Cuộc sống trong hang đá thời chống Mỹ của người dân Quảng Bình

Ngày đăng: 06:29 04/11/2018 Lượt xem: 97

Cuộc sống trong hang đá thời chống Mỹ
của người dân Quảng Bình

Thời chống Mỹ, hàng chục hang động ở Quảng Bình được sử dụng làm
công xưởng sản xuất, lớp học hay trạm xá…

Quảng Bình được đánh giá là khối đá vôi lớn nhất bán đảo Đông Dương, chủ yếu nằm vắt vẻo trên đỉnh Trường Sơn, giáp biên giới Việt - Lào. Vùng đất này cũng có lượng mưa lớn, đến 3.000 mm mỗi năm. Đây là hai điều kiện cần thiết để hình thành hang động, khiến Quảng Bình được mệnh danh là "vương quốc hang động", với khoảng 400 hang lớn nhỏ.

Những năm cuối cuộc chiến chống Mỹ, từ 1968 đến 1974, hàng trăm hang động ở Quảng Bình được sử dụng làm nơi trú ẩn của nhân dân và bộ đội, tránh các cuộc oanh tạc phá hoại của giặc Mỹ.

Bia đá đặt trước hang thông tin A72 ở xã Ngân Thuỷ. Ảnh: Hoàng Táo

Bia đá đặt trước hang thông tin A72 ở xã Ngân Thủy. Ảnh: Hoàng Táo

Ở phía nam tỉnh Quảng Bình, xã miền núi Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy có đập thủy lợi Cẩm Ly, cấp nước cho hai huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh. Chính vì thế xã Ngân Thủy trở thành trọng điểm đánh phá, ngăn cản công cuộc sản xuất lương thực tiếp tế cho miền Nam.

Để tiếp tục sản xuất và chiến đấu, nhân dân, bộ đội phải trú trong các hang động. Ở thôn Khe Sung, xã Ngân Thủy, bây giờ có ba hang lớn gần nhau được bộ đội sử dụng, gồm các hang Đại tướng, thông tin A72 và hang Văn công. Trong đó, hang Đại tướng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp dừng chân, dùng làm sở chỉ huy cho các chiến dịch ở Bình Trị Thiên.

Hang Văn công có sức chứa lên đến cả nghìn người, xây thành nhiều bậc lớn làm sàn diễn văn nghệ. Hang thông tin A72 được bộ đội thông tin đóng quân, là trung tâm thông tin huyết mạch trên “Đường dây thống nhất”.

Cách khu này khoảng 20 km là hang quân khí, quân nhu, hang dành cho học sinh dân tộc nội trú, hang cửa hàng...

Công xưởng dưới lòng hang 

Đi ngược về phía Bắc qua các huyện Quảng Ninh, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, địa phương nào cũng có nhiều hang động được trưng dụng trong kháng chiến. Nhiều hang trở thành công xưởng sản xuất cồn rượu, giấy, diêm, xà phòng, đường, nước tương... với hàng nghìn công nhân, máy móc hoạt động rầm rộ. Điển hình như hang Cơ khí 32 ở huyện Quảng Ninh, hang sản xuất cồn rượu, xà phòng ở Bố Trạch, diêm ở Tuyên Hóa.

Hang Xưởng rượu tại thôn Trằm Mé (xã Sơn Trạch, Bố Trạch) vẫn còn dấu tích về một thời sản xuất tích cực, với câu khẩu hiệu trên thành hang: “Tinh thần mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt”. Hang hình chữ T, trong đó cánh bên trái dài hơn, với ba cửa. Cửa chính khá rộng và cao, đi sâu vào khoảng 30 mét là ngã ba chữ T rẽ sang hai bên.

