ANH HẢI – MỘT THỜI Ở SÔNG ĐÀ
Có những người rời quê khi tuổi đời còn rất trẻ, lúc ấy chưa kịp nghĩ cuộc đời mình rồi sẽ đi về đâu, chỉ biết ở lại thì nhà đông người, cơm áo khó khăn, mà muốn đi thì trước mắt chỉ có một con đường là kiếm lấy một việc gì đó để làm, với anh Hải, con đường ấy bắt đầu từ Sa Pa.
Anh sinh năm 1960, quê ở Sa Pa, nhà đông anh em, đông con cháu, lại neo đơn nên mới mười bảy tuổi đã phải rời quê xuống làm công nhân xây dựng, khi trong đầu còn chưa có nhiều chữ nghĩa, học hết lớp 7 rồi nghỉ; vì quá tuổi không được học tiếp văn hóa. Năm 1979, chiến tranh biên giới xảy ra, Sa Pa bị tàn phá, anh càng không có lý do gì để trở lại cuộc sống cũ, vậy là cậu trai mười chín tuổi theo những người thợ xây đến công trường thủy điện Sông Đà, bắt đầu một quãng đời mà sau này mỗi khi nhắc lại, anh vẫn thấy như mình vừa bước ra từ một giấc mơ rất xa.
Ngày ấy, công trường Sông Đà đâu chỉ có những khối bê tông đồ sộ mà người ta thường nhìn thấy trên những tấm ảnh về công trình thế kỷ, phía sau những công trình ấy là những con người trẻ tuổi ngày đêm khoan đá, nổ mìn, đào hầm, vận chuyển vật liệu, đổ bê tông dưới lòng núi, làm việc giữa tiếng máy, tiếng mìn và bụi đá. Một chàng trai Sa Pa mới mười chín tuổi, từ một gia đình đông người bước ra đời, cứ thế lớn lên giữa núi đá và những công trường mà có lẽ lúc ấy anh cũng chưa hiểu rằng chính nơi đó sẽ trở thành một phần ký ức không thể nào xóa được của đời mình.
Rồi tiếng gọi của người lính đến, anh rời công trường khoác áo bộ đội Cụ Hồ, về C6, E14, F565, nhưng lạ một điều là ngay cả khi đã trở thành người lính, anh vẫn không rời khỏi công trường Sông Đà theo đúng nghĩa của nó, bởi đơn vị vẫn làm những công việc của người lính công binh trên công trường, vẫn khoan đá, nổ mìn đào hầm, vẫn đổ bê tông, vẫn có những ngày người lính vừa làm nhiệm vụ quân sự vừa sống giữa tiếng máy và mùi thuốc nổ, giữa đá núi và những khối bê tông đang từng ngày mọc lên. Có lẽ vì thế mà trong ký ức của anh, người công nhân năm mười bảy tuổi và người lính năm mười chín, hai con người ấy không bao giờ tách rời nhau.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, anh trở về Sa Pa và vẫn sống ở nơi mình đã sinh ra, ngôi nhà số 30 Cầu Mây, phường Sa Pa. Nhiều năm sau, có lần anh đưa vợ trở lại công trường cũ. Đứng trước những công trình ngày xưa, nhìn những khối bê tông mà tuổi trẻ của mình từng góp một phần công sức để tạo dựng, anh có lẽ chỉ muốn nói với vợ một câu rất giản dị: “Ngày trước anh đã từng làm việc ở đây, từng khoan đá, nổ mìn, đào hầm, đổ bê tông ở chính nơi này.” Anh muốn chỉ cho người bên cạnh thấy một phần tuổi trẻ của mình đã nằm lại ở đâu.
Nhưng rồi anh không nói.
Bởi khi anh nhắc đến chuyện trở lại nơi ấy, vợ anh chỉ nghĩ đó là nơi ở cũ của chồng ngày trước, còn với anh, nơi ấy đâu chỉ là một chỗ ở tạm hay một công trường từng đi qua. Đó là nơi một cậu trai Sa Pa rời quê khi mới mười bảy tuổi, nơi anh bắt đầu biết thế nào là lao động, là đá núi, là tiếng mìn nổ giữa đại ngàn, rồi cũng chính từ những công trường ấy anh bước vào đời lính, mang theo những năm tháng tuổi trẻ của mình.
Anh từng tâm sự với đồng đội rằng anh nhớ mãi một câu tiễn người công nhân lên đường nhập ngũ: “Công trình thế kỷ tiễn anh đi gìn giữ non sông, có quản gì, mai tới Sông Đà bừng ánh điện, rạng rỡ tuổi xuân, những ước mơ...” Có lẽ câu hát ấy đã ở lại trong anh lâu hơn anh tưởng, bởi mấy chục năm sau, khi trở lại công trường, đứng từ xa nhìn những công trình từng gắn với tuổi trẻ, anh vẫn thấy mình như đang đứng giữa hai thời điểm của cuộc đời, một bên là chàng trai Sa Pa mười chín tuổi, một bên là người lính đã đi qua bao nhiêu năm tháng.
Anh bảo, bây giờ nếu muốn vào tận nơi để nhìn lại thì có khi phải có tiền, không thì đứng từ xa mà nhìn, vậy nên anh chẳng bao giờ dám nói với vợ rằng mình muốn “về thăm chiến trường xưa”, bởi với vợ, đó chỉ là nơi anh từng ở, từng làm việc; còn với anh, đó là một phần đời đã mất đi rồi không thể tìm lại được nữa.
Nghĩ cũng buồn thật, đồng đội nhỉ.
Có những nơi người khác chỉ nhìn thấy một công trường, một khối bê tông, một con đường hay một quả núi đã bị khoét sâu, nhưng với một người từng sống ở đó, mỗi mảng đá, mỗi vệt bê tông, mỗi tiếng máy vọng ra từ lòng núi đều có thể gọi dậy cả một thời tuổi trẻ. Người ta có thể xây dựng lại một công trình, có thể mở thêm một con đường, có thể làm cho những ngọn núi đổi khác, nhưng chẳng ai xây dựng lại được tuổi hai mươi của một con người.
Và có lẽ điều khiến anh Hải day dứt nhất không phải là mình không được bước vào công trường năm xưa, mà là người đứng bên cạnh mình lúc ấy không thể nhìn thấy nơi đó giống như mình đã từng nhìn thấy.
Bởi với anh, Sông Đà không chỉ là nơi đã từng ở.
Đó là nơi tuổi trẻ của anh đã đi qua.
Tác giả: Kỹ sư Nguyễn Minh Quang
Ban Tham mưu E 14, F 565 - Binh đoàn 12