Nhớ những người anh hùng quê nhà thời dựng nước - Hồi ký: Nguyễn Công Định

Ngày đăng: 05:39 04/01/2026 Lượt xem: 53
NHỚ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG QUÊ NHÀ THỜI DỰNG NƯỚC
                                                                                                               Kỷ niệm về ngày 6/1/1946
 
      Bốn tháng sau Ngày Độc Lập Mùng Hai Tháng Chín, trong gió heo may tiếng trống ếch vang vang rộn ràng khắp thôn làng, tiếng trống dồn theo nhịp bước quân đi. Miền quê này trước đây chỉ có trống chầu lớn đánh lên nghe như sấm dậy, còn những ngày này Đoàn Thanh niên Cứu quốc đem mấy chục chiếc trống tròn có quai đeo kèm theo hai dùi ngắn từ tỉnh lỵ Quảng ngãi về, phát cho Đội Thiếu niên. Măc gió lạnh đội quân quần sooc, áo sơ mi, đầu đội mũ ca lô tất cả màu trắng, tập họp trong sân đình làng An Thổ đứng theo hàng, đánh trống ếch, hô khẩu hiệu:
      Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!
      Hồ Chí Minh muôn năm!
      Toàn dân tham gia bầu cử quốc hội!
      Trống nhịp đánh rầm rầm. Loa thiếc vang xa:
      Hởi toàn thể nhân dân, những người đủ mười tám tuổi trở lên đều phải tham gia bầu cử Quốc hội. Danh sách ứng cử đại biểu sau đây: Phạm Văn Đồng, Phạm Quang Lược, Nguyễn Trí, Đinh May.
      Trống ếch theo nhịp vang lên. Đoàn Thiếu niên tuyên truyền nhịp nhàng bước đi theo đường cái quan vào trong làng, dừng lại hô vang:
         “Phạm Văn Đồng, Phạm Quang Lược, Nguyễn Trí, Đinh May”
          “Phạm văn Đồng, Phạm Quang Lược, Nguyễn Trí, Đinh May”
       Trời rét, xóm làng âm u, nhưng đoàn thiếu niến đi đến đâu như những cánh chim trắng bừng sáng, tiếng trống ếch rầm rập, rộn ràng thức tỉnh cả vùng quê. Dọc đường làng tại các ngã ba ngã tư hàng loạt tấm nong tròn được sơn trắng viết khẩu hiệu có bốn ứng cử viên đại biểu Quốc hội. Chợ An Thổ họp cận đình làng ngay cổng vào khẩu hiệu dài gắn trên khung cao, viết trên tấm buồm lá buông chữ đỏ: “TOÀN DÂN HĂNG HÁI THỰC HIỆN QUYỀN CÔNG DÂN THAM GIA BẦU CỬ QUỐC HỘI”.
        Hàng hàng những chiếc nong sơn trắng chữ đỏ viết các khẩu hiệu và tên bốn ứng cử viên dựng khắp nơi. Đội Thanh niên tình nguyện ăn mặc đẹp từng nhóm ba người tay cầm sổ, đi từng nhà gặp các cụ già tuyên truyền về Ngày bầu cử Quốc hội và giới thiệu lý lịch từng ứng cử viên.
        Bác Cả Nhượng là người đổ đạt cao nhất vùng, nói: “Ban Tuyên truyền bên cạnh chữ quốc ngữ nên viết thêm chữ nho để các bậc huynh trưởng không giỏi chữ quốc ngữ đọc được tên các ứng cử viên”. Thế là mượn tiếp các nong tre của dân, sơn trắng, mời các bậc cao niên biết chữ nho viết nháp sau đó cùng nhau họa lại.
       Gió bắc thổi từng cơn, hàng tre trong xóm nghiêng theo gió rét nhưng không khí xóm làng nóng hừng hực, già trẻ gắng học thuộc tên các ứng cử viên vì ngoài một số thanh niên, mấy ai biết chữ. Bà con còn hỏi căn cơ gia cảnh, giềng mối hoạt động cách mạng từng người.
