“Trận Đại hồng thủy năm Thìn – 1964 Trên chiến trường Khu 5 ngày ấy” - Truyện ký của Trần Khởi
“Trận Đại hồng thủy năm Thìn – 1964 Trên chiến trường Khu 5 ngày ấy” - Truyện ký của Trần Khởi
TRẬN ĐẠI HỒNG THUỶ NĂM THÌN - 1964 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG KHU 5 NGÀY ẤY
Trần Khởi
CƠN ĐẠI HỒNG THỦY THÁNG 10/2025 KHỦNG KHIẾP ĐANG DIỄN RA TRÊN DIỆN RỘNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM THÂN YÊU, LÀM TA BỒI HỒI NHỚ LẠI TRẬN LŨ LỊCH SỬ NĂM THÌN 10/1964 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH- QUẢNG NGÃI- QUẢNG NAM NHỮNG THÁNG NĂM CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC. NHỚ ĐẾN TINH THẦN VƯỢT MỌI KHÓ KHĂN GIAN KHỔ, TÌNH YÊU THƯƠNG NHÂN DÂN VÔ BỜ BẾN CỦA CÁN BỘ VÀ CHIẾN SỸ QK5. KHÔNG DỪNG LẠI Ở ĐÓ, HỌ ĐÃ GƯỢNG ĐỨNG LÊN, LÀM NÊN MỘT CHIẾN THẮNG AN LÃO OAI HÙNG, CẮM MỘT MỐC SON CHÓI LỌI CỦA LỊCH SỬ CỦA TRUNG ĐOÀN 2, CỦA QUÂN DÂN BÌNH ĐỊNH VÀ KHU 5 ANH HÙNG.
Tháng 10/1964 năm Thìn Khu 5 bị một thảm họa thiên tai khủng khiếp. Những cơn mưa xối xả như trút liên miên hơn nửa tháng trời 3 cơn áp thấp gây bão đã biến vùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ thành một biển nước. Hàng ngàn thôn xóm bị ngập chìm. Gió rít, sóng xô, nước xoáy, núi sạt lở từng mảng. Tại huyện An Lão (tỉnh Bình Định), một số làng, bản ở phía Tây cũng bị chôn vùi trong đất đá. Ban Chính trị Trung đoàn 2 đang đứng chân bên sông Re (tỉnh Quảng Ngãi), nửa đêm bất ngờ một nửa quả núi trôi tuột xuống suối, cuốn theo toàn bộ cơ quan. Nhân dân sống dọc hai bờ sông An Lão, nhiều gia đình bị nước cuốn sạch nhà cửa, trâu, bò, nông cụ và lương thực, thực phẩm. Nạn đói, rét nghiêm trọng đang diễn ra khắp vùng quê dải đất phía Nam Trung Bộ, trong đó huyện An Lão là một trong những nơi thiệt hại nặng nề nhất. Có nơi trôi hết cả gia đình 11 người, có làng trôi hết người và nhà cửa không còn một ai sống sót. Kết quả trận Đại Hồng Thuỷ năm Thìn từ ngày 4-11/10/1964 trên dãi đất miền Trung, tập trung tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định trong 7 ngày đã có hơn 7.000 người thiệt mạng. 22.500 ngôi nhà bị cuốn trôi.
Làng Đông Thu Quảng Nam thượng nguồn sông Thu Bồn có hơn 1.500 người dân, chỉ còn 19 người. Nhiều gia đình không còn một ai. Có gia đình 15 người trôi sạch. Những người trong gia đình họ buộc dây lại với nhau, để cùng trôi cùng chết với nhau. Có những đơn vị du kích, Quân giải phóng bị nước cuốn trôi, hoặc bị đất đá vùi lấp.
