Giới thiệu bài thơ “Người lính và hai Sư đoàn” của tác giả Phạm Quang Giáp
Giới thiệu bài thơ “Người lính và hai Sư đoàn” của tác giả Phạm Quang Giáp
Đại đội 1, Tiểu đoàn 147, Binh trạm 47 là đơn vị vận tải đường sông, cuối năm 1971 đơn vịnày thuộc Bộ Tư lệnh khu vực 471 (Sư đoàn 471 sau này), tháng 1 năm 1973 đơn vịthuộc Phòng Tham mưu Vận chuyển Sư đoàn 471 rồi sau đó - tháng 7 năm 1973 đơn vịnày chuyển về Tiểu đoàn 18 Giao liên thuộc Trung đoàn 574, Sư đoàn 472… Phạm Quang Giáp đến từ miền đất Tổ Hùng Vương từng là chiến sỹ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 147, Binh trạm 47, Sư đoàn 471 và anh luôn tự hào để nói rằng - anh từng là người lính của 2 Sư đoàn…
Nắm bắt được thông tin Hội Trường Sơn Sư đoàn 471 chuẩn bịtổ chức Lễ Khánh thành bia Di tích Sở chỉhuy Sư đoàn và Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Sư đoàn 471 anh hùng tại Bến Giằng - Phạm Quang Giáp hồ hởi chờ đón ngày vui ấy… Tuy nhiên vì một lý do đặc biệt nên ý nguyện của anh không thành… Mặc dù vậy nhưng Ký ức một thời cùng đơn vị, cùng đồng đội nơi Đại ngàn Trường Sơn khói lửa vẫn hiển hiện ùa về và rồi Phạm Quang Giáp đã lục tìm trong ký ức gửi tặng đồng đội của anh vần thơ căng tràn sức sống và hơi thở ngày nào…
Thay cho tác giả- Xin được trân trọng giới thiệu cùng các đồng chí, đồng đội và các bạn dòng ký ức “căng tràn sức sống và hơi thở Trường Sơn” của Phạm Quang Giáp.
Phạm Sinh (Hội Trường Sơn Sư đoàn 471)

NGƯỜI LÍNH VÀ HAI SƯ ĐOÀN
(Kính tặng cán bộ, chiến sĩ C1 (*) vận tải đường sông
nhân kỉ niệm 55 năm, ngày thành lập Sư đoàn 471 anh hùng)
Tháng Bảy về...
Nửa thế kỷ khai sinh
Sư đoàn mình
Dấu chân xưa nẻo vắng
Chiều Keng sai, mây nghiêng chiều giọt nắng
Vẽ dọc ngang, vời vợi những cung đường.
Mùa mưa về đường tắc, dốc lầy trơn
Con nước lớn, sốt rét rừng, đói lả
Muối gạo hết, xám xịt trời xối xả
Lũ dâng đầy, ghềnh đá sóng trượt xô.
Như còn đây túp lều cỏ, lán kho
Cửa sông giấu Ca nô, thuyền C1
972 (1) giấu xe men rừng Khộp
Nồi canh chua, xì xụp, dốc tâm tình...
Giờ này chừng bên ấy điện lung linh
Má hây tròn, tươi xinh em gái Bản
Ngăn ngắt xanh, Bô lô Ven bầu bạn
“Mười sáu” (2) đàn nghiêng ngả điệu Lăm vông...
Bao năm rồi nhớ bến, nhớ thuyền không
Vượt thác, nhớ lạch luồng, con sóng đổ
Bốn bảy mốt ngày đầu muôn gian khó
Xê công dò tìm Xê sụ, Stung Treng...
Chiều...
tàu càng (3) lơ láo đảo, ngó nghiêng
Đêm, cắc bùng (4) xé thân cây, mắc lỡm
Đạn chớp lóe, cứ tưởng rằng ghê gớm
Nơi cuối dòng, hàng Z (5) sớm giao xong.
Như còn đây người lính trẻ đường sông
Lướt thủy xa chở hàng ra chiến trận
Giòn tiếng máy triền sông xa bất tận
Hoà mây ngàn, sóng nước biếc trời xanh.
Dòng sông nào ghi tên chiến công anh
Năm canh thức, ngược xuôi dòng thác Bạc
Thuốc, gạo, xăng- theo đêm dài đánh giặc
Bồng bềnh trôi (6) trầm mặc buổi Hôm Mai.
Ngày ra quân, màu áo Bốn bảy hai
Bốn bảy mốt chưa phai nhòa năm tháng
Chung dòng Bạc, con ngầm, bao đêm trắng
Chung hai mùa mưa nắng nhớ thương nhau.
Trường Sơn Tây, người phía trước, kẻ sau
Nhịp cầu nối, mùa bão giông năm ấy
Mùa khô gọi, muôn ngả đường thức dậy
Ùa trong mây, hàng vươn tới muôn nơi.
Bao năm đừng quên nhé, ngày Hai mươi
Về bên nôi, cội nguồn đang bừng sáng
Bên này Bạc, mơ Phù Trường đầy nắng
Kia Mường Phìn, ngời chiến thắng Bản Đông.
Năm lăm năm, còn mãi những dòng sông
Cuồn cuộn sóng vỗ đôi bờ kí ức
Nỗi nhớ...
đầy vơi..., trở trăn..., thao thức...
Khúc trầm hùng rực lửa lính đường sông./.
Phạm Quang Giáp
Nguyên chiến sĩ C1 (1972-1974)
---------------------
(*) C1 thuộc D147, Binh trạm 47, F471 (cuối 1971); tháng 1/1973 trực thuộc Phòng Tham mưu Vận chuyển F471. Tháng 7/1973 chuyển về D18 giao liên, E574, F472.
(1) D972, vận tải ô tô.
(2) Đường 16B có đoạn dài chạy sát sông Xê công (sông Bạc)
(3) Máy bay trinh sát OV 10
(4) Cách nói vui của lính Trường Sơn về tiếng nổ của đạn 40 li do máy bay AC 130 bắn.
(5) Loại hàng quân sự đặc biệt
(6) Phương thức thời kỳ sơ khai của vận tải đường sông.