         Đội trưởng tuyên truyền đã có sẵn sổ dày bìa da bò đỏ chót. Mở sổ, e hèm mấy tiếng, nói: “Dạ thưa, tỉnh Quảng Ngãi mình được trên phân cho 8 đại biểu, chia hai khu vực. Phía ngoài gồm năm huyện: Bình Sơn. Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Trà Bồng, Sơn Hà và thị xã được bầu bốn vị. Phía trong gồm năm huyện: Nghĩa Hành, Minh Long, Ba Tơ, Mộ Đức, Đức Phổ được bầu bốn vị”.
         Lại trình bày tiếp: “Khu vực bầu cử của ta có bốn đại biểu ứng cử.
       Thứ nhứt, đó là ông Phạm Văn Đồng sinh năm 1906 tại làng Thi Phổ, huyện Mộ Đức. Ông học trường quốc học Huế, sau ra Hà Nội học và tham gia cách mạng chống ách cai trị của đế quốc Pháp, sang Quảng Châu Trung Quốc được cụ Hồ Chí Minh huấn luyện, về nước hoạt động cách mạng bị chính quyền Pháp bắt bỏ tù bảy năm ngoài Côn Đảo. Ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng, đón cụ Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ Cao Bắc Lạng, chiến khu Tân Trào, tham gia khởi nghĩa lập chính quyền ở Hà Nội.
        Thứ hai, cụ Phạm Quang Lược là thầy thuốc nổi tiếng, quê huyện Tư Nghĩa nhân sĩ hoạt động cách mạng nhiều năm, với danh nghĩa khám bệnh, bốc thuốc thầy đi lại chắp nối phong trào cách mạng khắp các tỉnh Trung Kỳ.
         Thư ba, ông Nguyễn Trí sinh năm 1909 tại quê làng An Thạch, năm15 tuổi vào nam tham gia cách mạng ở Vĩnh Long và các tỉnh Nam Bộ, năm 1930 bị chính quyền Pháp bắt bỏ tù ở Côn Đảo nhiều lần, năm 1936 ra tù đưa về Quảng Ngãi, tiếp tục hoạt động cách mạng, năm 1939 lại bị mật thám Pháp bắt, sau đó đưa về an trí ở Ba Tơ. Ông cùng các chiến sĩ “căng” Ba Tơ khởi nghĩa giành chính quyền ở Ba Tơ, tiến tới khởi nghĩa Minh Long và toàn tỉnh Quảng Ngãi.
        Thứ tư, ông Đinh May sinh năm…tại Ba Tơ, dân tộc Re tham gia hoạt động cách mạng từ nhỏ, lãnh đạo nhân dân miền thượng chống Pháp, sau khởi nghĩa Ba Tơ là người lập làng giải phóng trên núi Cao Muôn.
        Bốn ông ứng cử vào Quốc hội nước nhà sao mà anh hùng thế! Xứng đáng bậc tài danh vì nước.
        Những buổi tối trước ngày bầu cử, đúng bảy giờ khi bà con xong việc đồng, việc xưởng ông Chủ tịch Mặt trận Việt Minh khu vực lại tổ chức mít ting ở sân đình An Thổ để giới thiệu đại biểu, giải thích cho nhân dân quyền lợi của công dân nước độc lập vừa thoát ách nô lệ, được tham gia bầu cử xây dựng chính quyền mới.
       Dân được gặp ông Nguyễn Trí người con của thôn làng, nhiều năm bôn ba cứu nước vào tù, vô khám đế quốc. Bà con được gặp ông Phạm Quang Lược vị thầy thuốc kính mến, một đời che mắt mật thám Pháp hoạt động cách mạng. Đội tuyên truyền đọc thư của ông Phạm Văn Đồng đang có việc trọng trong chính phủ lâm thời gửi về, kính mong nhân dân quê nhà hưởng ứng tích cực, tham gia Ngày bầu cử Quốc hội đầu tiên xây dựng chính quyền mới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Xóm làng sôi động, cờ đỏ sao vàng treo trước sân nhà, người người học thuộc lòng tên bốn vị ứng cử.
       Đoàn thiếu nhi quần tây, áo sơ mi, mũ ca lô trắng mang trống ếch đánh theo nhịp bước, hô to: “Toàn đân hãy tham gia bỏ phiếu: Phạm Văn Đồng, Phạm Quang Lược, Nguyễn Trí, Đinh May”.
