GIỚI THIỆU SÁCH VIẾT VỀ TRƯỜNG SƠN
KỲ 3: NHỮNG TRANG VIẾT LÀM SỐNG LẠI HIỆN THỰC ĐƯỜNG 20 MỘT THỜI BOM ĐẠN (Tiếp theo kỳ 2)
Cuốn sách gồm 32 bài văn xuôi, 55 bài thơ và 01 ca khúc của 47 tác giả
-
Về văn xuôi:
Gồm nhiều thể loại :Truyện ngắn, bút ký, ghi chép, tản văn, hồi ức …Các tác phẩm đã làm sống lại một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, phản ánh bức tranh hiện thực về cuộc sống, chiến đấu trên tuyến đường từ những ngày đầu tiếng mìn nổ phát lệnh“ Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi”.
Kỷ sư Phan Trầm trong bài viết: “Mở đường 20 Quyết Thắng” đã đưa người đọc hiểu rõ vì sao mở đường 20, phương án mở đường và quá trình thi công “thần tốc” để tạo nên một “kỳ tích” có một không hai.
“… Cuối tháng 5/ 1965, tôi đang chỉ đạo thi công đoạn cuối đường 128 nối với Lùm Bùm thì nhận được điện của đồng chí Phan Trọng Tuệ giao tổ chức khảo sát định tuyến đường 20 từ Lùm Bùm - U Bò… mệnh lệnh của trên là ngày 13/6 hai mũi phải gặp nhau ở đỉnh U Bò…đồng thời giao cho tôi làm chỉ huy Công trường 20”, “ … Đúng 17 giờ ngày 01 tết Bính Ngọ thay mặt đồng chí Bộ trưởng kiêm Tư lệnh Đoàn 559 ( Đ/C Phan Trọng Tuệ), đồng chí Tường Lân ra lệnh nổ đợt bộc phá đầu tiên… chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi…sau 77 ngày đêm không nghỉ, ngày 07/4/1966, hai công trường gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn tại km 68 biên giới Việt – Lào” (Phan Trầm- Trang 14, tr 20).
Phạm Ngọc Vũ, người có mặt từ ngày đầu mở đường đã lý giải sự cần thiết, bức xúc mở đường 20 và khi con đường vận chuyển lớn, có biết bao sự kiện đã trở thành “huyến thoại”:
“ … Trở lại thời gian cuối năm 1965 tuyến vượt khẩu cơ giới duy nhất từ Khe Ve… vượt đèo Mụ Gịa nối với đường 128 …qua Seng Phan, Lùm Bùm, Văng Mu…nhưng từ sau ngày khai trương, Seng Phan đã trở thành “túi bom” vào mùa khô và “túi nước” trong mùa mưa… Seng Phan là “tử huyệt” trên đường 128 cắt đứt tuyến vận tải suốt mùa mưa, trong khi chiến trường cần lương thực, thực phẩm, vũ khí…”, “ Từ phía Đông, công trường 20 do đồng chí Phan Trầm chỉ huy từ Phong Nha đến Ta Lê…Mũi phía Tây do đồng chí Nguyễn Lang chỉ huy… sau gần 3 tháng thi công hai cánh quân gặp nhau tại khu vực biên giới…đây là một kỳ tích của các lực lượng mở đường Trường Sơn…” (Phạm Ngọc Vũ – tr 55,57)
Hồ Bá Thược, ghi lại cặn kẽ lời kể của nguyên Binh trạm trưởng Hoàng Trá về mở đường, giữ đường 20 mà ông là người có mặt từ đầu: “Sự thôi thúc của chiến trường, cuối năm 1965, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gấp rút mở con đường chiến lược vận chuyển sức người, sức của vào các mặt trận. Yêu cầu con đường đó phải thông suốt cả mùa mưa, bỏ qua “túi nước” Xiêng Phan… quyết tâm chiến lược đó… được cụ thể hóa, chọn tuyến từ Phong Nha, Quảng Bình vào Lùm Bùm trên đất Lào, phá thế “độc tuyến”. Sau 77 ngày đêm Đường 20 đã thông suốt từ Phong Nha vào Lùm Bùm … một kỷ lục mở đường chưa từng có…” “kỳ tích giống như huyền thoại… được xây đắp nên bởi các lực lượng bao gồm: Đội 25, Đội 23, Đội 15, Đội 4, Đội 3 TNXP thuộc các tỉnh Hà Nam, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Quảng Bình, Nghệ An; Trung đoàn 10 công binh; hai trung đoàn 4, 5 bộ binh đi B dừng lại tham gia mở đường”( Hồ Bá Thược- - tr 80).
