Nhớ ngày đầu tiên Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc - Tản văn: Hoàng Minh Đức
NHỚ NGÀY ĐẦU TIÊN MÝ LEO THANG ĐÁNH PHÁ MIỀN BẮC
Tản văn Hoàng Minh Đức
Ngày đầu tiên tôi bước chân vào lớp 1 cũng là lúc giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Trước đó, tháng 6 năm 1964, bố tôi đi họp hiệu trưởng ở trong Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình cũ), tập huấn lớp báo cáo viên về tình hình thời sự cho các địa phương trong huyện Quảng Trạch.
Tôi còn nhớ một đêm trên sân kho hợp tác xã làng Minh Lệ, bà con cầm đèn chai đến nghe nói chuyện rất đông. Giữa sân, người ta đặt một cái bàn và một cái ghế nhỏ cho bố tôi ngồi. Ai có đòn thì ngồi đòn, ai không có thì ngồi lên dép, đông vui như đi xem chiếu bóng. Lũ trẻ con chúng tôi được dịp nhặt những viên đá ba-lát trên đường tàu mà xã viên gánh về làm sân để đập vào nhau chơi, thích thú nhìn những tia lửa lóe lên sáng chói như đom đóm.
Bố tôi bắt đầu buổi nói chuyện bằng lời cảnh báo tình hình đang rất căng thẳng. Bà con phải nhanh chóng đào hầm hào để tránh máy bay địch. Bởi lẽ, khi thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ chắc chắn sẽ liều lĩnh trả đũa ra miền Bắc. Ông đặc biệt nhắc đến trận tập kích vang dội của quân ta vào đồn Nam Đông ở Thừa Thiên Huế, tiêu diệt sáu chục tên địch, trong đó có ba cố vấn
người Mỹ và Úc - những tên lính nước ngoài đầu tiên bỏ mạng tại Việt Nam.
Nghe đến đây, cụ Mẹt Phìa, một cụ ông đã bảy mươi tuổi, xúc động đứng bật dậy xuất khẩu thành thơ: “Thằng Giôn-xơn to đầu mà dại/ Bộ đội mình nhỏ lại rất khôn”.
Sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ” đánh lừa dư luận, ngày 5/8/1964, theo lệnh Tổng thống johnson, giặc Mỹ mở cuộc tập kích đường không vào miền Bắc Việt Nam.
Buổi trưa, mẹ tôi đang đi làm đồng thì chúng tôi nghe tiếng máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời. Những chiếc máy bay hình vỉ ruồi chứ không phải cánh bằng như tôi thường thấy máy bay của ta bay từ Hà Nội vào sân bay Đồng Hới.
Ông nội tôi dẫn ba anh em chúng tôi xuống hào giao thông của ông Phó Duê để ẩn nấp. Đây là đường hào du kích đào trong kháng chiến, hồi còn mồ ma thằng Tây trên đồn Minh Lệ. Đường hào giao thông rộng, sâu hơn một mét bao quanh khu vườn hơn 7 sào đất. Trên đường hào phủ bóng tre phủ xuống xanh mát.
Vừa xuống vườn ông Duê đã thấy mọi người trong làng đem con cháu xuống hào trú ẩn. Họ quét dọn lá tre và gai góc để trải chiếu cho trẻ con ngồi.
Ông Phó Duê khiêng cả bộ phản trong nhà ra cho chị Cu Ngật, người con dâu của ông ngồi ôm thằng cháu đích tôn (anh Hoàng Đăng Quang sau này là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình, Phó trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng). Ông Phó Duê là thông gia của ông nội tôi. Bác Duê tôi, con gái đầu của ông Duê là con dâu cả của ông nội. (Người miền Trung khi lớn tuổi thường gọi bằng tên của con đầu).
Ông nội tôi với ông Phó Duê ngồi bình thản kể chuyện ngày xưa đánh Tây trên đồn Minh Lệ chứ chẳng lộ rõ hoảng hốt gì. Trong những ngày đầu tản cư, ngôi nhà ông Duê là kho chứa thóc tạm thời của du kích khi chưa kịp vận chuyển lên chiến khu.