Trong tình cảnh đồng bào ta gặp hoạn nạn như vậy, kẻ thù lại hý hửng vui mừng, coi đây là cơ hội "trời" cho. Chúng trơ tráo tuyên bố: "Trận lụt có giá trị như một cuộc phản công của mấy Sư đoàn", "Qua trận lụt, sức chiến đấu của Du kích Cộng sản sẽ giảm sút kéo dài... ". Lợi dụng mưa lụt, nước ngập mênh mông, địch dùng đủ loại máy bay và pháo binh bắn phá các gò, đồi - nơi đồng bào nhoi lên tránh lũ. Chúng dùng xe lội nước chở lính đi càn quét, vây bắt, xúc tát dân về các "khu dồn" và "ấp chiến lược". Chúng phục kích gài mìn những khu vực có bộ đội du kích về cứu giúp dân…
Đối với chúng ta, theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Quân khu 5, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân, du kích vừa kiên quyết đánh địch vừa dùng thuyền nan, thúng, bè tre, bè chuối chèo thuyền đến từng nóc nhà, ngọn tre, ngọn dừa vớt từng cụ già, em bé và những bà con đang kêu cứu đưa đến nơi an toàn. Bộ đội và du kích đội mưa bom bão đạn quân thù, hụp lặn trong dòng nước xiêt, trong bão tố để cứu từng bao gạo, hạt lúa từng con lợn con gà cho dân. Có những người lính cụ Hồ đang cõng cụ già trên lưng, vẫn dương súng bắn cháy trực thăng giặc, khi bọn chúng đang quần thảo, cản đường bộ đội đang cứu bà con.
Sau cơn đại hồng thủy kinh hoàng, bệnh tật, đói rét, ốm đau hoành hành, bảo trùm lên khăp làng quê yêu dấu. Nhân dân và bộ đội đều bị chết đói, chết bệnh khá nhiều. Bộ đội ta đánh ở chiến trường Thừa Thiên Huế, hoăc ở B2 Nam bộ còn có cái ăn, vì còn có đường xe, còn có điều kiện tiếp tế lương thực phẩm, còn ở địa bàn Quảng Ngãi, Bình Định, Phủ Yên, Đắc Lắc thì phải tự túc hoàn toàn. Sống dựa vào dân, hoặc về vùng địch mua gạo-"Một bát gạo, một bát máu". Người dân bị lụt bão tang thương, lại bị bọn Mỹ Ngụy xúc tát vào khu dồn, thì có chỉ mà ăn. Mất dân thì bộ đội đói khát là phải.
Trước tình hình đó, Lãnh đạo Khu ủy, Quân khu 5 trực tiếp chỉ đạo cho các đơn vị bộ đội và dân quân du kích phải phát rừng phát rẫy tự túc lương thức và bằng mọi giá, phải bám lấy dân, vận động bà con phá banh khu dồn, để sớm trở về quê hương dựng lại nhà cửa, khai phong vườn tược, ruộng đồng, để có cái ăn cái mặc. Dân có cái ăn, thì bộ đội cũng có phần. Phải có những trận đánh lớn, để trả thù cho nhân dân, gây tiếng vang cho QGP. Mà Quận lỵ An Lão. Nơi bọn địch đã gây ra những tội ác tày trời cho nhân dân ta trong những ngày bão lũ. Là điểm chọn.
Khó khăn đến mức tưởng chừng như sụp đổ hết, nhưng với truyền thống bất khuất, kiên cường, tự lực, tự cường, chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta đã khắc phục được mọi thiên tai, dịch họa thảm khốc. Đồng thời, tạo nên sức chiến đấu mới.
Đầu tháng 12/ 1964, Đảng ủy và Bộ Tư Lệnh Quân khu 5 quyết định mở chiến dịch Đông - Xuân 1964 - 1965 trong toàn khu. Trọng điểm chiến dịch là chiến dịch An Lão, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng thêm đất đai, nối liền Khu căn cứ hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, làm bàn đạp cho bộ đội chủ lực phát triển xuống đồng bằng.
An Lão là huyện giáp ranh giữa vùng núi cao và đồng bằng nằm ở phía Tây Bắc Bình Định, giáp giới Tây Nam tỉnh Quảng Ngãi. Đó là một thung lũng có chiều ngang Đông Tây trên 1Km, chiều dài Bắc Nam khoảng 22Km, ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc, giàu truyền thống cách mạng.
Từ khi xâm lược Miền Nam, Mỹ - ngụy đã xây dựng An Lão thành chi khu quân sự then chốt trong hệ thống phòng ngự bảo vệ vùng đồng bằng ven biển ở Đông Bắc tỉnh Bình Định. Đồng thời, là một đầu cầu chiến lược để chúng tập trung quân mở những cuộc càn quét sâu vào căn cứ cách mạng của ta ở vùng núi cao.