Nguyên Chính ủy Binh trạm 14 Bùi Thế Tâm đưa người đọc đến với cuộc chiến 10 năm trên con đường của các lực lượng: Công binh, lái xe, TNXP, giao liên…Đường Trường Sơn là tổng hợp nhiều binh chủng hợp thành “Rừng núi trùng điệp miền Tây Quảng Bình bừng dậy khi con đường 20 xuất hiện.” ,”Đường giao liên một trạm đi một ngày, quân vào quân ra liên tục suốt tháng, suốt năm… những con đại bàng vượt Trường Sơn…họ đi trong sự chăm sóc… nuôi dưỡng của bao chiến sỹ hậu cần., thông tin, chỉ huy, … tất cả mọi binh chủng, mọi lực lượng cùng nhau đoàn kết, hiệp đồng,lập công tập thể” ( Bùi Thế Tâm – tr 40).
Đường 20 là một trong tuyến đường địch dánh phá ác liệt nhất trong các tuyến đường Trường Sơn. Các loại vũ khí hiện đại của Mỹ thời bấy giờ, các thủ đoạn đánh phá của địch đã được sử dụng trên tuyến đường 20. Nhiều bài viết đã khắc họa hình ảnh người chiến sỹ vượt qua bom đạn giữ thông đường cho những đoàn xe vận chuyển hàng ra tiền tuyến.
Thiều tướng Hoàng Anh Tuấn, nguyên chính trị phó Tiểu đoàn xe 52 đã trực tiếp chỉ huy những chuyến xe vượt qua trọng điểm trong bom đạn ác liệt và cũng chứng kiến sự hy sinh của những chiến sỹ lái xe, công binh, TNXP làm nhiệm vụ trên tuyến đường 20: “… Vào thời kỳ tập đoàn trọng điểm ATP địch đánh hủy diệt rất tàn bạo. Các trọng điểm mới phát sinh như Văng Mu, Lùm Bùm, Chà Là… cũng đều bị san phẳng. Những cánh rừng nguyên sinh kín đáo để dấu quân, xe cộ, hàng hóa nay địch tán phá hết, cảnh tượng tan hoang. Nhiều đồng đội của tiểu đoàn hy sinh … Đoàn xe vượt ngầm Ta Lê, rồi lần lượt qua phía nam đèo Phu La Nhích. Bổng đoàn xe đột ngột dừng lại, chắc phía trước đã xẩy ra sự cố .Chưa kịp xử lý xong tình huống thì bất chợt mặt đất rung lên với loạt bom B52 vào đúng đội hình. Loạt bom rải thảm vừa dứt, lập tức máy bay F4, F 105 liên tiếp đánh phá vào đội hình xe. D33 công binh có mặt cùng với máy húc san lấp hố bom, giải phóng đoàn xe…” (Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, tr 49 ”
Trên đường 20 hàng chục trọng điểm, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, sau khi ngừng ném bom miền Băc lần thứ nhất, địch tập trung đánh phá từ cửa khẩu vào phía trong, A-T-P là một điển hình: “… Ngày 01/11/1968 không quân Mỹ dồn lực lượng hòng cắt đứt 2 cửa khẩu đường 12 và 20. Trên trọng điểm liên hoàn A-T-P mỗi ngày đêm hàng trăm lần chiếc máy bay đánh phá, trong đó có đến 30 - 45 lần chiếc B52 ném bom rải thảm. Máy bay OV10, AD6, C130 thay nhau trinh sát, canh gác bầu trời, A-T-P ngày đêm rực lửa…” ( Hoàng Trá- tr 30)
Từ Xuân Sơn qua Phong Nha vào Cửa Rừng, tiếp đến dốc Đồng Tiền, Ba Thang, Trạ Ang đều là những “ Tọa độ lửa”: “… Làng Phong Nha điểm đầu đường 20 Quyết Thắng… không ngày đêm nào không bị máy bay Mỹ đánh phá. Tại Trạ Ang, từ tháng 7 đến tháng 9/1968 địch đánh làm tắc đường liên tục, phía trong thiếu xăng; Binh trạm 14 đã huy động Tiểu đoàn công binh 335 và C217 TNXP vần từng phuy xăng xuống suối Trạ Ang kéo ngược dòng. Sau một tuần kéo được 30 phuy xăng đã có 29 chiến sỹ hy sinh… Tháng 11/1972 cũng tại trọng điểm này Mỹ ném bom sập cửa hang làm 8 TNXP và 5 chiến sỹ pháo cao xạ hy sinh tại “ hang Tám cô km 16+500” ( Lê Trung Khiên – tr 111)
Vào thời điểm năm 1968, trọng điểm Trạ Ang – cổ họng của đường 20 mức độ ác liệt không kém ngả ba Đồng Lộc, phía bên trong thiếu xăng nghiêm trọng, xe vận tải chia nhau từng lít xăng.. Để giải tỏa thông đường, Bộ Tư lênh 500 và 559 nhận lệnh cấp trên cho quân đi B dừng lại. Tiểu đoàn 7 Giao liên Binh trạm 14 nuôi ăn cho trên 16.000 lính đi B.