Phà Gianh cách làng tôi chừng hai cây số theo đường chim bay. Lần đầu tiên máy bay phản lực Mỹ bay ra đánh phá miền Bắc nên bọn trẻ con lạ lắm. Mấy anh lớp lớn leo lên ngọn cây cao xem tàu hải quân bắn nhau với máy bay Mỹ. Khi nghe tiếng pháo, tiếng bom nổ rầm trời mấy bà mấy chị lại hỏi anh Trần Đặng “Máy bay hắn bắn ở mô rứa cháu?”. Anh Trần Đặng học hơn tôi ba lớp ngồi trên chạc ba của ngọn cây xoan tường thuật tàu hải quân ta chọi nhau với máy bay Mỹ. Anh thấy những chớp lửa bắn lên từ tàu hải quân cùng đội tự vệ ngư trường sông Gianh. Những cụm đạn khói nổ trắng trên bầu trời như cánh đồng bông. Máy bay địch thì lao xuống thả bom rung cả mặt đất. Dân quân hai huyện Quảng Trạch và Bố Trạch bên bờ sông Gianh cũng hợp đồng chiến đấu.
Tiếng súng trường ga-răng của dân quân trong làng tôi nổ rất to, vang dội chẳng khác gì tiếng sấm chớp của đạn cỡ lớn.
Cuối ngày, khoảng 17 giờ chiều thì máy bay Mỹ đã chuồn thẳng. Đêm đến ông cháu tôi đến nhà ông Hoàng Hiệc để nghe Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo bản tin đặc biệt. Ông Hiệc có chiếc đài do chú Hoàng Ban, người con út học ở Liên Xô mang về tặng. Sau này nghe nói chú làm đến Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại, là người đứng đầu một đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư có nhiệm
vụ tham mưu cho Bộ trưởng về các vấn đề hợp tác kinh tế quốc tế, vốn ODA và đầu tư nước ngoài. Đây là cái đài duy nhất trong làng Minh Lệ của tôi thời ấy.
Đài thông báo giặc Mỹ đã từ Hạm đội 7 ngoài biển bay vào đánh phá vùng ven biển từ cảng sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội - Vinh - Bến Thủy (Nghệ An), Lạch Trường (Thanh Hóa) ra đến Hòn Gai - Bãi Cháy (Quảng Ninh). Trận chiến đấu đánh trả không quân Mỹ kéo dài từ 12 giờ 30 phút đến 17 giờ. Kết quả sau 64 lần xuất kích chúng đã bị ta bắn rơi 8 máy bay, bắn bị thương một chiếc khác, lần đầu tiên bắt sống phi công Mỹ, khiến chính quyền Mỹ vô cùng bất ngờ, choáng váng. Quân dân Quảng Bình vinh dự đã góp phần bắn rơi một chiếc.
Từ ngày 7 tháng 2 năm 1965, để thực hiện ý đồ mở rộng chiến tranh phá hoại nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ đã công khai dùng không quân và hải quân đánh phá toàn miền Bắc. Quảng Bình lại đứng nơi đầu sóng, tuyến miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.
Bố tôi, một người lính thuộc Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 thời chống Pháp nay lại tay bút, tay súng đánh Mỹ. Giữa thời điểm ác liệt ấy, ngành giáo dục Quảng Bình cần một cán bộ từng trưởng thành từ môi trường quân đội; bố tôi đã nhận nhiệm vụ trọng trách chỉ huy đội tự vệ, làm Trưởng phòng tổ chức cán bộ trường sư phạm cho đến ngày nghỉ hưu. Sau này tôi cũng bước theo cha lên đường bảo vệ Tổ quốc và tham gia sự nghiệp trồng người.
Hơn sáu mươi năm trôi qua, nhìn lại trận đánh đầu tiên của quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, chúng ta càng thêm trân quý giá trị hòa bình của cuộc sống hôm nay.
Hoàng Minh Đức
CTV Trang Web và Bản tin TS