Hệ thống phòng ngự của chúng ở An Lão gồm có: Chi khu quân sự - Quận lỵ, điểm cao 193, cứ điểm Đồi Mít, Hội Long. Mỗi cứ điểm có 4-5 lớp rào kẽm gai xen kẽ những bãi mìn chống bộ binh. Trong cứ điểm có hệ thống lô cốt, hầm ngầm và hào giao thông. Tất cả đều do bọn Bảo an đóng giữ. Riêng cứ điểm 193 nằm trên đồi cao (thường gọi là Núi Một) do trung đội Bảo an và một trung đội súng cối (2 khẩu 106,7ly) thuộc tiểu đoàn pháo binh sư đoàn 22 ngụy tăng cường. Sườn núi dốc đứng, chỉ có con đường nhỏ để lên trận địa, được chúng canh giữ nghiêm ngặt. Các cứ điểm trên cùng với hàng chục "ấp chiến lược" do bọn dân vệ canh giữ, tuần tra đã hợp thành thế liên hoàn yểm trợ cho nhau chặt chẽ.
Binh lực địch ở An Lão có 3 đại đội Bảo an, 1 trung đội pháo binh và 13 trung đội dân vệ, tổng số hơn 900 tên, cùng bộ máy ngụy quyền kìm kẹp dân hết sức phản động. Chúng thường rêu rao: "Sông An Lão có chảy ngược dòng, Việt Cộng cũng không tấn công nổi Chi khu An Lão".
Về phía ta: Bộ Tư Lệnh Quân khu 5 quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 2, (Tiểu đoàn này đến ngày 2/9/1965 được vinh dự nằm trong đội hình chủ lực Sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng), Tiểu đoàn 409 đặc công, Tiểu đoàn 300 pháo binh, Đại đội 8 Bộ đội địa phương tỉnh Bình Định và 2 Trung đội của huyện Hoài Ân, An Lão cùng với dân quân, du kích phối hợp tiến công. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tiền phương Bộ Tư Lệnh Quân khu.
Trung đoàn 2 có 3 Tiểu đoàn bộ binh (93, 95, 97) do đồng chí Đỗ Phú Đáp làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Nam Giới làm Chính ủy. Tiểu đoàn 409 Đặc công do đồng chí Nguyễn Thanh Tâm làm Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Huy Chương làm Chính trị viên. Đại đội 8 Bộ đội tỉnh do đồng chí Võ Phi Hồng làm Đại đội trưởng.
Kế hoạch chiến dịch: trong đêm N (đêm nổ súng), các đơn vị của ta đồng loạt đánh chiếm cả 3 cứ điểm 193, Hội Long, Đồi Mít và 8 "ấp chiến lược". Đồng thời bao vây chi khu - quận lỵ An Lão, kéo bằng được quân tiếp viện đến để tiêu diệt (theo phương thức "Đánh điểm diệt viện").
Đúng 1h05' ngày 7/ 12/ 1964, khi tiếng bộc phá mở màn trận đánh Cao điểm 193 vừa phát nổ thì liền theo đó, tiếng súng tiến công vào các mục tiêu khác cùng đồng loạt vang lên. Thung lũng An Lão như rung lên trong tiếng nổ của các loạt súng đạn của ta. Địch kinh hoàng "chịu trận", không chi viện được cho nhau, đến nỗi 2 khẩu 106,7ly, con át chủ bài của chúng chưa bắn được phát đạn nào đã rơi vào tay các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 409. Đại đội Bảo an đóng ở cứ điểm Hội Long chỉ nổ được mấy loạt đạn chống trả đã bị Bộ đội Tiểu đoàn 95 xông lên tiêu diệt. Đại đội Bảo an đóng ở Đồi Mít lợi dụng hang đá chống cự. Nhưng các chiến sĩ ta đã dũng mãnh xông vào diệt và bắt sống toàn bộ.
Hiệp đồng với chủ lực, Đại đội 8 Bộ đội tỉnh Bình Định, Bộ đội huyện An Lão, huyện Hoài Ân cũng đồng loạt đánh vào các chốt của quân địa phương bọn ngụy quyền từ Quận lỵ An Lão (cũ) đến suối Bà Nhỏ và Mỹ Thành theo đúng kế hoạch.
Trận mở màn chiến dịch diễn ra nhanh gọn. Chỉ sau 30 phút, ta hoàn toàn làm chủ các mục tiêu quy định.