       Ông Chủ tịch mặt trận Việt Minh bảo: “Dân ta một trăm người hết chín mươi lăm người mù chữ. Vậy phải học thuộc lòng tên các vị ứng cử để khi đến bầu nói cho đúng, sẽ có ban thư ký viết hộ”. Một trăm người chỉ năm người biết chữ nhưng tinh thần yêu nước xây dựng Quốc hội thì vô cùng hăng hái, khí phách ngút trời.
       Ngày sáu tháng giêng đã đến!
       Bao mong chờ!
       Sân đình An Thổ cờ đỏ, khẩu hiệu dăng dăng. Trời cũng chiều lòng người nắng lên vàng rượi, mái đình như tươi hơn, trên đỉnh cao lưỡng long chầu nguyệt sáng lung linh. Ở giữa sân, sát bậc lên đình là chiếc bàn cao phủ vải điều đỏ thắm có đỉnh đồng đốt hương trầm nghi ngút. Ông Chủ tịch Mặt trận Việt Minh mặc áo sơ mi trắng, quần tây vàng đứng khấn hương hồn các anh hùng tử sĩ phù hộ cho Ngày bầu cử thành công.
       Bên phải hơn hai mươi đoàn viên thanh niên Đội tuyên truyền mặc quần tây. áo sơ mi trắng đứng thành khối, hai tay cầm cờ đỏ sao vàng thẳng tắp. Bên phải hơn mười đội viên thiếu niên mặc quần sooc, áo sơ mi trắng mang trống ếch,
        Dưới sân, trên ba dãy ghế đẩu, các cụ thân sĩ, các vị cao niên khăn đóng, áo the dài, quần trắng ngồi ngay ngắn.
       Phía sau là bà con nông dân, dân chài, các cô thợ dệt mọi người đều mặc quần áo mới đứng chen nhau.
        Anh trưởng ban tuyên truyền cầm loa thiếc sáng bóng, hô: “Nghiêm, chào cờ”. Mọi người đứng nghiêm, cùng hát quốc ca.
       Bài Tiến quân ca mới ra đời chỉ các đoàn viên thanh niên và thiếu nhi học thuộc, hát to. Bài ca hùng tráng vang lên giữa sân đình dội vào chợ Mới, khắp vùng quê bên sông Thoa.
       Ông Chủ tịch Mặt trận tuyên bố giờ bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội bắt đầu và kính mời các thân sĩ vào trong đình thực hiện trước. Trong đình, dưới hương án là hòm phiếu bằng gỗ mới sơn đỏ, dán giấy vàng, in chữ đen, hàng trên đề: “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA”, hàng dưới đề: “HÒM PHIẾU BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA I ngày 6/1/1946”.
        Bên trái là dãy bàn kê sát nhau, bàn đầu đội viên ngồi kiểm tra tên người đi bầu, ghi trong quyển sổ lớn “Danh sách công dân”, tiếp theo là bàn đội viên phát phiếu đã in tên bốn vị ứng cử : “PHẠM VĂN ĐỒNG, PHẠM QUANG LƯỢC, NGUYỄN TRÍ, ĐINH MAY” kèm chữ Hán Việt, sau cùng bốn đội viên ngồi ngay ngắn, cầm bút chờ viết giúp.
        Công dân sẽ tuần tự bỏ phiếu vào hòm và đi đến bên phải ký tên vào sổ lớn: “Danh sách cử tri đã bỏ phiếu bầu”. In dấu vân tay ngón cái vào sổ và được phát một bìa giấy vàng có in hình cờ đỏ sao vàng. Đường ra là cửa tây của đình.
      Trống ếch theo nhịp vang vang. Mọi người vui vẻ theo nhau vào cửa đình nhận phiếu chọn đại biểu.
      Trăm năm mới có ngày này.
       Bầu cho người mình tín nhiệm, lo việc nước.
      Dòng người như con rắn dài làm thủ tục ồn ào, tranh nhau nói, nhắc nhau tên các đại biểu. Gian giữa đình là nơi uy nghiêm, trước đây chưa bao giờ phụ nữ, dân thường được bước vào, ngày này mở cho mọi công dân vào làm nghĩa vụ lớn nhất đời người đối với Tổ quốc.
       Cô thợ dệt tuổi mười tám, mặt tươi như hoa nhận phiếu bầu xong, bẻn lẻn nhờ anh thanh niên ngồi trong bàn viết giúp, đánh dấu tên của các vị ứng cử.