“… Lệnh của Bộ Tổng tư lệnh gửi Bộ Tư lệnh 500: Bất kỳ giá nào cũng chuyển xăng cho Đoàn 559…Bức điện tâm huyết: gửi Hoàng Trá: Nếu Binh trạm 14 không tiếp xăng vào sẽ có hàng vạn bộ đội bị chết đói. Đồng Sỹ Nguyên…” ( Hoàng Trá Tr 28).
Thái Sầm nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 335 công binh được Bộ Tư lệnh 559 tăng cường về chốt giữ trọng điểm Trạ Ang. Cuộc đối đầu sinh tử với máy bay Mỹ là thử thách của cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn: “ … Suốt 93 ngày đêm chiến đấu trên trọng điểm Trạ Ang… tiểu đoàn có 15 đồng chí hy sinh, …70 đồng chí bị thương, nhiều chiến sỹ bị thương 3 lần vẫn xin ở lại chiến đấu, giữ thông đường…” ( Thái Sầm – tr 156)
Không chặn được A-T-P, không quân Mỹ tập trung đánh phá Chà Là điểm đầu đường tránh QZ25. Nơi đây trở thành trọng điểm vô cùng ác liệt.
“… Mùa khô năm 1970- 1971 địch tập trung đánh phá Chà Là, một dải đất hẹp nằm kẹp giữa dẫy Phù Luông và Phu La Nhích. Các trục đường A, B,C,D sau khi vượt Ta Lê đều phải qua đây. Do đó địch tập trung đánh phá ác liệt. Suốt 90 ngày đêm từ 10/10/1970- 10/01/1971 không quân Mỹ tập trung 3.300 lần chiếc cường kích và 880 lần chiếc B52 … trút xuống đây hàng vạn quả bom và mìn hỗn hợp. Các lực lượng xung kích của Binh trạm 14 vượt qua bom đạn giữ thông đường và mở thêm đường tránh QZ25, giải tỏa trọng điểm Chà Là: ( Phạm Ngọc Vũ- tr 61).
Đường 20 là chiến trường mà đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều loại vũ khí hiện đại, tối tân thời bấy giờ: Bom phá, bom sát thương, bom lade, bom bi, mìn vướng, mìn kẹp, cây nhiệt đới, tên lửa, chất độc hóa học v.v…
“ … ngày 17/5/1966 hai chiếc AC 130 rải chất độc hóa học hủy diệt cây rừng và phát hiện ra tuyến đường. Từ đó Đường 20 trở thành mục tiêu đánh phá tàn khốc, thử thách bản lĩnh, ý chí của con người… nơi đối đầu giữa những chàng trai, cô gái tuổi 20 với không quân Mỹ…” ( Phạm Ngọc Vũ- tr 58”
“ … Đường 20 Quyết Thắng là một trong 5 tuyến đường ngang vượt khẩu của đường Trường Sơn, là tuyến đường địch đánh phá ác liệt nhất với nhiều trọng điểm được mệnh danh là “ Sa mạc lửa”, “ tọa độ lửa”, “ cửa tử”…Trong những năm tháng chiến tranh trên tuyến đường này với nhiều lực lượng, binh chủng tham gia đã viết nên bản hùng ca bất tử…” ( Nguyễn Trung Vãn- tr 200).
Đã có biết bao cô gái vào Trường Sơn cống hiến tuổi thanh xuân cho tuyến đường. Ngoài bom đạn, các cô còn phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt; nắng nóng như đổ lửa, mưa đến thối đất. Nào vắt rừng, muỗi, vét… những trận sốt rét kinh hoàng đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sinh lý của chị em.
