Thợ lái máy ủi Trung đoàn 14, Sư đoàn 565 - Hồi ký: Nguyễn Minh Quang

Ngày đăng: 03:52 10/08/2026 Lượt xem: 304
ĐẠI ÚY VŨ CÔNG TRỌNG THỢ LÁI MÁY ỦI TRUNG ĐOÀN 14, SƯ ĐOÀN 565

       Anh Vũ Công Trọng nhập ngũ trước năm 1975, những năm đất nước còn ngổn ngang bom đạn, người lính đi đâu cũng có thể gặp gian nan, hiểm nguy, và mỗi người như một hạt cát nhỏ trong dòng chảy lớn của cuộc chiến tranh. Khi anh Song quản lý C20, Binh trạm 14, xảy ra chuyện tham ô gạo làm thủng ngân quỹ rồi nổ bộc phá phá kho gạo ở đường 20 Quyết Thắng, thì anh Trọng đang ở C4 xe máy, lặng lẽ thi công đường 15C chạy dọc theo sông Chày, con sông nước xanh ngắt cứ miệt mài chảy qua những vùng núi rừng heo hút, nơi những người lính ngày ấy cũng lặng lẽ làm việc, hết ngày này sang ngày khác.
       Cuối năm 1978, anh Trọng theo Trung đoàn 14, Sư đoàn 565 sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế, đến đầu năm 1980 lại cùng đơn vị trở về công trường thủy điện và chuyển sang thi công hầm, cũng từ những ngày ấy mà có dịp gặp anh, một người có dáng gầy nhưng rắn rỏi, thường xuyên cùng lúc trực hai chiếc máy ủi T100 và Komatsu ngoài cửa hầm. Sau mỗi lần nổ mìn, chờ cho quạt thông gió thổi hết hơi mìn và không khí trong hầm trở lại bình thường, anh lại lái máy ủi vào vun đá, san dọn hiện trường để công việc tiếp tục, có khi xe chở đá bị quá tải, chết máy giữa hầm, anh lại đưa máy ủi vào kéo ra, bất chấp đường hầm trơn trượt, tối tăm và đầy những nguy hiểm mà người đứng ngoài không dễ hình dung được.
       Một lần, trong lúc bàn giao ca, anh bật máy lửa để kiểm tra lượng dầu trong bình, không ngờ xăng nổi lên trên, gặp lửa liền bùng cháy, khuôn mặt anh rực sáng trong ngọn lửa dữ dội, đơn vị phải vội vàng đưa anh về Bệnh viện 103 điều trị, vậy mà sau này mỗi khi kể lại chuyện ấy, anh vẫn nói bằng giọng nửa đùa nửa thật: “Ra viện được một tháng lương thương tật”, nghe thì tưởng như anh chỉ kể một chuyện vui của đời lính, nhưng đằng sau câu nói nhẹ tênh ấy là một lần tai nạn mà chắc hẳn anh không thể nào quên.
      Những năm 1980, đời sống bộ đội nghèo lắm, nhiều người tìm cách xin ra quân hoặc xin về bệnh binh, bởi trong hoàn cảnh lúc ấy, cuộc sống gia đình và những lo toan trước mắt khiến người ta phải tính đến từng đồng lương, từng sào ruộng, từng cái giấy chứng nhận thương tật, đến mức trong anh em có câu nói nghe vừa chua chát vừa buồn cười: “Ba sao một gạch không bằng sào ruộng khoán”. Ở Đại đội 211 khi ấy, Trung úy Hưởng, Đại đội phó, cũng cầy cục xin phục viên, còn Đại đội phó chính trị Thảng vốn đau dạ dày, cứ hơi đau một chút là xin xuống bệnh xá, rồi tìm cách đi Viện Quân y 105 để lấy giấy tờ tích trữ, có lần anh bị ngã trong hầm, đầu gối rách toạc, máu chảy xuống chân mà vẫn hỏi người quản lý đại đội: “Thế này liệu có được tính thương tật không nhỉ?”, câu hỏi nghe qua có vẻ buồn cười, nhưng nghĩ kỹ lại thấy vừa thương vừa chua xót cho cuộc sống của những người lính trong một thời gian khó.
