Đọc "Biển quê hương" của Nguyễn Thị Vân Ngà
Có những bài thơ chinh phục người đọc bằng sự kỳ vĩ của hình tượng, có những bài thơ gây ấn tượng bởi những phát hiện nghệ thuật táo bạo. Nhưng cũng có những bài thơ không chủ ý tạo nên sự choáng ngợp mà lặng lẽ đi vào lòng người bằng chính vẻ đẹp bình dị của cuộc sống. "Biển quê hương" của Nguyễn Thị Vân Ngà thuộc về mạch thơ ấy.
Điều đáng quý là bài thơ không chỉ khơi dậy tình yêu biển, yêu quê hương mà còn cho thấy một quan niệm sống giàu tính nhân văn: mọi hành trình của con người, dù rộng dài đến đâu, cuối cùng vẫn hướng về nơi mình thuộc về. Ngay từ hai câu mở đầu:
"Rồi thì cũng bến bờ thôi
Bao la thì vẫn cần nơi trở về..."
Tác giả đã tạo được một tứ thơ đẹp. "Bến bờ" không còn là một khái niệm địa lý mà đã trở thành biểu tượng của cội nguồn, của sự bình yên và điểm tựa tinh thần. Chỉ với hai câu thơ ngắn, bài thơ đã vượt khỏi giới hạn của một bài viết về biển để chạm đến chiều sâu của triết lý nhân sinh. Chính từ điểm tựa ấy, toàn bộ thế giới nghệ thuật phía sau được mở ra một cách tự nhiên.
Điều đáng nói là Nguyễn Thị Vân Ngà không lựa chọn những hình ảnh lớn lao, hùng tráng để khắc họa biển. Biển hiện lên qua những gì gần gũi nhất: con sóng đập chân đê, cỏ xanh, đàn còng gió, sân muối trắng, chợ cá, thuyền cập bến... Đó là những chi tiết tưởng nhỏ nhưng lại có sức gợi rất lớn, bởi chúng mang trong mình ký ức văn hóa của một vùng quê ven biển. Đặc biệt, hình ảnh "Một đàn còng gió cần cù đào hang" là một phát hiện nghệ thuật rất tinh tế, mang tính ẩn dụ khá độc đáo. Chỉ một nét chấm phá nhỏ đã làm hiện lên nhịp sống lao động bền bỉ, cần mẫn của thiên nhiên, đồng thời cũng là ẩn dụ về phẩm chất của con người miền biển.
Nếu phần đầu nghiêng về vẻ đẹp của đời sống thì phần sau của bài thơ mở rộng sang chiều kích lịch sử và ý thức dân tộc:
"Trăm hòn đảo giữa đại dương
Là cha ông đặt độ đường mai sau..."
Ở đây, nhà thơ không diễn đạt theo lối tuyên ngôn mà bằng giọng kể thủ thỉ, khiến tư tưởng thấm vào cảm xúc. "Đặt độ đường" là một cách dùng từ rất có hồn. Nó gợi lên cả quá trình cha ông mở cõi, xác lập chủ quyền và gửi gắm trách nhiệm cho các thế hệ mai sau. Từ đó, câu thơ:
"Người về có bạc mái đầu
Cũng vì giữ trọn một màu biển xanh."
Không chỉ nói về sự hy sinh mà còn nâng "màu biển xanh" thành biểu tượng của chủ quyền, của hòa bình và của tương lai đất nước. Tư tưởng yêu nước trong bài thơ vì thế không hô hào mà lắng sâu, không lên gân mà vẫn lay động.
Song, giá trị nổi bật hơn cả của "Biển quê hương" lại nằm ở nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Nguyễn Thị Vân Ngà gần như không dùng một chữ cầu kỳ. Toàn bộ bài thơ được dệt bằng lớp từ thuần Việt, giàu sắc thái khẩu ngữ và đậm hơi thở đời sống. Những từ như "ăm ắp", "giòn tan", "cập bến", "còng gió", "sân muối", "chân đê", "mặn mòi"... đều là những từ ngữ mang tính tạo hình cao.