Cửa vào hang Xưởng Rượu khá to và rộng. Ảnh: Hoàng Táo

Cửa vào hang Xưởng rượu khá to và rộng. Ảnh: Hoàng Táo

Xưởng rượu tên đầy đủ là Xí nghiệp rượu Bồng Lai, được thành lập và hoạt động ở TP Đồng Hới. Khi giặc Mỹ đánh phá, xưởng rượu được chuyển ra khu vực Đại Trạch (huyện Bố Trạch), cách thành phố khoảng 20 km. Đến năm 1965, chiến tranh ác liệt, xưởng rượu di dời lên vùng núi phía tây, chọn hang đá làm nơi trú ẩn và sản xuất.

Bấy giờ, hang Vượn ở thôn Trằm Mé (xã Sơn Trạch) được lựa chọn vì nằm ở khu vực rừng rú, xung quanh bằng phẳng lại gần sông Chày để vận chuyển sản phẩm cũng như lấy nước sản xuất. Để xây dựng nhà máy, các nhân công phải nổ mìn phá đá, mở rộng cửa hang.

Thời điểm xưởng rượu chuyển lên hang đá, bà Hà Thị Liệu (73 tuổi, trú xã Vạn Trạch, Bố Trạch) là thanh niên xung phong được tuyển lên làm công nhân. Trong hang được bố trí theo dây chuyền, từ nấu cơm, ủ men cho đến chưng cất. Bà Liệu kể đường kính thùng ủ từ 4 đến 4,5 mét, cao 6 mét, được đặt thành dãy liên tiếp 5 thùng. Nồi nấu thì nhỏ hơn để đảm bảo chịu được áp suất. 

“Hết công đoạn ủ thì nguyên liệu được máy bơm sang nồi nấu”, bà Liệu nhớ lại. Để lấy nước cho sản xuất, các công nhân đặt máy bơm rồi lắp đường ống nối từ sông Chày vào bể nước xây trong hang.

Câu khẩu hiệu trên vách đá trong hang Xưởng Rượu. Ảnh: Hoàng Táo

Câu khẩu hiệu trên vách đá trong hang Xưởng rượu. Ảnh: Hoàng Táo

Cùng là công nhân trong hang, ông Hoàng Đình Hoán (79 tuổi) nhẩm tính lúc cao điểm có 120 công nhân, cộng với cán bộ, kỹ thuật là 180 người. Xưởng còn có một tổ kỹ thuật từ Hà Nội vào hướng dẫn mọi người sản xuất.

Việc vận chuyển gạo, than đá cũng như cồn thành phẩm đều thực hiện bằng thuyền trên sông Chày và Son. Khi bị đánh phá mạnh, không chở được than thì công nhân lên rừng chặt củi về đốt. Cồn thành phẩm đựng trong can nhựa, phi sứ rồi chở về cảng Gianh. Lúc cao điểm, công nhân trải bao nhựa trong thuyền rồi đổ cồn vào. Việc này còn nhằm tránh bom từ trường dày đặc trên sông.

Ông Hoán kể thời đó ai cũng hừng hực khí thế sản xuất và chiến đấu. Từ 1967 đến 1973, xí nghiệp rượu có 18 người hy sinh. "Chủ yếu hy sinh trong lúc vận chuyển qua hai tuyến lửa phà A và B trên sông Son. Chứ bom đạn dù sức công phá có lớn đến mấy cũng thua sự kiên cố của hang đá”, ông Hoán nói. 

Cạnh hang Xưởng rượu còn có hang Xà phòng, là nơi sản xuất xà phòng, đặt tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch (Bố Trạch). 

Hoà bình lập lại, các công xưởng dần rút khỏi hang đá, đưa máy móc về đồng bằng để tiện sản xuất. Các hang động bị bỏ hoang từ đó. Đến giai đoạn đổi mới, người dân vì sinh kế mà tràn vào hang động, đập phá lấy thiết bị, máy móc, sắt vụn bán. Nhiều hang động bị tàn phá không thương tiếc, nay chỉ còn duy nhất câu khẩu hiệu, hoặc trụ bê tông bị cưa sát nền nhà, trơ lên bốn thanh sắt.

Hoàng Táo
PS st theo VnExpress

tin tức liên quan