Những liệt sĩ ở quê tôi - Ký sự: Hoàng Minh Đức

Ngày đăng: 03:45 16/09/2026 Lượt xem: 7
NHỮNG LIỆT SỸ QUÊ TÔI
                                                                                                                    Ký sự: Hoàng Minh Đức
 


CCB Thành Cổ, Đại úy Hoàng Nam Khồng (mặc áo xanh) cùng Thượng sĩ Hoàng Chí Huân,
bộ đội giao liên Trường Sơn thắp hương cho người cha, liệt sĩ Hoàng Văn Xin.
        Chiến dịch 500 ngày đêm là thực hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và "Đền ơn đáp nghĩa"; với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây là hành trình trả lại tên tuổi, quê hương cho các anh hùng liệt sĩ, xoa dịu nỗi đau chiến tranh giúp các gia đình thân nhân vơi bớt đi sự khắc khoải chờ đợi suốt nhiều thập kỷ.
         Nhìn lại xã Nam Gianh quê tôi, nơi trọng điểm đánh phá của địch trong cuộc kháng chiến chống Pháp, có rất nhiều liệt sĩ hy sinh. Ngày 27/3/1947, giặc Pháp đỗ bộ đánh chiếm Quảng Bình, ông Hoàng Đáo, liệt sĩ đầu tiên của làng Minh Lệ quê tôi, đội viên chi đội Lê Trực ôm bom ba càng chặn địch ở cửa biển Nhật Lệ và anh dũng hy sinh. Sau ngày hòa bình lập lại, con, cháu ông vào Đồng Hới bốc một nắm đất bỏ vào quan tài trong ngôi mộ gió.
         Theo cuốn hồi ký “Trọn một con đường”, Nxb Quân đội Nhân dân, 2012, của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên thì ngày 15/6/1947, giặc Pháp càn quét vùng Nam Quảng Trạch để khảo sát vị trí đóng đồn. Một trung đội thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 274 đóng tại chân đồi Ông Tri, phía nam cầu Minh Lệ đã bị hai cánh quân Pháp từ sông Son lên và từ làng Thọ Linh, trên sông Nan xuống bao vây.
         Quân ta vũ khí thô sơ nên phải mở đường máu vừa đánh vừa rút vào rừng Cu Bận. Một số hy sinh trên đường rút lui, 7 chiến sĩ nằm lại trên đồi, trong đó có ông Hoàng Trặng, em rể của ông ngoại tôi. Mấy ngày sau, ông Hướng ở thôn Thong Thóng (nay là thôn Minh Tiến) nghe tiếng quạ kêu mới biết liền lên đồi kéo 7 thi thể liệt sĩ xuống một hầm pháo của Nhật, chôn cất. Ông còn phát hiện
cách 500 mét ở chân đồi phía tây nam có một chiến sĩ hy sinh trong tư thế ngồi dựa vào một tảng đá lớn. Ông chôn cất và đắp ngôi mộ liệt sĩ thành hình ngôi sao, dặn dò con cháu hàng năm nhớ đến xủi mả. Nghĩa trang trên đồi Ông Tri đã được xây dựng, nhưng liệt sĩ chưa xác định được tên vẫn nằm ngoài rừng và bia tưởng niệm được chữa lại lần thứ 2 thì lại ghi sai về năm tháng. Đồng chí Trần Văn Đức, nguyên Chi hội trưởng, Chi hội Cựu chiến binh thôn Minh Tiến đã báo cáo trường hợp này lên Ủy ban, Đảng ủy xã Quảng Minh cũ (nay là xã Nam Gianh) nhưng nay liệt sĩ vẫn chưa được cất bốc vào nghĩa trang. Trung úy, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Bường, người còn sống ở thôn Minh Tiến, lúc đó mới 10 tuổi đã chứng kiến và khẳng định trận đánh là năm 1947 như trong cuốn hồi ký của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên chứ không phải năm 1949 như ghi ở trong bia.
          Giữa năm 1948, bị bộ đội và du kích địa phương phục kích, đặt bom, cài mìn, quân Pháp phải rút khỏi đồn. Năm 1949, địch đóng lại đồn Minh Lệ lần thứ hai nhưng lần này đều là lính Bảo vệ quân (ngụy quân) chứ không có lính Pháp. Trung đoàn 57 do Trung đoàn trưởng Lê Khánh Khang chỉ huy được điều từ Nghệ An vào tăng cường cho tỉnh Quảng Bình. Tiểu đoàn 418 thuộc Trung
đoàn 57 đã phối hợp với Tiểu đoàn 436 của Trung đoàn 18 hoạt động trong hai huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch phía bắc tỉnh Quảng Bình.
2
          Các chiến sĩ quân báo về trinh sát đồn Minh Lệ để tổ chức trận đánh. Bọn địch trên đồn đã bắt được 2 chiến sĩ quân báo của Trung đoàn 18 tên là Đồng và Phong ở Bốn Miếu, phía nam đồn, buộc đá vào cổ rồi thả xuống cầu Minh Lệ. Xác các anh trôi lên trôi xuống giữa dòng sông mấy ngày liền. Một du kích ban đêm bơi ra kéo lên chôn cất ở Cồn Si nhưng đến nay không xác định được vị trí. Hiện nay nhiều người dân tuổi trên tám mươi vẫn còn thuộc bài thơ “Đồng, Phong anh hỡi…” ghi lại sự kiện đó.
          Ngày 27/2/ 1950, Tiểu đoàn 418 phối hợp với Đại đội 365, huyện Quảng Trạch làm nên chiến thắng Phù Trịch - La Hà, tiêu diệt 120 tên Pháp, bắt sống 10 tên. Về phía ta có 33 cán bộ, chiến sĩ hy sinh nhưng nay mới xác định được 5 ngôi mộ có danh tính. Trong cuốn hồi ký “Thời lửa đạn”, Nxb Thuận Hóa, 2013 của ông Hoàng Hữu Thanh, nguyên chiến sĩ quân báo Tiểu đoàn 418, (sau này là Bí thư Đảng ủy, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Bình), thì người chỉ huy trận đánh này là Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Cận. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm có Tiểu đoàn phó Trần Văn Dương, Tham mưu trưởng Hoàng Thúc Tuệ. Ông Hoàng Thúc Tuệ là người làng Minh Lệ, sau này là Đại tá, về hưu qua đời tại thủ đô Hà Nội. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội hữu nghị Việt – Nhật. Theo cuốn hồi ký “Thời lửa đạn” thì đồng chí Trần Văn Dương bị một viên đạn lạc cuối trận hy sinh. Nhưng nay trên các ngôi mộ của nghĩa trang liệt sĩ Quảng Lộc cũ (xã Nam Gianh) chưa có tên tuổi đồng chí.
          Theo lời kể của bà Hoàng Thị Ruyễn, năm nay đã 95 tuổi, nhân chứng sống duy nhất còn lại, người cùng học lớp địch vận với ông Hoàng Hữu Thanh ở chiến khu Hói Gió thì mờ sáng mùng 2/5/1950, bọn địch trên đồn Minh Lệ kéo xuống, đốt phá nhà dân. Dân làng Minh Lệ chạy xuống đồng tìm nơi ẩn nấp. Mọi người chạy xuống cồn đất Giếng Đồng thì thấy dưới các rãnh khoai có nhiều bóng đen lố nhố đội dây khoai trồi lên. Có người mừng rỡ reo to: “A! Quân ta”. Họ không biết đó chính là cánh quân của địch từ dưới đồn Thanh Khê lên phục sẵn từ hồi đêm. Hai cánh quân địch ập lại, tập trung dân làng tại cồn Nghĩa Trũng cho bọn chỉ điểm nhận mặt từng người. Hơn hai chục du kích có tên trong “sổ đen” bị bắt về đồn. Ngày hôm sau, (3/5/1950), ông Trương Vành, Thôn đội trưởng Minh Lệ bị chúng treo ngược lên xà nhà, đổ nước vôi vào mồm, mũi ông rồi đánh chết. Ông đã không khai tên của các du kích trong thôn và nơi cất giấu bom mìn, vũ khí cho địch biết. Chúng đặt xác ông lên hàng rào dây thép gai và bắn ba phát vào ngực rồi vu cho ông chạy trốn. Sau này anh Trương Toản, con trai ông lớn lên cuốc đất đào trúng một cái hố chôn 2 chục chiếc cúp (cuốc tông) trong vườn, dụng cụ dùng để đào hố, cài bom, mìn trên đường đi của địch.
         Bà Hoàng Thị Ruyễn và nhiều cán bộ phụ nữ làm công tác địch vận bị địch bắt vào giam ở nhà lao Đồng Hới. Bà nói bọn địch đối xử rất tàn bạo với những người bị tù đày. Những tù binh bị đem vào giam trong nhà lao ở Bàu Tró, Đồng Hới, chúng không xử bắn ngay mà tra tấn cho đến chết. 
3
          Bà chứng kiến chúng đánh chết ông Hoàng Văn Xin, Trung đội trưởng du kích làng Minh Lệ, ngày 27/8/1950 rồi chôn bên ngoài đồn. Sau 2 năm, 7 tháng được ra tù, bà Ruyễn đã dẫn bà Trần Thị Vánh (mẹ của ông Xin là bà mẹ Việt Nam Anh hùng) đến bốc hài cốt của con trai vào trong một chiếc sọt mang về quê. Sau này vợ và con trai ông Xin đều tham gia đánh giặc trên các chiến trường. Anh Hoàng Nam Khồng, con trai ông là một sĩ quan quân đội đã tham gia 81 ngày đêm chiến đấu trong Thành Cổ Quảng Trị. Mẹ của anh cũng là cán bộ y tế tham gia kháng chiến được tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất.
           Tính từ tháng 6 năm 1947, ngày đầu tiên chúng chiếm làng Minh Lệ đến ngày 1/6/1950, bọn địch ở đồn Minh Lệ đã giết hại hàng chục cán bộ, chiến sĩ trong vùng Nam Quảng Trạch rồi vứt xác ở phía bắc nhà ga Minh Lệ ngày nay.
            Trong nghĩa trang liệt sĩ trung tâm xã Quảng Minh có nhiều liệt sĩ hy sinh khi đánh đồn Minh Lệ chưa xác định được tên tuổi hoặc quê hương bản quán. Hồi nhà thơ Hải Kỳ còn sống, tôi báo cáo với anh có mộ liệt sĩ Nguyễn Thị Bền làm y tá, khi về đánh đồn, anh đến nhận là người dì nhưng sau đó lại tìm được ở nơi khác nên hiện nay liệt sĩ Bền vẫn chưa xác định được quê quán. Vừa rồi mộ liệt sĩ Nguyễn Quý Thích đã có người nhà đến xác nhận là quê ở xã Quảng Thuận cũ.
            Đến nay có 6 liệt sĩ người làng Minh Lệ bị giam trong nhà lao Đồng Hới vẫn chưa tìm được hài cốt. Nhiều liệt sĩ hy sinh ở các chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chưa được trở về với quê hương. Đó là nỗi đau nhức nhối và trách nhiệm của những người còn sống đối với những liệt sĩ quê tôi.
 
               Tin và ảnh: CTV. Hoàng Minh Đức,
Xóm 2, thôn Bắc Minh Lệ, xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị.
 
 
tin tức liên quan