Chúng không chỉ gợi hình mà còn gợi được âm thanh, màu sắc, nhịp điệu và cả vị mặn của biển. Đó là thứ ngôn ngữ được chắt lọc từ chính đời sống chứ không phải từ kỹ thuật tu từ.
Đặc biệt, bài thơ có nhiều câu mang tính khái quát mà vẫn rất giàu chất thơ:
"Mênh mông là chuyện đất trời
Ấm êm là biển của người quê ta."
Đây là một câu thơ đẹp bởi cấu trúc đối lập đầy tính nghệ thuật. "Mênh mông" là kích thước của thiên nhiên, còn "ấm êm" là kích thước của lòng người. Chỉ bằng hai vế đối xứng, tác giả đã chuyển biển từ một không gian địa lý thành một không gian văn hóa, nơi con người tìm thấy sự chở che và căn cước của mình. Điệp khúc ấy được lặp lại nhiều lần, tạo nên điểm tựa cảm xúc xuyên suốt tác phẩm và cũng tạo nên nhạc tính tự nhiên cho toàn bài.
Có thể nói, "Biển quê hương" là một bài thơ được viết bằng cảm xúc chân thành nhưng được nâng lên bằng một ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức biểu đạt. Ngôn ngữ ở đây không phô diễn mà tiết chế; không cầu kỳ mà tinh luyện; không khoa trương mà giàu sức ngân vang. Chính sự giản dị ấy lại tạo nên vẻ đẹp bền lâu của thi phẩm.
Và cũng chính ở phương diện này, có thể khẳng định rằng ngôn ngữ đã thực sự cất cánh cho bài thơ. Từng câu thơ mang sẵn nhịp điệu, từng hình ảnh như đã ẩn chứa giai điệu trong lòng chữ. Bởi thế, khi được phổ nhạc, bài thơ không cần gượng ép mà tự nhiên hóa thành ca từ. Âm nhạc chỉ tiếp tục con đường mà ngôn ngữ thơ đã mở ra. Đó là dấu hiệu của một thi phẩm có phẩm chất ca khúc – nơi lời thơ và giai điệu tìm thấy nhau trong cùng một mạch cảm xúc. Và cũng bởi vậy, "Biển quê hương" không chỉ là một bài thơ hay về biển mà còn là một tiếng hát về quê hương, về cội nguồn và về tình yêu Tổ quốc có sức lan tỏa lâu bền trong lòng người đọc, người nghe. Rất tiếc rằng, với khả năng còn có hạn, tôi không thể làm cho bài thơ cất cánh hay hơn, đẹp hơn như những gì tôi mong muốn.
Tác giả: Đại tá. Nguyễn Quang Bính
BIỂN QUÊ HƯƠNG
Rồi thì cũng bến bờ thôi
Bao la thì vẫn cần nơi trở về
Giận hờn sóng đập chân đê
Cỏ xanh vẫn đủ vỗ về lãng du
Sớm mai biển sẽ hiền từ
Một đàn còng gió cần cù đào hang
Trắng phau sân muối vừa chang
Mặn mòi tình biển đã ngàn năm trôi
Chợ làng ăm ắp cá tươi
Thuyền vừa cập bến, tiếng cười giòn tan
Em chào, bán cái gian nan
Để mua no ấm bình an cho đời
Mênh mông là chuyện đất trời
Ấm êm là biển của người quê ta
Trùng trùng sóng gợn ngoài xa
Ngút tầm con mắt vẫn là quê hương
Trăm hòn đảo giữa đại dương
Là cha ông đặt độ đường mai sau
Người về có bạc mái đầu
Cũng vì giữ trọn một màu biển xanh.
Sầm Sơn biển nhớ
Nguyễn Thị Vân Ngà
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn