“Ký ức người lính và những năm tháng không quên” - Ký sự của Lê Thuần

Ngày đăng: 01:50 24/09/2026 Lượt xem: 17
“Ký ức người lính và những năm tháng không quên” - Ký sự của Lê Thuần

KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH VÀ NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN
(Ký sự, ghi chép theo tựa đề của nhân vật).
 
Thân gửi anh: Nguyễn Quốc Lập
Tổ dân phố Đông Hồ, phường Thuận Thành, thành phố Bắc Ninh.
Gặp anh đã mấy lần: Lần đầu tiên tại Sao Mai Thanh Hóa nhân ngày Kỷ niệm 2 năm thành lập Trang thơ “Những vần thơ &Người lính”. Lần nữa tại quê tôi. Khi anh vào Sầm Sơn để an dưỡng Người có công. Anh điện hẹn tôi cùng anh đến dự đám cưới của thằng lính của anh nhưng nó cũng là em họ tôi. Đặc biệt nhất là những ngày tại Trại viết văn Trường Sơn 1 tại Đồ Sơn Hải Phòng, cách nay đã 9 năm. Khi tôi đến khách sạn Khăn Quàng đỏ nhận phòng đã thấy anh và chú Phạm Sinh Phó tổng Biên tập Trang ĐT Trường Sơn Việt Nam ra đón. Tôi vồn vã chào và bắt tay thật chặt và không quên thông báo: Hoàng Đại Nhân từ Sài Gòn ra hẹn 10 phút nữa sẽ đến. Thế là tôi nhận phiếu luôn cho anh Nhân cùng phòng.
          Mười ngày ở Đồ Sơn, tối nào chúng tôi cũng không rời nhau. Bài vở thì ít nhưng bia bọt thì nhiều. Qua những buổi như thế tôi đã đi vào những mảnh vụn ký ức của anh Nguyễn Quốc Lập. Còn với anh Hoàng Đại Nhân thì tôi đã có một tình cảm đặc biệt khác. Có dịp tôi sẽ hầu kể cùng các bạn!
Tuổi thanh xuân của ba chúng tôi không gắn với những ngày tháng yên bình, không gắn với những vui chơi phí phạn. Nó được bao bọc trong màu áo lính, trong hơi thở của súng đạn, trong nhịp hành quân của những đội quân kiên cường. Thời đó ai ở tuổi chúng tôi chắc cũng hừng hực khí thế ấy!
Anh Nguyễn Quốc Lập có tuổi quân và quân hàm cao nhất: Mười sáu năm sáu tháng! Một khoảng thời gian không ngắn, trọn vẹn mười sáu mùa vinh quang nhất, nhưng cũng đầy gian khổ và hy vọng nhất của cuộc đời anh. Khi ra quân cấp bậc Đại úy, Chức vụ Tiểu đoàn trưởng.
          Nhâm nhi cốc bia, anh chậm rãi kể:
Năm 1974, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cuối, quyết định nhất, khi cả dân tộc đang hướng về ngày đại thắng với niềm tin cháy bỏng, tôi hân hoan lên đường nhập ngũ. Vinh dự thay, tôi được xếp vào đội hình Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 (Quân tình nguyện Việt Lào – Bộ đội Trường Sơn) - một đơn vị có truyền thống chiến đấu dũng cảm. Địa bàn hoạt động của chúng tôi là mảnh đất Tây Nguyên đầy nắng gió, cùng với những vùng đất bạn Lào núi non hiểm trở. Đó là những nơi mà mỗi tấc đất đều ngấm máu và mồ hôi, nơi mà rừng xanh che lấp bầu trời, sốt rét rừng rình rập từng đêm, bom đạn kẻ thù gieo rắc chết chóc khắp nơi. Nhưng chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, tình đồng đội càng chặt chẽ, ý chí chiến đấu càng cao ngất.
Đầu năm 1975, khi cả nước đang chờ đợi một đợt tiến công mang tính lịch sử, đơn vị chúng tôi nhận một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: tham gia chiến dịch nghi binh chiến lược, mở màn cho chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Lệnh truyền xuống: Trung đoàn 19 cùng Sư đoàn 968 phải liên tục di chuyển, xây dựng các trận địa pháo giả, hành quân rầm rộ ngày đêm, bắn pháo kích liên tục vào khu vực Pleiku và Kon Tum. Mục đích chỉ có một: làm cho kẻ thù tin rằng đây chính là hướng tiến công chính của quân ta, rằng lực lượng chủ lực của ta sẽ đổ bộ vào Bắc Tây Nguyên. Chúng tôi phải làm sao cho địch tin thật, phải làm sao để chúng dồn hết lực lượng mạnh nhất về phía này.
