Kí ức của người lính tình nguyên

Ngày đăng: 12:23 07/04/2026 Lượt xem: 31
KÍ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN
 
       Sau 50 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng, CCB Nông Chiến Thuật quê xã Minh Xuân, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái  nay  là xã Lục Yên , tỉnh Lào Cai kể lại cho chúng tôi nghe về những năm tháng tham gia chiến đấu trên đất nước bạn Lào anh em. Đối với ông và đồng đội là kí ức không thể nào quên.


CCB Nông Chiến Thuật 
 
 
       “Đó là mùa xuân, tháng 2 năm 1969, ba chúng tôi cùng xã nhập ngũ cùng ngày (tôi, Nguyễn Quang Thịnh Hà Văn Lận). Sau thời gian huấn luyện tại Thái Nguyên đến tháng 11/1969, chúng tôi đi tàu đến Vinh, hành quân tới Khe Bố- Con Cuông- Nghệ An. An dưỡng 15 ngày để chuẩn bị sang nước bạn Lào đánh Mỹ. Tôi được biên chế vào Tiểu đoàn 7, Trung đoàn đoàn 866, Sư đoàn 31.
 
       Đầu tháng 12/1969, có đơn vị ở Lào sang nhận quân, chúng tôi hành quân qua Nặm Cắn – Nghệ An, Mường Xén, Bản Son đến Noọng Hét của Lào. Lúc đó, mới biết Cánh Đồng Chum rộng mênh mông, cứ thế hành quân tới Xiêng Khoảng. Thời điểm này cực kỳ khó khăn, nguy hiểm. Bọn phỉ Vàng Pao nống ra vùng giải phóng bắt dân vào đó. Chúng xây dựng như Ấp chiến lược ở miền Nam nước ta lúc bấy giờ hòng ngăn chặn sự hỗ trợ của nhân dân”.
 
      Và cứ thế cuộc chiến đấu giữa bộ đội Pa Thét Lào, bộ đội Việt Nam với phỉ Vàng Pao và đế quốc Mỹ diễn ra trong thời gian khá dài. Cái tên Bản Ban, Phu Tôn, Phu Pha Xay, Phu Pha Xạ, Phu Tâng… quá quen thuộc với bộ đội ta.
  
      Ông nhớ lại: “Bộ đội tình nguyện Việt Nam có nhiệm vụ giúp bộ đội Lào bảo vệ nhân dân, giữ đất. Có rất những trận đánh diễn ra ác liệt. Đó là mùa mưa năm 1972, đơn vị của tôi đi lấy gạo, đến lúc quay về, quan sát trên đỉnh đồi thấy quân Vàng Pao đang hành quân gần sông Nậm Ngừm. Con Sông rất rộng, nước chảy xiết.  Đồng chí Bùi Thanh Điếm, Tiểu đoàn phó (quê Hòa Bình) ra lệnh cho bộ đội ta đánh chặn, dồn chúng xuống suối, tiêu diệt mấy chục tên. Trận đánh bất ngờ, không có trong kế hoạch tác chiến nhưng thắng lợi giòn giã.
 
      Cuối tháng 12/1972, trận chiến ở sân bay dã chiến Pa Khảo (Xiêng Khoảng). Một nửa quân số Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 866 được lệnh hành quân chiến đấu. Trinh sát đã đi thăm dò trước đó 1 tháng, đường đi khá xa, gian nan, vất vả. Chúng tôi nhận lệnh giờ G nổ súng phá sân bay Pa Khảo do đồng chí Phạm Bạt – Trung đoàn phó trực tiếp chỉ huy. Khi cách sân bay 700 mét phát hiện đèn 4 góc sáng trưng, đồng chí Phạm Bạt, đồng chí Bùi Thanh Điếm lập Sở chỉ huy ra lệnh xuất phát. Hai trung đội gồm các pháo thủ B40, B41 sẵn sàng, từ từ tiến đến mục tiêu. Theo lệnh, giờ G phải nổ súng nhưng đợi mãi không thấy tiếng súng. Tới gần sáng, súng đồng loạt nổ. Những âm thanh chói tai, đã 5 h sáng nhưng chưa thấy ai rút ra, 3 đèn pha vẫn sáng trưng. Đồng chí Điếm định đưa trung đội của đồng chí Nguyễn Tiến Nguyệt vào hỗ trợ nhưng trời sáng, quân giặc huy động rất nhiều máy bay ném bom, thả quân tiếp viện. Ta và địch giằng co nhau ròng rã một ngày. Phía địch thương vong nhiều, 2 trung đội phía ta hy sinh gần hết. Đơn vị ở phía bên ngoài rút dần ra các hốc đá. Khi địch cách ta chỉ khoảng 20 m, đồng chí Điếm ra lệnh không được nổ súng khi địch chưa phát hiện chính xác vị trí quân ta. Trên không máy bay T28, AD6 quần thảo. Chúng tôi thận trọng rút qua các mỏm đá. Đến 10 h đêm rút hết ra ngoài.
     Nhìn sân bay Pa Khảo, nhìn nơi đồng đội đã hy sinh, tất cả đều rưng rưng. Chiến thắng và hòa bình đều phải đánh đổi bằng xương máu.
 
      Đầu năm 1973, Hiệp định Pa ri được kí kết, Mỹ rút quân về nước nhưng chiến sự vẫn còn. Chúng tôi tiếp tục chiến đấu với bọn phỉ Vàng Pao ở các điểm cao để giữ đất, giữ dân vùng giải phóng. Đúng vào ngày sinh nhật Bác năm đó, tôi được kết nạp vào Đảng. Tối ngày 19/5/1973, trên đất bạn Lào, Bí thư chi bộ Tiểu đoàn bộ, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn đoàn 866, Sư đoàn 31, đồng chí Hoàng Công Phượng (Tiểu đoàn phó, Bí thư Chi bộ Tiểu đoàn bộ, Tiểu đoàn 7) trao quyết định kết nạp Đảng cho tôi. Đó là giây phút vinh dự nhất trong cuộc đời cầm súng chiến đấu, tôi hứa hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng giao phó.
 
      30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, niềm vui hân hoan trên khắp chiến trường, chúng tôi hò reo sung sướng. Nhưng đơn vị vẫn ở lại giúp nước bạn ổn định lại sau chiến tranh. Năm 1976, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ và trở về nước. Nhìn lại nước bạn một lần nữa mà lòng xúc động, chia tay mà lưu luyến. Sự gắn bó keo sơn, những trận hiệp đồng tác chiến giữa bộ đội ta và bộ đội Pa Thét Lào đã đi vào lịch sử truyền thống của hai nước”.
 
      Giọng ông xúc động nghẹn lại vì ba người cùng nhập ngũ nhưng người bạn cùng Nguyễn Quang Thịnh và Hà Văn Lận và bao nhiêu đồng chí khác đã hy sinh trên nước bạn.
     Năm 1984, ông vinh dự được nhà nước ta tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và các phần thưởng cao quý khác. Năm 2015, Chủ tịch nước CHDCND Lào tặng thưởng huân chương Tự do hạng nhất. Đó là phần thưởng cao quý của đất nước Triệu Voi dành cho cá nhân ông và bộ đội tình nguyện Việt Nam.

                                    Bài và ảnh: Thúy Hậu
                       CTV Trang tin điện tử Trường Sơn
                     và Bản tin Trường Sơn tại tỉnh Lào Cai

 

tin tức liên quan