CÂY ĐÈN DẦU CỦA MẸ
Ghi theo lời kể của Cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Ánh - Tưởng nhớ Liệt sĩ Bùi Trần Huế

Có những ký ức, những con người, dù thời gian có trôi qua bao lâu, cũng không thể xoá nhoà. Với tôi, đó là ký ức về Huế - người đồng đội trắng trẻo, điển trai, có nụ cười rất hiền. Người bạn tôi chỉ được gọi tên vỏn vẹn vài tháng trên đất Trường Sơn, vậy mà hơn năm mươi năm sau, gương mặt ấy vẫn còn nguyên vẹn trong trí nhớ tôi.
Tháng Mười năm 1972, tôi rời Đại đội 6, Tiểu đoàn 968, Trung đoàn 592, lên E Bộ nhận nhu yếu phẩm cho đơn vị. Phải đi mất hai ngày mới tới nơi, băng qua sông Sê Pôn, vượt đường 9, leo qua những con dốc cao ngất mà lính đường ống vẫn đùa là "dốc thử lòng người" và chính tại cổng gác E Bộ, tôi gặp một người lính trẻ có nước da trắng hiếm hoi giữa rừng già sạm nắng. Hỏi chuyện mới hay hai đứa cùng nhập ngũ một ngày, 30/4/1970, quê lại chỉ cách nhau một con mương, tôi xã Hồng Thái, anh xã Thắng Lợi, Hà Tây. Ở Trường Sơn, gặp người cùng tỉnh đã là chuyện quý hiếm, huống hồ đây lại là người cùng huyện, hai xã giáp ranh nhau, nên chúng tôi mừng đến mức ôm chầm lấy nhau, chẳng nỡ rời.
Ngồi trong lán gác, chúng tôi kể nhau nghe đủ chuyện làng, chuyện xã, cả những cái tên hai đứa cùng biết, như thể chỉ cần nhắc đến người ở quê là khoảng cách hai ngàn cây số bỗng ngắn lại còn một gang tay. Giữa câu chuyện, Huế khoe, giọng rộn rạng đầy tự hào của một người lính trẻ vừa được cấp trên tin tưởng:
- Tết này tao được theo Thủ trưởng ra Cục Xăng dầu họp ngoài Hà Nội, thế nào cũng tranh thủ về thăm nhà. Mày cứ viết thư, tao mang tận tay cho.
- Mới nhập ngũ mà đã được về thăm nhà, nhất mày rồi, Huế à - tôi buột miệng, nửa đùa nửa ghen tị thật lòng.
Nhưng câu chuyện chợt trầm xuống khi Huế nhắc đến lá thư của chị gái. Giọng anh nhỏ lại, như sợ núi rừng nghe thấy:
- Qua thư, chị tao kể, tối nào ăn cơm xong mẹ cũng ra gần tấm lịch treo tường, tay gầy guộc nâng cây đèn dầu, run run bóc một tờ lịch, rồi bấm đốt ngón tay tính xem tao đi được bao lâu, còn bao lâu nữa thì về. Đọc đến đoạn ấy mà tao rơi nước mắt giữa rừng.
Tôi không biết an ủi thế nào, chỉ nói được một câu thật thà:
- Vậy lần này về, mẹ mày vui lắm đấy.
Chúng tôi chia tay nhau ở đó, hẹn ngày gặp lại, nào ngờ đó lại là lần cuối cùng. Cũng may, là lính cùng một trung đoàn đường ống, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe tin nhau qua đường dây điện thoại dã chiến, qua người quen đi công tác ngang qua, thứ liên lạc mong manh ấy đủ để giữ một tình bạn ấm áp giữa chiến trường lạnh lẽo bom đạn.
