Những Người lính thông tin dây trần trên đường Trường Sơn - Hồi ký: Trần Thiều

Ngày đăng: 09:57 08/01/2026 Lượt xem: 73
NGƯỜI LÍNH THÔNG TIN DÂY TRẦN TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


 
(Đường dây ai rải qua rừng là rừng. Đường dây ai rải qua núi là núi ... Hay là Tịch tè, tịch tè tín hiệu truyền đi...)
Đó là lời của những bài hát trong nhiều bài hát ca ngợi người lính thông tin cách đây hàng chục năm, tôi đã được nghe trên làn sóng đài tiếng nói Việt Nam, giờ nhớ lại bao cảm xúc của một thời hào hùng với nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc trên đường Trường Sơn lại ùa về trong tôi và chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày thành lập binh chủng thông tin liên lạc ngày 9 - 9 -1945-- 9 - 9 - 2024 binh chủng thông tin liên lạc được thành lập rất sớm so với các quân binh chủng khác trong lực lượng vũ trang Quân đội nhân dân Việt Nam. Là một người lính thông tin tôi rất tự hào binh chủng thông tin liên lạc được Bác Hồ kính yêu tặng tám chữ vàng: "KỊP THỜI,CHÍNH XÁC, BÍ MẬT ,AN TOÀN"
Và chỉ còn ít ngày nữa là ngày họp mặt của Hội truyền thống của Hội lính thông tin thị xã Thuận Thành chúng tôi. Xin có đôi dòng tâm sự nhớ về một thời trên tuyến thông tin dây trần trên đường Trường Sơn mà cho đến hôm nay vừa tròn 51 năm
Trung đoàn chúng tôi là Trung đoàn 49, là Trung đoàn thông tin dây trần thuộc đoàn 559 bộ đội Trường Sơn, Trung đoàn chúng tôi với nhiệm vụ bảo vệ, khai thác tuyến thông tin dây trần phía đông Trường Sơn điểm đầu là ở làng Vây Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị; điểm cuối là huyện Giằng thuộc Quảng Nam. Trung đoàn 49 trước là Trung đoàn bộ binh với nhiệm vụ đánh địch bảo vệ tuyến đường Trường Sơn, phía tây thuộc nước bạn Lào. Sau khi ký kết hiệp định Paris năm 1973 trước tình hình nhiệm vụ cách mạng thay đổi. Trung đoàn 49 được điều ra Quảng Bình học tập làm nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc, phục vụ cho các đơn vị của đoàn 559 trên tuyến đông Trường Sơn. Trung đoàn 49, với nhiệm vụ tiếp quản đường dây của Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc bàn gìao. Vi thời kỳ này tình hình chiến trường đã có nhiều thay đổi để đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ chiến đấu cho kịp thời, Bộ Tư lệnh Thông tin xây dựng một tuyến đường thông tin mới là đường dây xà sứ, cột sắt có tám đôi dây, dung lượng liên lạc rất lớn mới đáp ứng đầy đủ thông tin liên lạc ở chiến trường miền Nam.
Trung đoàn 49 được tiếp quản đường dây cột gỗ có hai đôi dây do Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc bàn giao. Toàn tuyến có bốn cơ vụ gồm có: Cơ vụ B20 ,B21, B22, và cuối cùng là cơ vụ B23. Cơ vụ B20 ở khe sanh, Quảng Trị gần cơ quan Trung đoàn bộ; cơ vụ B20 là cơ vụ lớn nhất trong bốn cơ vụ, và nối với cơ vụ 3000 của bộ tư lệnh đoàn 559 ở ngoài Quảng Bình. Cơ vụ B21 đặt ở khu vực gần ngầm Ly Tông, tôi không nhớ rõ thuộc huyện nào của tỉnh Quảng Trị. Còn cơ vụ B22 của tôi đóng ở bản Cân Tôm, xã Hồng Thượng, huyện A Lưới - Thừa Thiên Huế. Tiếp là cơ vụ B23, cơ vụ cuối cùng được đóng ở Trao, thuộc Quảng Nam. Bốn cơ vụ được nối với nhau bằng đường dây trần với hai đôi dây là bốn sợi dây đồng; trong đó có một đôi dây cao tần và một đôi âm tần. Đôi dây cao tần là đôi dây quan trọng và bí mật nhất, từ tiếng nói đàm thoại qua máy tải ba thành tín hiệu... Còn đôi dây âm tần là đôi dây liên lạc nội bộ giữa ban chỉ huy đại đội với các tổ dây đàm thoại trực tiếp, và từ đây nhiều anh lính dưới tổ dây tranh thủ những lúc không phải giờ cao điểm; mới có thời gian tán tỉnh mấy em ở tổng đài và có nhiều mối tình nảy nở từ đây, rồi họ thành vợ thành chồng như: Cặp anh Thái Doãn Bình ở cơ vụ B22 Trung đội trưởng của tôi, vợ là Nguyễn Thị Tâm chiến sĩ tổng đài cơ vụ B2, hai người đều quê Đô Lương Nghệ An. Giờ cuộc sống của đôi vợ chồng lính thông tin Trường Sơn rất hạnh phúc...