Ngày đêm hành quân, lửa trại được đốt lên khắp nơi, tiếng nói, tiếng kèn, tiếng xe cộ được phóng đại để tạo ấn tượng một lực lượng đông đảo đang tập trung. Mỗi người lính chúng tôi đều hiểu rõ: phía sau lưng, hướng về Buôn Ma Thuột, những đội quân chủ lực đang lặng lẽ tập trung, chờ đợi giây phút ra đòn quyết định. Chúng tôi ở đây như tấm lá chắn, như tiếng kêu thu hút sự chú ý của kẻ thù. Và nhiệm vụ đã hoàn thành một cách vẻ vang. Khi địch dồn toàn bộ đội mạnh nhất về phía Bắc Tây Nguyên, quân ta bất ngờ mở đợt tiến công vào Buôn Ma Thuột – đòn đánh sấm sét làm rung chuyển toàn bộ phòng tuyến của chúng. Chiến dịch nghi binh thắng lợi giòn giã, tạo bước ngoặt quyết định. Từ đó, toàn quân ta thừa thắng xông lên, giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, tiến ra giải phóng các tỉnh Trung Bộ, và cuối cùng là đại thắng mùa xuân năm 1975 -Ngày Tổ quốc thống nhất (30 tháng tư năm 1975), ngày mà cả dân tộc mong đợi, bao người đã ngã xuống để đổi lấy.
Tiếng súng trên quê hương vừa dứt, niềm vui thống nhất chưa kịp ngấm trọn, thì nghĩa vụ Quốc tế cao cả lại vang vọng, gọi tên những người lính. Từ năm 1977 đến năm 1987, tròn mười năm, tôi đã bám đất nước bạn Lào, đó là mảnh đất có núi non trùng điệp, có những người dân hiền lành và chân thành. Mười năm ấy không phải là những ngày bình yên, mà là mười năm "mồ hôi muối mặn trập trùng núi non", là những ngày đêm khói lửa trong cuộc chiến tiễu phỉ Vàng Pao vô cùng khốc liệt.
Phỉ Vàng Pao cùng bè lũ tàn dư ẩn nấp sâu trong các khu rừng nguyên sinh, trên những đỉnh núi đá dựng đứng, qua lại giữa các hang hốc hiểm trở. Chúng ra vào bất thình lình, đánh lén, cướp bóc, giết hại người dân vô tội, gieo rắc nỗi kinh hoàng cho từng bản làng. Từ Khammouan mát mẻ đến Savannakhet nắng cháy, từ vùng đất trù phú Saravan đến cao nguyên Champasak hùng vĩ, đâu có phỉ, đó có bước chân chúng tôi. Mỗi trận đánh đều là cuộc đấu trí và đấu lực căng thẳng, bởi kẻ thù rành rẽ từng lối đi, từng khe suối, từng gốc cây. Chúng tôi phải bám dân, bám đất, bám núi rừng sương muối, lắng nghe từng lời kể của người dân, quan sát từng dấu vết nhỏ để tìm ra ổ phỉ.
Trong mười năm bám trụ đất Bạn, tôi trưởng thành trong gian khó. Từ Trung đội trưởng, rồi lên Đại đội trưởng, Phó Tiểu đoàn trưởng, và cuối cùng là Tiểu đoàn trưởng với quân hàm Đại úy – những bước trưởng thành được khắc ghi bằng từng trận đánh, từng đêm canh thức, từng giọt mồ hôi rơi trên đất nước bạn. Với cương vị người chỉ huy, tôi hiểu rõ trách nhiệm trên vai: không chỉ là đánh thắng kẻ thù, mà còn là bảo vệ từng mái nhà, từng em bé, từng nương lúa của người dân Lào. Tinh thần "đội đá vá trời" của những người lính chúng ta thời ấy, tình nghĩa thủy chung giữa hai dân tộc Việt – Lào đã trở thành kim chỉ nam, giúp tôi cùng đồng đội vượt qua mọi thiếu thốn, mọi hiểm nguy, để hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.