       “Người đẹp như thế mà không biết chữ. Về học Bình dân đi nghe!”.
        “Dạ! em đang đi học. Lần sau đi bầu sẽ không nhờ anh nữa”.
       Và đến ba mươi năm sau, qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến, bao xương máu đổ xuống, cô gái và những người dân miền Nam mới lại được cầm lá phiếu, bầu những đại biểu chân chính cho Quốc hội nước nhà thống nhất.
     Vậy đó, cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ở một miền quê tưng bừng, cùng cả nước khởi nguyên nền chính trị mới. Người dân hân hoan, kỳ vọng vào những đại biểu được bầu sẽ đem lại ĐỘC LẬP, TỰ DO, HẠNH PHÚC cho mình và các thế hệ mai sau.
       Tám ứng cử viên của tỉnh Quảng Ngãi do ông Phạm Văn Đồng đứng đầu trúng cử với số phiếu cao tuyệt đối.
      Ngày 8 tháng 1 năm 1946 đoàn tàu lửa đặc biệt đưa đoàn đại biểu Trung Bộ ra Thủ đô Hà Nội họp. Đoàn đi đến đâu. người người dân ở các nhà ga hai bên đường đón tiếp như ngày hội.
        Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ông Phạm Văn Đồng đại biểu của tỉnh Quảng Ngãi giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và ký tên lên bản vẽ tờ bạc đầu tiên của Ngân hàng Trung ương Việt Nam.
       Thực dân Pháp không từ bỏ âm mưu xâm chiếm Việt Nam, định bắt dân ta làm nô lệ một lần nữa. Nhân dân ta quyết chiến đấu cho nền độc lập vừa giành được. Để cứu vãn hòa bình Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu phái đoàn sang Pari thủ đô nước Pháp đàm phán, có ông Phạm Văn Đồng tháp tùng.
       Giặc Pháp quyết thôn tính nước ta. Ta thà hy sinh tất cả cho Độc Lập, Tự Do chứ không chịu làm nô lệ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946 toàn quốc kháng chiến. Nhân dân Việt Nam muôn người như một hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chi Minh quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, xông lên chiến đấu chống quân thù.
        Năm 1947 ông Phạm Văn Đồng được Chính phủ cử làm đại diện Trung ương chỉ đạo miền Trung. Người con ưu tú của quê hương ra đi từ tuổi thiếu niên nay trở về. Như cá gặp nước, nhân dân, các chiến sĩ miền Trung theo lệnh Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa muôn người như một đoàn kết chống quân thù, xây dựng vùng tự do bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú.
       Phía bắc ta gom giặc trong thành Thái Phiên-Đà Nẵng, phía nam ta lập phòng tuyến Tu Bông- đèo Cả vây giặc trong thành Nha Trang, phía tây ta giữ vững rừng núi Tây nguyên Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lắk.
       Lệnh xây dựng quân đội chính quy Vệ quốc đoàn trung đoàn 108, lại tuyển thanh niên xây dựng đại đội quân địa phương và dân quân du kích khắp các xã. Củng cố chính quyền nhân dân, thành lập các xã mới lấy tên đầu là tên đuôi các huyện. Phát triển kinh tế tự cấp, tự túc. Trong hai năm gạo đủ ăn, lương thực thực phẩm dồi dào. Quân mạnh, dân no.
         Đặc biệt theo lệnh của ông Phạm Văn Đồng trong vùng tự do Khu 5, thành lập các trường tiểu học khắp các xã, nhiều huyện có trường trung học. Thành lập Trường Trung học đặc biệt Lê Khiết đặt tại thôn An Ba, xã Hành Tín, huyện Nghĩa Hành cho học sinh giỏi ở 4 tỉnh Nam. Ngãi, Bình, Phú và Trường Trung học Bình Dân cho cán bộ chiến sĩ tại thôn Chợ Chùa bên cạnh nay là xã Định Cương. Có thầy giỏi mới có trò giỏi. Ông viết thư gửi cho các nhà giáo ở Trường Quốc học Huế kêu gọi các thầy vào vùng tự do dạy học, tham gia kháng chiến. Nhà giáo tiến sĩ hóa học duy nhất xứ Đông Dương Ngụy Như Kon Tum bỏ Huế vào làm hiệu trưởng Trường Lê Khiết, người sau này là hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhà giáo, toán học nổi tiếng Hoàng Tụy và các giáo sư, trí thức khác bỏ cuộc sống giàu sang đến Khu 5 tham gia kháng chiến, dạy học, làm văn nghệ. Phong trào văn hóa vùng tự do Liên khu 5 sôi nổi suốt chín năm kháng chiến.
