Ký ức mũ rơm và Tiếng hát trên dòng sông - Hồi ký: Nguyễn Minh Quang
KÝ ỨC MŨ RƠM VÀ TIẾNG HÁT BÊN DÒNG SÔNG
Có những mốc thời gian đã lùi rất xa vào dĩ vãng nhưng vẫn chỉ còn là những con số trong sách sử, lại có những ngày tháng tuy đã cách hơn nửa thế kỷ mà vẫn nằm nguyên trong ký ức của mỗi con người như một mảnh đạn găm sâu vào da thịt, càng theo năm tháng càng không thể nào quên. Đối với thế hệ chúng tôi, ngày 5 tháng 8 năm 1964 là một dấu mốc như thế.
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, không quân và hải quân Mỹ mở cuộc tiến công đầu tiên vào miền Bắc. Chiến tranh từ đó không còn là câu chuyện ở một nơi xa xôi mà thật sự gõ cửa từng mái nhà, từng xóm làng. Để bảo đảm an toàn, nhiều cơ quan, trường học và gia đình phải sơ tán, bố mẹ cũng gửi mấy anh em chúng tôi về quê nội sống cùng bà và các bác. Làng quê những năm ấy vừa trải qua những biến động lớn của thời cuộc, đời sống còn vô cùng thiếu thốn, nhưng trong ký ức của một đứa trẻ, điều đọng lại không phải là những khẩu hiệu hay chủ trương mà là những bữa cơm độn, những mái nhà tranh xác xơ và những khuôn mặt người lớn luôn thấp thỏm trước tiếng còi báo động.
Ngày ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu hết những nhọc nhằn của người lớn, chỉ nhiều năm sau mới được nghe hai người anh họ, một người sinh năm 1948, một người sinh năm 1949, kể lại những ngày đói đến cồn cào. Có khi chẳng còn gì ăn, hai anh em tôi phải lén nhặt những miếng khoai lang khô đang phơi ngoài sân, phủi qua lớp bụi đất rồi cho vào miệng nhai cầm hơi. Mẹ tôi mỗi lần về quê thăm con nhìn cảnh ấy không cầm được nước mắt, đành đón cả hai anh em tôi về đơn vị để cùng sẻ chia suất cơm tập thể vốn đã chẳng đủ đầy của mình. Một bát cơm ít ỏi mà ba mẹ con cứ lặng lẽ nhường nhau từng thìa, từng miếng, sự đùm bọc giản dị ấy đến bây giờ nhớ lại vẫn thấy ấm lòng hơn mọi lời kể.
Ít lâu sau, mẹ lại xoay xở gửi anh em chúng tôi vào trại trẻ của một xí nghiệp dệt. Chính ở nơi ấy, giữa những ngày sơ tán nhiều thiếu thốn nhưng chan chứa tình thương, tôi lần đầu tiên được cầm trên tay một cuốn truyện tranh kể về người thủy thủ Nguyễn Huy Hoàng chiến đấu trên tàu Hải quân. Đứa trẻ ngày ấy say mê đọc đi đọc lại cuốn sách nhỏ đã sờn mép, không chỉ vì những bức tranh màu còn hiếm hoi mà còn bởi hình ảnh người chiến sĩ đứng hiên ngang giữa làn bom đạn đã gieo vào lòng một niềm khâm phục rất hồn nhiên, như thể từ những trang giấy ấy chiến tranh bỗng trở nên gần gũi và những người lính Hải quân trở thành những người anh hùng bước ra từ cổ tích.
Nhiều năm sau mới hiểu rằng những trang truyện tuổi thơ ấy không chỉ là trí tưởng tượng của người viết mà phản chiếu chính hiện thực khốc liệt đang diễn ra ngoài đời. Sau ngày 5 tháng 8 năm 1964, trước những đợt đánh phá liên tiếp của không quân Mỹ, các tàu của Hải quân nhân dân Việt Nam không thể neo đậu lâu ở quân cảng mà phải phân tán về các cửa sông như Gianh, Nhật Lệ, Cửa Hội, Lạch Trường và nhiều nơi khác để tránh sự truy kích của đối phương. Dưới những tán cây ven sông, sau những tấm lưới ngụy trang đơn sơ, các con tàu lặng lẽ chờ thời cơ chiến đấu, còn giữa bom đạn ngút trời vẫn vang lên những giai điệu đầy lạc quan của một thời không ai nghĩ đến sự sống chết của riêng mình:
“Nữ dân quân rừng dừa đan lưới
Cười với anh hải quân trên tàu:
Chúng đến đây, lưới tơ lưới vàng
Sẽ biến thành lưới lửa bủa giăng!
Hỡi dòng sông yêu, hát lên khúc ca chiến thắng!”
Thấm thoắt đã hơn sáu mươi năm trôi qua. Mỗi khi tháng Tám trở lại, ký ức năm nào lại hiện về nguyên vẹn, đưa tôi trở lại hình ảnh cậu bé đội chiếc mũ rơm đến trường trong những ngày chiến tranh, đầu trọc vì nấm ghẻ, chân tay lở loét vì nước bẩn, bụng lúc nào cũng cồn cào vì thiếu ăn, tối đến lại ngồi học dưới ngọn đèn dầu leo lét, vừa quạt muỗi vừa nắn nót từng con chữ. Đó là tuổi thơ của cả một thế hệ đã lớn lên trong đói nghèo, trong tiếng còi báo động và dưới bóng chiến tranh, nhưng cũng chính từ những năm tháng gian khó ấy mà lòng yêu nước, ý chí chịu đựng và niềm tin vào ngày mai được bồi đắp một cách tự nhiên, trở thành hành trang theo chúng tôi suốt cuộc đời.
Đến bây giờ, mỗi khi bất chợt nghe lại những khúc hát về người lính Hải quân năm xưa, trong tâm trí vẫn hiện lên chiếc mũ rơm của cậu học trò nhỏ cùng tiếng hát vang lên bên những dòng sông miền Trung giữa khói lửa chiến tranh. Chiếc mũ rơm ấy đã mục từ lâu, ngọn đèn dầu cũng đã tắt, nhưng ký ức về một thời tuổi thơ lớn lên cùng bom đạn và những giai điệu không bao giờ chịu khuất phục vẫn còn ở lại, lặng lẽ như dòng sông năm cũ vẫn miệt mài chảy qua năm tháng.
Kỹ sư - Nguyễn Minh Quang
Nguyên cán bộ Ban Tham mưu E 14, F 565, Binh đoàn 12