Về trang thiết bị trong các trạm cơ vụ ở đơn vị trung đoàn, gồm có: Máy nổ, ác quy để cung cấp điện cho máy tải ba và tổng đài thường gọi là bộ phận nguồn điện. Máy nổ thường là máy phát điện một chiều, máy nổ toàn máy nhập của các nước: Liên Xô có máy AB4, Tiệp Khắc có máy SS 3000 hay SS 125, máy cộng hòa dân chủ Đức là loại Phi Mắc vv. Còn ắc quy là ác quy kiềm của Trung Quốc. Nhưng phần chính của cơ vụ là phòng máy tải ba, máy tải ba có ba loại là: VOV12 là máy cổ, 12 đường để liên lạc, ngoài ra còn máy VOV3 có 3 đường liên lạc và máy TCT 1 đường. Toàn máy đo Hung Ga Rỉ sản xuất. Về tổng đài là loại tổng đài 40 cửa của Trung Quốc. Giờ nghĩ lại so với thời kỳ đó ở miền Bắc là hiện đại nhất về thông tin liên lạc rồi .. Còn nhân viên Kỹ thuật trạm cơ vụ nào chỉ có một kỹ thuật viên trình độ trung cấp tải ba, còn hầu hết là anh em có trình độ sơ cấp tải ba và sơ cấp nguồn điện; đều từ cái lò đào tạo ở trường kỹ thuật thông tin thời kỳ đó. Trường đóng ở Hiệp Hòa, Hà Bắc. Ngoài ra còn một tiểu đội chiến sĩ trực tổng đài chủ yếu là nữ ...
Giờ xin nói về tuyến đường dây từ Khe Sanh, Quảng Trị vào tới huyện Giằng Quảng Nam, rất xa. Tôi không nhớ là bao km nữa, nhưng đường dây thông tin không chạy vòng vèo như đường quốc lộ mà cứ thẳng mà chạy cho dù phải qua sông, qua đèo cao, vực sâu không né tránh. Do vậy, có nhiều đoạn vách đá dựng đứng phải làm thang bắc để đi. Mỗi tố dây có ba người bảo vệ tuyến đường là 12 km, tổ dây nằm ở giữa mỗi đầu là 6km. Nếu 12 km ở đồng bằng thì đơn giản nhưng đây là đường dây thông tin trên Trường Sơn, đèo cao suối sâu vực thẳm; bước chân ra khỏi nhà là đèo dốc. Lúc đi làm hàng ngày thì leo dốc thở không được, chiều về xuống dốc chân chùn, gối mỏi; riêng việc đi lại đã quá vất vả cực nhọc. Bình thường nhiệm vụ của anh lính dưới tổ dây hàng ngày phải đi phát tuyến, cuốc bậc, đế cho quang đãng, đi lại được dễ ràng. Sáng ra khi đi làm còn phải vừa đi vừa cầm cái sào để quét mạng nhện, để khỏi bị nhiễu cho tiếng nói khi liên lạc được rõ ràng; vì mạng nhện bị sương đêm ướt nối mạch làm chập dây. Ngoài ra, mỗi người phải mang một con dao quắn cùng với cái cuốc; còn khẩu súng vật bất ly thân. Vào mùa mưa đối với anh lính đường dây quá vất vả, cực kỳ gian khổ; mỗi khi mưa xuống ở dọc tuyến đường Trường Sơn những cánh rừng già toàn cây cổ thụ bị chết khô do chất độc Mỹ thả xuống. Cành cây gặp nước mưa mục nát rơi xuống hay có khi cả cây to đổ làm đứt dây mấy chục khoảng đổ sập (mỗi khoảng dây giữa hai cột là 50 m). Nếu đổ ban ngày còn đỡ, về đêm cực khổ! Cả tổ có ba người thì một người ở nhà trông nhà và trực dây, còn hai người khẩn trương đi khôi phục để nhanh chóng nối liền thông tin liên lạc, kịp thời cho chỉ huy phục vụ nhiệm vụ chiến đấu và mở đường. Trước khi đi chuẩn bị kỹ càng; dù đi dầy vải hay dép cao su nhưng phải đi ghệt, ghệt làm bằng vải may nhiều lớp như tất. Nhưng đầy hơn có nhiều lớp vải ghệt do TRUNG QUỐC sản xuất, ghệt dài đến đầu gối; có dây buộc chặt lại như vậy mới yên tâm và phòng chống rắn, rết ,ve, vắt; những thứ đặc sản của Trường Sơn nhiều vô kể. Nói thêm về con ve, con ve rất nhỏ nhưng rất độc bám vào da thịt mà không biết cách bắt vội vàng lấy tay rứt ra cái nọc nhỏ hơn sợi tóc bị đứt nằm lại dưới lớp da sẽ bị ngứa hàng năm không khỏi. Có khi còn thối cả thịt, việc bắt ve cũng phải có kinh nghiệm; đó là lấy cái kim khâu hay sợi dây thép nung qua lửa cho nóng song rồi đâm vào con ve nó tự rời ra thì yên tâm.