       Giữa năm1949, theo lệnh Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ông Phạm Văn Đồng trở về chiến khu Việt Bắc được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, lãnh đạo nhân dân, quân đội ta đánh thắng đội quân viễn chinh Pháp và can thiệp Mỹ, làm nên chiến công oanh liệt Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Ông được cử làm trưởng đoàn đàm phán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại hội nghị Giơ ne vơ về Đông Dương đưa đến hòa bình 1954.
       Từ năm 1954 đến 1975 người đại biểu của nhân dân Quảng Ngãi và khu vực bầu cử năm huyện phía nam tỉnh là vị lãnh đạo kiên cường của Chính phủ, Quốc hội đã cùng toàn Đảng, toàn quân cả nước đánh tan âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh sập ngụy quyền Sài Gòn thống nhất nước nhà sau hai mươi năm bị chia cắt.
        Hai mươi bảy năm kể từ năm 1949, năm 1976 người con của quê hương mới trở về quê làng Thi Phổ, gặp lại bà con đã bầu mình vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
        Ông Nguyễn Trí một trong những người thành lập An Nam Cộng Sản Đảng, người chiến sĩ khởi nghĩa Ba Tơ ba mươi bảy tuổi có lịch sử hoạt động cách mạng như trong tiểu thuyết anh hùng. Người chiến sĩ Việt Minh chống ách thống trị của thực dân Pháp, vào tù ra tội bao lần. Ở quê nhà làng An Thạch còn mãnh đất hơn hai sào của ông cha để lại, cỏ mọc um tùm. Mãi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc gần bốn mươi tuổi mà chưa có vợ.
       Các cụ thân hào họ Nguyễn bàn nhau: “Đã là đại biểu Quốc hội, ngày trước gọi là nghị sĩ mà gia thất chưa yên, nhà cửa cũng không, thế xem sao được! Việc này dứt khoát phải lo ngay”. Đoàn thể ngoài tỉnh, trong huyện cũng đã bàn. Ông Ngô Đức Đệ cùng tuổi, người bạn tù Côn Đảo vừa lấy vợ, nói: “Mình bị mật thám Pháp đánh cho què một tay còn lấy được vợ người Mộ Đức, cậu đẹp trai khí phách ngời ngời, để mình lo”. Trong cơ quan Mặt trận có cô Ân họ Võ người An Thạch, học sinh Đồng Khánh, tham gia Việt Minh từ sớm được chủ tịch Đệ mai mối, chuyện khắc thành. Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên mà cô Võ Thị Ân không những thuyền quyên xinh đẹp còn là chiến sĩ Việt Minh can trường lại người cùng làng.
         Ngôi nhà lợp tranh, xây gạch có giếng nước kết đá ong đỏ trên mãnh đất họ Nguyễn bên cạnh đường chính của xã được dựng lên và đám cưới đời sống mới đầu tiên của xã Phổ An đón dâu. Ông đại biểu Nguyễn Trí người cao gầy với chiếc xe đạp xanh nước biển hàng tuần đi về từ cơ quan Mặt trận tỉnh ngoài Tư Nghĩa đến nhà ở làng An Thạch. Công việc kháng chiến vô cùng bận rộn, là đại biểu Quốc hội tại miền Trung, cán bộ lớn của Mặt trận, ông đã lo cái mặc cho quân dân Khu 5. Huy động nhân dân Phú Yên trồng bông trên đất đen bazan cổ màu mỡ. Là người trước đây lo kinh doanh kinh tế cho đoàn thể, ông chủ trương lập xưởng dệt với xưởng Nam Cường do các nhà tư bản góp vốn. Xưởng Nam Cường đặt tại thôn An Thạch chia nhiều khu nhỏ, tuyển dụng thợ giỏi từ các làng Điện Bàn, Duy Xuyên của Quảng Nam nơi chiến sự không thể sản xuất, dân phải tản cư vào Quảng Ngãi. Ông có công nghiên cứu vải “Xi ta” một loại vải đánh sợi bền, để may quân phục cho bộ đội. Đoàn quân áo vải “Xi ta” nhuộm màu xám than là nổi kinh hoàng của giặc Pháp ở Trung Bộ. Nhưng năm ấy, mưa gió liên miên bộ đội ta hành quân, phải mang áo tơi rất bất tiện. Ông yêu cầu các nhà tư bản Nam Cường làm vải bạt để may áo mưa cho bộ đội. Không ai chịu làm vì chưa có kỹ thuật, ông liền cùng thanh niên trong thôn trải vải, dùng dầu rái quét lên, phơi trong vườn nhà ông. Thí nghiệm thành công nhưng giá cao quá. May thay, ngày ấy từ Đà Nẵng các nhà buôn mua đựơc những tấm ni long đưa về cắt thành áo mưa, nên sản phẩm của ông đành chất đầy nhà. Vợ ông cô Ân kêu trời. Đám thiếu nhi trong đội trống xin về làm diều.