“… năm 1966 máy bay Mỹ rải chất độc hóa học rụng lá cây hai bên đường để chúng dễ phát hiện bãi xe, kho hàng và địa điểm đóng quân. Đơn vị tôi ở ngầm Cà Roòng km 54, Đại đội trưởng ra lệnh tất cả ra mặt đường phải dùng khăn ướt che miệng, mũi để thở…còn nuôi quân phải đào giếng lấy mạch nước ngầm nấu ăn…” ( Nguyễn Thị Hồng Táo – tr 203)
“… Trường Sơn chúng tôi đi; mồ hôi, máu và nước mắt đã in đậm trên mỗi chặng đường, mỗi cây rừng. Tên của mỗi con sông, suối hay mỗi trọng điểm ác liệt như ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích, cua chữa A, đèo Tam Đảo ( đường 20D)… đều in dấu tích của một thời đạn bom lửa cháy. Và đâu đó trên mỗi cánh rừng… vẫn còn ẩn khuất hình hài của bao chiến sỹ đang được cây rừng Trường Sơn ru ngủ và ôm ấp, chở che…” ( Dương Thị Thanh Phúc- tr 223).
Tạ Thị Hoán là TNXP từng giáp mặt bom đạn tại cua chữa A, chuyển sang bộ đội là chiến sỹ thông tin… nhớ lại một thời “ ba cô gái tổng đài Ba Vì”: “ ba đứa chúng tôi làm việc theo ca, mỗi ca 8 tiếng. Niềm vui sáng lên ánh mắt, nụ cười lúc giao ca. Đêm nay đường thông, xe lên phái trước vượt cung tăng chuyến an toàn… nỗi buồn nước mắt lưng tròng: Đêm nay đồng đội hy sinh, kho, xe thiệt hại nặng…chúng tôi thương nhau,lo cho nhau như chính lo cho mình… lúc bom Mỹ đánh mất liên lạc, chúng tôi lao ra dưới bom đạn nối dây, dựng cột…” ( Tạ Thị Hoán- tr 186)
Trong bom đạn ác liệt và thời tiết khắc nghiệt của Trường Sơn, cuộc sống vẫn lạc quan, yêu đời. Trên mặt đường nóng bỏng vẫn ngân vang “ tiếng hát át tiếng bom”; vẫn những lớp học BTVH của TNXP.
Trên tuyến đường Trường Sơn… khó khăn, gian khổ, ác liệt; giữa sống chết cận kề, nhưng tiếng hát vẫn ngân vang mọi lúc, mọi nơi trên con đường ra trận…” Đội văn nghệ Binh trạm 14…đã đi biểu diến phục vụ bộ đội, TNXP suốt tuyến đường từ Xuân Sơn vào Phu La Nhích, qua Binh trạm 32…Thời kỳ đó, không thể không nhắc đến tiếng hát của nữ TNXP Nguyễn Thị Vân Liệu tại trọng điểm cua chữ A; giọng ngâm thơ của Nguyễn Thị Khánh Vân tại trọng điểm cua Tay áo km 32…” ( Từ Liên – tr228 )- ( Nguyễn Thị Vân Liệu truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT năm 2001và Khánh Vân cùng chồng đều là thường binh hạng 1/4, hiện sống tại huyện Yên Định ( cũ), tỉnh Thanh Hóa- Ban BT)
Tình yêu ở Trường Sơn trong sáng, ngọt ngào, giữa nơi trọng điểm A-T-P bom đạn ác liệt mà mối tính giữa người lính cao xạ với nữ chiến sỹ TNXP thật đẹp và ngưỡng mộ: “ Sau trận bom, khi những đụn khói đen đã hòa lẫn vào mây, chơi vơi trên cao . Đêm Trường Sơn lại trở nên yên tĩnh. Xa xa đã nghe eo óc tiếng gà rừng gọi sáng. Chị khẽ khàng nâng liếp cửa và bước ra khỏi lán lặng lẽ đi trên lối mòn đẫm sương. Mắt chị nhìn về phía ngọn đồi không xa, nơi chị đã gặp anh để rồi trái tim cứ thổn thức nhớ, thổn thức buồn. Dưới ánh sáng của mảnh trăng cuối mùa , những giọt sương trở nên bàng bạc, thân hình chị cũng bàng bạc. Chị chợt nhận ra trăng cuối mùa vẫn sáng…” ( Đỗ Ngọc Thứ- tr 158)
( Còn nữa)
Lê Trung Khiên
UV BCH Hội VHNT Trường Sơn