 

Cựu binh Sư đoàn 968 - Quân tình nguyện Việt Lào - Bộ đội Trường Sơn Nguyễn Quốc Lập
 
Tháng Sáu năm 1990, tôi nhận quyết định phục viên. Từ một Tiểu đoàn trưởng Đại úy quen chỉ huy hàng trăm chiến sĩ, quen với nhịp độ chiến đấu khẩn trương dọc ngang bờ sông Mê Kông, tôi trở về với quê hương Song Hồ thân yêu. Trước mắt không còn là bản đồ chiến trường, không còn là mệnh lệnh hành quân, mà là cánh đồng rộng bát ngát, là mái nhà đơn sơ, là những gương mặt thân thương của người thân, hàng xóm. Một cuộc chiến mới bắt đầu. Cuộc chiến chống lại cái nghèo, chống lại sự thiếu thốn, để xây dựng quê hương và gia đình, để nuôi dưỡng các con ăn học trưởng thành, trở thành người hữu ích.
Ngày đầu cầm cái cuốc thay cho cây súng, tôi thấy ngượng ngùng, thấy lạ lẫm làm sao. Tay quen cầm súng, nay cầm cuốc bị phồng rộp, vai quen đeo ba lô nặng, nay cày ruộng mỏi nhừ. Nhưng tôi không hề nản chí. Như những câu thơ tôi đã viết: "Chiến binh sản xuất giảm nghèo/ Ra đồng cuốc ruộng, băm bèo sớm hôm". Người lính đâu có ngại khó, đâu có ngại khổ. Tôi làm tất cả mọi việc: cày cấy, chăn nuôi, đi làm thuê, làm mướn bất cứ việc gì có thể kiếm tiền. Những năm đầu đổi mới, cuộc sống còn nhiều khốn khó, kinh tế gia đình còn nhiều eo hẹp, bữa ăn chưa bao giờ được no đủ một cách dễ dàng, nhưng trong lòng tôi vẫn bình yên, vẫn tìm thấy niềm vui trong từng luống rau xanh, trong từng con lợn lớn lên mỗi ngày. Tôi thường tự trào với mình rằng mình "đang đuổi cái nghèo", không để cái nghèo làm mình nhụt trí, làm mình gục ngã. Chính những khó khăn ấy lại càng rèn luyện ý chí, càng làm tôi hiểu giá trị của lao động, của sự kiên trì. Tôi muốn sống làm gương cho các con: nghèo nhưng không thấp kém, khó khăn nhưng không mất đi nhân cách, luôn xứng đáng là con của anh Bộ đội Cụ Hồ. Và rồi, bằng mồ hôi, bằng sự kiên trì không ngừng, cùng với sự chắt chiu, tiết kiệm của vợ, sự động viên của đồng đội, các con chúng tôi lần lượt trưởng thành, có nghề nghiệp, có gia đình riêng. Đó là niềm vui lớn lao nhất trong đời bình dị của tôi.
Người ta thường nói: "Người lính chỉ nghỉ ngơi khi tim ngừng đập". Với tôi, đó không phải là câu nói suông, mà là lẽ sống. Khi gia đình đã tạm ổn định, các con đã khôn lớn, tôi lại nghĩ đến quê hương. Đất nước đã cho tôi cuộc đời, thanh xuân, vinh quang. Nhiệm vụ bây giờ tôi phải trả lại những gì đó cho mảnh đất này. Tôi tham gia công tác xã hội, được các đồng chí, người dân tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Song Hồ. Mười tám năm tròn, bốn nhiệm kỳ liên tiếp, tôi luôn mang theo cái tác phong kỷ luật của người lính, cái tâm của người chỉ huy năm xưa, để gắn kết những người đồng đội, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Chúng tôi giúp nhau làm ăn, thăm hỏi lúc ốm đau, động viên lúc khó khăn, để ngọn lửa đồng chí, đồng đội không bao giờ tắt.