        Ông thầy thuốc Phạm Quang Lược là đại biểu lớn tuổi, tất bật lo mở các Trạm xá dùng thuốc nam chữa bệnh cho dân. Giặc Pháp chủ trương bao vây kinh tế vùng tự do, thuốc chữa bệnh chỉ có viên ký ninh và viên Darinan. Bênh gì cũng dùng Darinan!
       Ông Đinh May người con của núi rừng, đôi chân không biết mỏi lặn lội khắp núi rừng miền tây Nam Ngãi vận động nhân dân không nghe theo giặc Pháp, ủng hộ kháng chiến. Ông có công trong phong trào cứu quốc, đoàn kết nhân dân Kinh, Thượng, toàn dân lấy họ Bác Hồ.
        Chín năm kháng chiến nhân dân vùng tự do bốn tỉnh Khu 5 nhớ mãi hình ảnh các vị đại biểu của Quốc hội đầu tiên nước nhà là những người đại diên, những nhà lãnh đạo có tầm vóc trong Chính phủ, luôn đứng ở tuyến đầu chiến đấu cho nền độc lập của dân tộc.
        Hòa bình 1954, đất nước chia cắt, nhân dân lưu luyến tiễn đưa các đại biểu ra Bắc về Thủ đô. Kẻ ở, người đi lòng đau như cắt, hẹn hai năm bầu cử lại trở về. Không ngờ đến hai mươi năm sau! Không quản gian nan tuổi tác các đại biểu dã hoàn thành xuất sắc vai trò là người đại biểu của nhân dân miền Nam trên đất Bắc và trên các diễn đàn quốc tế.
       Mười lăm năm, kể từ năm 1960 Đảng có Nghị quyết về giải phóng miền Nam cho đến ngày thắng lợi 30 tháng 4 năm 1975 biết bao xương máu, mồ hôi, công sức của nhân dân ta ở hai miền đất nước đã đổ xuống. Các đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nhân dân xứng đáng là những nhà lãnh đạo kiệt xuất được nhân dân bầu ngày 6 tháng 1 năm 1946.
         Nước nhà thống nhất, nhân dân cả nước với khí thế hân hoan gấp trăm lần ba mươi năm trước, cầm lá phiếu hưởng ứng cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất ngày 25 tháng 4 năm 1976.
        Ông Phạm Văn Đồng người con Quảng Ngãi lần này đại diện cho nhân dân Thủ đô Hà Nội được bầu vào Quốc hội.
        Các ông Phạm Quang Lược, Nguyễn Trí, Đinh May tuổi đã cao lui về nghỉ.
       Nhân đân nhớ mãi những người đại diện ưu tú của mình trong những ngày đầu gian nan dựng Chính quyền, không bao giờ quên ngày 6 tháng 1 năm 1946 lịch sử.
         Ngày nay, mỗi lần nghe dàn trống nổi, nghe tiến loa vang lại bồi hồi nhớ ngày Sáu tháng Giêng tám mươi năm trước. Nhớ những người dân chân lấm tay bùn, nhớ những thân hào, chí sĩ cầm lá phiếu làm nghĩa vụ công dân của một nước độc lập kiến tạo chính quyền. Vinh quang thay.
 
                                                                                                                 Miền Trung, ngày 1 tháng 1 năm 2026.

                        Nguyễn Công Định
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn tại Đà Nẵng
tin tức liên quan