Còn về dụng cụ để đi sửa đường dây phải có mụp và ma xoa đây là hai thứ không thể thiếu để khi khôi phục nối dây; song để kéo dây mới căng được. Một thứ quan trọng nữa là con dao khẩu súng và đèn pin, ngoài ra còn đeo trên vai một cái máy điện thoại nữa để còn liên lạc với trung tâm và người ở nhà. Chuẩn bị xong, khẩn trương lên đường chui rúc trong rừng, dưới trời mưa tuôn xối xả trong màn đêm đen. Đến nơi vừa làm, còn phải cảnh giác với bọn thám báo biệt kích Ngụy và thú dữ vv. Hai con người lầm lũi trong rừng, dùng mọi cách để khẩn trương nối dây làm sao cho nhanh để sớm nối lại thông tin liên lạc; càng chậm càng ảnh hưởng đến việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn... Nhiều khi làm suốt đêm, thời gian kéo dài; hết pin đèn không sáng. Trên đường về dưới tán lá rừng trời tối đen như mực, để khỏi lạc đường đành phải rút quai dép đốt lên cho sáng tìm đường mà về. Còn người ở nhà ra chòi trực dây, có trường hợp còn bị sét đánh hút chết! Đó là trường hợp Nguyễn Văn Chín ở tổ dây 41. Chín quê ở Nghi Vạn, Nghi Lộc, Nghệ An. Chín nói chuyện với tôi là lần đó đang ngồi trực trên chòi, mưa to, gió lớn bỗng sau tiếng sét nổ rất to; Chín thấy hoa mắt, rồi ngất không biết chỉ nữa. Cũng may bị nhẹ, nên sau một giờ mới tỉnh dậy, sáng nhìn thấy mặt mũi, toàn thân đen sì, mãi mấy tháng sau; mặt mũi da trên thân thể mới trở là nước da bình thường. Giờ mỗi khi gặp Chín tôi hay nói đùa: Mày thằng trời đánh không chết, sẽ sống lâu. Chín là thằng bạn dân xứ Nghệ của tôi, lại nở nụ cười với cái mũi cà chua trông rất là duyên.
Đối với tôi là lính kỹ thuật thợ máy nổ, công việc trên trạm cơ vụ là chính, khi đó tôi đang thuộc diện cảm tình Đảng, đang giai đoạn phấn đấu; được chi bộ thử thách điều xuống đường dây hỗ trợ chi viện cho tổ dây 42 vào mùa mưa năm 1974. Ở đó mới thấy hết sự vất vả, gian khổ của những người đồng đội lính đường dây; nhưng dù khó khăn gian khổ đến đâu đi nữa, họ vẫn quyết tâm cố gắng đảm bảo giữ vững thông tin liên lạc. Góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ mở đường Trường Sơn thắng lợi . Và thật vô tình với tôi, một lần đi làm về tôi may mắn cùng với Lâm quê Nam Định lính tổ dây, lần đầu tiên trong đời vô tình được ngắm nhìn chị em công binh tắm tiên dưới suối, không bao giờ quên được, câu chuyện này tôi đã kể...
. Chuyện về người lính thông tin dây trần trên đường Trường Sơn còn dài hẹn gặp lại...

Trần Thiều
Hội Trường Sơn tỉnh Bắc Ninh
tin tức liên quan