Theo phương án đã xác định, khi các lực lượng vũ trang tiêu diệt hết các căn cứ quan trọng của địch thì dân quân, du kích đánh vào các chòi canh, cổng gác hỗ trợ bà con ta nổi dậy dùng dao rựa, cuốc, xẻng, gậy gộc xông ra phá banh hàng rào "ấp chiến lược", cùng với du kích truy quét bọn tề diệp, ác ôn; vây bắt, tước vũ khí của 13 trung đội dân vệ. Nhiều "ấp chiến lược" bị đồng bào đốt phá, ngọn lửa bùng lên cháy rực một vùng trời giữa tiếng reo hò vang dội của quân dân ta.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bước một, các đơn vị nhanh chóng triển khai lực lượng chiếm lĩnh trận địa cho bước hai: Đánh địch đến giải tỏa.
Phương án tác chiến dự kiến địch sẽ giải tỏa bằng đường không và đường bộ.
Tiểu đoàn 93 (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 2 hiện nay) tổ chức một trận địa chốt trên đỉnh Núi Một (điểm cao 193) do đồng chí Nguyễn Văn Cúc, Trung đội trưởng chỉ huy dùng hỏa lực cối 82 và đại liên bắn cầm canh vào khu chỉ huy - Quận lỵ An Lão, ép chúng kêu cứu quân giải tỏa;
Toàn bộ Tiểu đoàn 95 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 2 hiện nay) cùng lực lượng hỏa lực và Bộ đội địa phương tỉnh, huyện bố trí trận địa phục kích dọc đường số 5, từ thôn Hội Long đến thôn Mỹ Thành.
Đúng như dự kiến của ta, bị mất An Lão quá nhanh, chỉ còn một cụm quân ở chi khu - Quận lỵ đang rối rít kêu cứu, bọn Tiểu khu tỉnh Bình Định liền kêu cứu sư đoàn 22 ngụy. Chúng bỏ cuộc càn quét ở đường 19, điều ngay 2 tiểu đoàn bộ binh cùng một chi đoàn xe bọc thép M113 có máy bay lên thẳng vũ trang, máy bay ném bom yểm trợ kéo lên giải tỏa cho Quận An Lão bằng đường không và đường bộ.
Khoảng 6h00' ngày 7/ 12/ 1964, từng đàn trực thăng ầm ầm kéo đến quần lượn trên vùng trời An Lão. Nhiều lần chúng định đổ quân xuống Núi Một nhưng bị tổ chốt của Trung đội Nguyễn Văn Cúc bắn trả nên phải lảng ra xa, nhường chỗ cho máy bay ném bom oanh tạc dữ dội xuống Núi Một. Điểm cao 193 mịt mù lửa khói, nhưng nhờ trận địa có hầm ngầm, lô cốt kiên cố của địch để lại nên bộ đội ta ít bị thương vong. Đến 8h00' sáng, sau một đợt oanh tạc dữ dội của 6 chiếc máy bay AD6, tưởng như san bằng điểm cao 193, địch liều lĩnh dùng 26 chiếc máy bay lên thẳng chở khoảng một tiểu đoàn bộ binh lên Núi Một. Lập tức, Bộ đội ta từ các hầm, lô cốt xông ra nổ súng tới tấp, bắn cháy một số chiếc, bọn còn lại vội vàng dạt về phía đông, đổ quân xuống dãy núi Yên Ngựa, cách điểm cao 193 khoảng 5Km.
Đồng thời với đổ bộ đường không, chúng mở cuộc tiến quân bằng đường bộ trên 3 hướng:
Hướng Nam (cánh quân chủ yếu), theo tỉnh lộ số 5 từ từ thị trấn Bồng Sơn lên.
Hướng Đông (cánh tạt sườn), từ bắc huyện Hoài Nhơn theo đường mòn Hội Phú vượt núi cao, thọc xuống thôn Bình Hòa để qua Quận lỵ An Lão.
Hướng vu hồi, tiến quân từ thôn Mỹ Thành men theo sườn núi phía Tây sông An Lão để tới Bình Hòa, vào Quận lỵ.
