy thủ trên tàu sẵn sàng chiến đấu, đồng thời chỉ huy tàu khôn khéo đánh lạc hướng địch vào biển Ninh Phước bên chân núi hòn Hèo, nhanh chóng thả những kiện vũ khí bọc kín ni non xuống biển để bộ đội dân công ra vớt sau. Hơn 1 giờ sau phát hiện hướng chạy của tàu ta. Địch huy động 7 tàu chiến của tăng tốc rượt đuổi và bao vây. Chúng gọi cả máy bay đến giội pháo sáng và bắn rốc két. Các thủy thủ trên tàu đã dùng DKZ giội thẳng về phía địch khiến một tàu bốc cháy. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra ác liệt, 5 thủy thủy trên tàu 235 đã hy sinh, 9 người khác bị thương, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh bám buồng lái, tính phương án kích bộc phá dưới gầm tàu trước rồi cho tàu 235 lao thẳng vào tàu địch, nhưng không may tàu hỏng máy. Nguyễn Phan Vinh chỉ huy các thủy thủ bằng mọi giá tức khắc đưa các tử sỹ, thương binh bơi vào bờ trước, số còn lại cùng rời tàu vào bờ để phá hủy tàu. Khi các thủy thủ vừa vào đến bờ thì một tiếng nổ ầm vang, tàu 235 nổ tung kèm theo quầng lửa cháy sáng cả vầng trời, những cột sóng nước cuộn trào tung cao hàng chục mét trấn động cả vùng vịnh. Địch hốt hoảng huy động hai tiểu đoàn bộ binh và thủy quân lục chiến với nhiều tàu chiến, cả máy bay yểm trợ bao vây kín cả vùng vịnh và trái núi hòn Hèo. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và thợ máy Ngô Văn Thứ xung phong ở lại cầm súng đánh trả quân địch để yểm trợ cho đồng đội rút khỏi vòng vây của địch. Trước tình thế “một chọi với một trăm”, hai anh đánh địch tới viên đạn cuối cùng, và cả hai đã hy sinh để bảo vệ an toàn cho đồng đội thoát khỏi vùng bao vây truy sát của quân thù…
     Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2026), chúng ta kính cẩn thắp nén tâm hương tưởng nhớ những người con anh hùng đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho lòng biển mẹ. Chiến công của các anh đã khắc sâu vào dáng hình sông núi, trở thành niềm tự hào bất tận của các thế hệ hôm nay và mai sau.   
     Trước tình hình Biển Đông còn nhiều diễn biến phức tạp, bài học về tinh thần Đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn nguyên giá trị thời sự: Đó là bài học về sự mưu trí, tự lực tự cường, bài học về xây dựng thế trận lòng dân trên biển và tinh thần sẵn sàng bảo vệ chủ quyền Tổ quốc từ sớm, từ xa. Thừa hưởng hào khí Trường Sơn năm xưa, Hải quân nhân dân Việt Nam cùng quân dân cả nước quyết tâm giữ vững từng tấc đảo, từng sải biển thiêng liêng, dựng xây đất nước Việt Nam hùng cường, vươn mình ra biển lớn!
                                                                               
          PHẠM HUY CHƯƠNG
 Hội viên Hội VHNT Trường Sơn
tin tức liên quan