       Hồi ấy, thương tật mất sức khỏe từ 51 phần trăm thì được hưởng chế độ bệnh binh, người bệnh binh được xếp vào diện người có công, được thăm hỏi và điều dưỡng sức khỏe hàng năm, nhưng ở thời điểm ấy mấy ai có thể nghĩ xa đến vài chục năm sau, người lính thường chỉ biết hôm nay phải làm gì, ngày mai công trường giao việc gì thì làm việc ấy, còn những chuyện của tuổi già và những chế độ sau này thì hầu như chẳng ai nghĩ tới, nhiều người thậm chí có giấy tờ trong tay cũng không biết phải giữ lại để làm gì.
Sau khi công trình thủy điện Hòa Bình hoàn thành, anh Trọng còn phục vụ trong quân đội thêm vài năm rồi về hưu, sau đó có thời gian đi làm bảo vệ ở cửa hàng điện thoại Thế giới Di động, một công việc chẳng có gì giống với những năm tháng anh từng điều khiển máy ủi trong những đường hầm tối tăm của công trường thủy điện. Những lần gặp lại anh trong các buổi họp mặt đơn vị cũ, vẫn thấy anh ăn mặc chỉnh tề, cầm chiếc điện thoại chụp ảnh, ghi hình từng người để lưu lại những kỷ niệm của một thời, gặp lại đồng đội cũ ánh mắt anh thường sáng lên, vui vẻ hỏi han chuyện này chuyện kia, chẳng khác gì ngày xưa gặp nhau ngoài công trường, chỉ có điều tóc đã bạc hơn và những năm tháng trên công trường giờ đây đã lùi lại rất xa.
       Hôm trước, nghe một người bạn được đi điều dưỡng mấy ngày theo chế độ người có công, tôi chợt nhớ đến anh Trọng và lần tai nạn năm nào, rồi bất giác nghĩ rằng giá như ngày ấy anh giữ lại giấy tờ đi viện sau vụ xăng bốc lửa, làm hồ sơ với bên quân lực, thì biết đâu hôm nay anh cũng đã có một chế độ nào đó, được đi điều dưỡng hàng năm như một số anh em cùng đơn vị cũ. Nhưng nghĩ rồi lại thôi, bởi những năm tháng ấy đã quá xa, người lính của một thời gian khó thường chỉ biết làm xong việc trước mắt, bị thương thì chữa trị, khỏi bệnh lại trở về công trường, chẳng mấy ai nghĩ rằng những mảnh giấy mình cầm trong tay hôm nay có thể trở thành căn cứ cho một chế độ nào đó của vài chục năm sau.
        Đời người có những chuyện lúc xảy ra tưởng như rất bình thường, đến khi ngoảnh lại mới thấy nó đã trở thành một dấu mốc, và chuyện anh Trọng bị ngọn lửa xăng làm bỏng khuôn mặt năm nào có lẽ cũng là một chuyện như thế. Bốn mươi năm trước, chẳng ai nghĩ đến chuyện sau này mình sẽ già đi, sẽ nghỉ hưu, sẽ có người được hưởng chế độ điều dưỡng hàng năm, càng không ai nghĩ rằng những giấy tờ tưởng như vụn vặt của một lần nằm viện lại có thể trở thành thứ đáng giá đối với cuộc sống của mình về sau. Bây giờ gặp lại anh Trọng giữa những người đồng đội năm xưa, điều đáng nhớ nhất có lẽ không còn là anh đã từng điều khiển chiếc máy ủi nào, đã làm công trình gì hay đã được hưởng chế độ gì, mà là hình ảnh một người lính gầy gò, rắn rỏi từng lặng lẽ ngồi sau tay lái, chờ quạt thông gió thổi hết hơi mìn rồi lại đưa máy vào hầm, hết ca này sang ca khác, cùng anh em làm nên một phần công trình của những năm tháng tuổi trẻ mà đến hôm nay, khi tóc đã bạc, tất cả chúng ta mới có dịp ngồi lại để nhớ về.

                Kỹ sư Nguyễn Minh Quang
Nguyên Cán bộ Ban Tham mưu E14, F 565; BĐ12
tin tức liên quan