Cánh quân chủ yếu của địch có 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41, sư đoàn 22 ngụy, 1 chi đoàn xe bọc thép 15 chiếc M113. Toán đi đầu có 1 đại đội bộ binh và 6 xe bọc thép yểm trợ. Mặc dù đã rất thận trọng, vừa đi vừa bắn vung vãi ra hai bên đường, nhưng khi đến thôn Hội Long thì hỏa lực của ta, theo hiệp đồng đã bắn tới tấp vào những chiếc xe bọc thép làm cháy tại chỗ 3 chiếc và hỏng nặng 2 chiếc. Chiếc còn lại hoảng sợ quay đầu tháo lui, nhưng quá cuống quýt đã lao đầu xuống suối đá vỡ tan. Bộ đội ta lập tức ào ạt xông ra mặt đường diệt gần hết đại đội địch đi đầu, trong đó có 5 tên cố vấn Mỹ, 1 máy bay UH1A bị bắn rơi tại chỗ. Các chiến sĩ ta nhanh chóng thu vũ khí và còn tháo cả đầu máy chiếc xe M113 khiêng về phía sau.
Hai cánh quân khác của chúng cũng bị lực lượng bảo vệ cạnh sườn và phía sau của ta chặn đánh, không tiến lên được.
Sau một vài ngày với nhiều lần tiến quân rồi thất bại, cuối cùng chúng phải rút lui, bỏ mặc bọn ngụy quân, ngụy quyền trong chi khu - Quận lỵ An Lão kêu cứu. Và mấy ngày sau, không chịu nổi sự bao vây đánh ép của ta, tất cả bọn chúng bí mật rút chạy về Bồng Sơn và Quy Nhơn, quận An Lão được hoàn toàn giải phóng.
Chiến dịch giải phóng chi khu - Quận lỵ An Lão đã toàn thắng. Ta tiêu diệt 1 đại đội quân chủ lực, 1 chi đội xe bọc thép, 3 đại đội Bảo an, giải tán 13 trung đội dân vệ; diệt và bắt sống hơn 800 tên địch (có 5 lính Mỹ, 125 tên tề diệp, ác ôn), bắn rơi 1 máy bay, bắn cháy và phá hủy 6 xe bọc thép M113, thu 310 súng các loại (có 2 khẩu cối 106,7ly, 3 khẩu trọng liên 12,7ly, 6 khẩu đại liên, 20 khẩu trung liên) và hơn 12 tấn đạn dược, quân trang, quân dụng, phá tan toàn bộ hệ thống "ấp chiến lược", giải phóng hơn một vạn dân.
Ngày 9/ 12/ 1964, Hãng thông tấn Pháp AFP viết:
"Cả hệ thống phòng ngự Chi khu An Lão bị tiêu diệt như trở bàn tay buộc các nhà quân sự ờ Sài Gòn phải xét lại hệ thống trên các chi khu khác trên toàn Miền Nam Việt Nam có đủ sức đứng vững không, khi du kích Việt Cộng đã quyết tâm mở cuộc tiến công vào đó'.
Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch An Lão, Bộ Tứ Lệnh Quân khu 5 đánh giá: "Lần đầu tiên trên chiến trường Khu 5 đã xuất hiện phương thức tác chiến mới của Bộ đội chủ lực kết hợp với Bộ đội địa phương và dân quân du kích dưới hình thức một chiến dịch quy mô Trung đoàn. Chiến thắng An Lão đã làm cho quân dân ta càng thêm tin tưởng và phấn khởi".
Ngày 12/ 12/ 1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam Việt Nam đã gửi điện khen chiến thắng An Lão và quyết định tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba cho chiến thắng này.
Đồng thời, tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì cho 2 Trung đội Bộ đội huyện An Lão và huyện Hoài Ân; tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba cho chiến sĩ Huỳnh Thị Chi, Bộ đội huyện Hoài Ân (có thành tích xuất sắc, diệt nhiều địch, thu nhiều vũ khí).
Sau chiến thắng An Lão, Bộ Tư Lệnh Quân khu 5 đồng ý cho Trung đoàn 2 được mang tên "Đoàn An Lão".
Ba tiếng ĐOÀN AN LÃO từ đó đã trở thành tiếng gọi thiêng liêng, là niềm tự hào đối với mỗi Cán bộ, Chiến sĩ Trung đoàn 2. Đó vừa là sự nhắc nhở lịch sử Chiến công vừa là sự nhắc nhở về tình nghĩa quân dân trong những năm tháng đánh Mỹ hào hùng, oanh liệt không thể nào quên.
(Lệ thủy tháng 10 năm Ất Tỵ- 2025. Viết trong mùa mưa lũ).
Trần Văn Khởi
57 Quang Trung, thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
ĐT: 0815 886 432