Rồi mùa đông năm ấy, giáp Tết, tôi lên đường quay lại E Bộ. Chưa tới nơi, tôi đã nghe tiếng bom rền vang phía trước, thấy cột khói đen bốc lên giữa tán rừng, trong lòng đã thấy bất an. Đến nơi thì trận bom vừa dứt, cây đổ, cành gãy ngổn ngang khắp khu đồi thông tin và khu bếp ăn của Trung đoàn, mọi người đang cuống cuồng sơ tán, chỉ còn vài người ở lại trông coi. Tôi phải len qua từng thân cây đổ mới tìm được lối vào lán gác cũ, nơi hai đứa từng ngồi kể chuyện quê.
Tôi vội đi tìm Huế thì được người ta chỉ xuống bờ suối, nơi một đám đông đang xúm lại. Chạy xuống, chen vào, tôi thấy anh, người bạn trắng trẻo, điển trai hôm nào, đang được đồng đội dìu lên khỏi dòng nước, đầu quấn vội mảnh vải, tiếng kêu đau đã yếu dần. Hoá ra anh bị thương lúc đang vo gạo bên bếp, chuẩn bị gói những chiếc bánh chưng đón Tết cho anh em. Còn cô Tình, nhân viên bệnh xá, chỉ biết cố cầm máu bằng những gì có trong tay ở nơi rừng sâu này.
Tôi nắm lấy tay Huế, chỉ biết gọi tên anh, nghẹn không thành câu:
- Sao mày bảo Tết này về thăm mẹ cơ mà…giờ nằm thế này thì về sao được nữa, Huế ơi…
Tôi không khóc, nhưng nước mắt cứ chảy, không sao ngăn được.
Huế đã hy sinh cùng nhiều đồng đội trong những ngày tháng ấy, hai mươi người con trai, con gái đã nằm lại đại ngàn Trường Sơn. Trong số đó có những cô gái tuổi mười tám đôi mươi mà mỗi lần lên E Bộ chúng tôi vẫn thầm mong được gặp: cô Ninh, cô Xuân hát hay người Hải Phòng, cô Vân, người ta gọi vui là "Hoa Kiều" vì xinh như búp bê, quê Hà Bắc, cô Vi, cô Nhiễu người Thái Bình. Những gương mặt trẻ trung, những giọng hát, những nụ cười, tất cả đã hoà vào dòng suối nhỏ giữa rừng già, lặng lẽ như chưa từng tồn tại, nhưng lại không bao giờ mất đi trong ký ức những người ở lại.
Chân dung liệt sĩ Bùi Trần Huế
Từ đó, mỗi lần nhìn tấm ảnh người bạn đồng hương mảnh khảnh, tôi lại nhớ nguyên vẹn buổi chiều hai đứa ngồi trong lán gác, nhớ câu chuyện về mẹ Huế và cây đèn dầu. Tôi cứ hình dung mãi cái ngày mẹ nhận tin con trai không về nữa, đôi tay gầy guộc ấy có còn bấm đốt ngón tay đếm ngày mong đợi, hay từ hôm đó, tấm lịch treo tường cứ để nguyên, không ai buồn bóc nữa.
Phần mộ của Liệt sĩ Bùi Trần Huế tại Nghĩa trang Trường Sơn
Chúng tôi, những người may mắn đi hết cuộc chiến, mang theo mình lời hứa chưa nói ra: sẽ không bao giờ quên những người đồng đội đã ngã xuống giữa đường, khi giấc mơ trở về còn dang dở, khi lá thư gửi mẹ còn chưa kịp viết nốt những dòng cuối. Họ đã dâng trọn tuổi thanh xuân, dâng cả điều thiêng liêng nhất là ngày trở về, cho một Tổ quốc mà họ tin sẽ có ngày im tiếng bom.
Nhân dịp cả nước hướng về những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, tôi xin thắp một nén tâm hương, gọi tên Bùi Trần Huế và những đồng đội của tôi, những người đã hoá thân vào đại ngàn Trường Sơn, để dòng xăng vẫn chảy, để con đường vẫn thông, và để hôm nay, chúng ta còn có một mái nhà để trở về.
Nguồn: Heritex