Năm 2014, tôi nghỉ hưu theo chế độ. Nghĩ rằng thế là được nghỉ ngơi, được an nhàn. Nhưng không, cái duyên với việc đời, việc dân vẫn chưa dứt. Ngay sau đó, tôi lại được tin tưởng giao trọng trách Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi, và cho đến tận bây giờ. Nhiều lúc ngồi một mình, tôi nhìn vào gương, thấy mái tóc đã bạc trắng, thân hình đã gầy mòn theo năm tháng, tôi lại tự cười một mình: "Gần bảy mươi tuổi rồi, vẫn lon ton ngoài đường!". Cái chân đã quen đi, quen bước, không thể ngồi yên một chỗ. Đầu óc này đã quen nghĩ cho người khác, cho chòm xóm, láng giềng. Mỗi khi có việc xã, việc thôn, mọi người đến mời, tôi lại sẵn sàng lên đường. Không vì gì cả, chỉ vì thấy mọi người vui, thấy quê hương đổi mới, thấy con cháu khỏe mạnh, tiến bộ thì lòng mình đã thấy vui, thấy ấm áp, thấy tuổi già vẫn còn có ý nghĩa.
Mỗi buổi sáng thức dậy, mở cửa ra nhìn ngắm quê hương thay đổi từng ngày: đường rộng ra, nhà cao lên, con em đi học đầy đủ, người dân sống yên bình, tôi lại tự nhủ với lòng mình: "Gắng lên một chút! Việc đời… việc dân!". Hơn nửa thế kỷ cống hiến: từ những ngày tháng hào hùng trên chiến trường, mang trên vai trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc và nhân dân bạn, đến những năm tháng bình dị, cầm cuốc cày ruộng, rồi chăm lo cho từng người dân trong xóm thôn tôi không hối hận điều gì. Không tiếc những ngày thanh xuân đã đi, không tiếc mồ hôi đã rơi, không tiếc những hy sinh đã làm.
Ký ức về những năm tháng làm người lính sẽ mãi ở lại, sống trong tôi, như một ngọn lửa không bao giờ tắt. Đó là hành trang quý giá nhất, là nguồn sức mạnh, là tấm gương soi đường cho tôi, và cho cả các thế hệ con cháu sau này, trên dòng đời vạn biến. Dù mai sau có ra sao, tôi vẫn có thể tự hào nói rằng: tôi đã sống trọn vẹn, đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho quê hương mà tôi yêu thương.
***
Khi những dòng chữ này được đặt xuống giấy, ba chúng tôi đã bước vào tuổi ngoài bảy mươi, cái tuổi mà người ta thường nói "thất thập cổ lai hy", một lứa tuổi đáng lẽ chỉ nên nghỉ ngơi, vui vầy bên con cháu, để những nếp nhăn trên trán được bình yên. Thấm thoắt đã bảy mươi năm cuộc đời, bảy mươi năm bao thăng trầm, bao biến cố lớn lao của cả dân tộc lẫn mỗi cá nhân. Ngoảnh lại chặng đường dài đã đi qua, chúng tôi không thấy hối hận về điều gì, ngược lại, trong lòng dâng lên một niềm tự hào sâu lắng: chúng tôi đã sống một cuộc đời trọn vẹn. Trọn vẹn với Tổ quốc, trọn vẹn với nghĩa vụ Quốc tế cao cả, và trọn vẹn với gia đình, với quê hương yêu dấu.
Cuộc đời người lính tựa như một cây cổ thụ kiên cường trước giông bão, dù gió cuốn bão táp, dù cuộc đời có xô đẩy bao nhiêu, thì gốc rễ người lính đã ăn sâu vào lòng đất mẹ, mãi bám chặt không lìa, để tán lá vẫn xanh tươi qua bao mùa thay lá.

 
                                     Lê Thuần
    Hội viên Hội VHNT Trường Sơn tại Thanh Hóa
 

 

tin tức liên quan