LẦN ĐẦU TÔI PHẢI VIẾT VÀ ĐỌC ĐIẾU VĂN
Hồi ký: Nguyễn Hữu Dư
Tôi còn nhớ không bao giờ quên những kỷ niệm đã khắc ghi trong cuộc đời người lính chúng tôi, những ngày ở Trường Sơn. Ngày 5 tháng 7 năm 1969, chúng tôi được đại úy Đặng Thế Hải - Chỉ huy trưởng Công trường 18B cử đi khảo sát tuyến đường ống và kho xăng dầu từ đèo 400 đến nam sông Sê Băng Hiêng, thuộc "lãnh thổ" Binh trạm 9, Đoàn 559. Đội khảo sát chúng tôi gồm 8 cán bộ, chiến sĩ, do trung úy trợ lý tham mưu Lê Hồng Sơn là Đội trưởng, tôi là kỹ sư đội phó phụ trách kỹ thuật. Đội trưởng chỉ huy chung, quan hệ đối ngoại với các đơn vị và đảm bảo hậu cần cho đội. Đội phó là người xác định hướng tuyến ống, vị trí trạm bơm, kho xăng dầu để vẽ mặt cắt dọc của tuyến, dự trù vật tư thi công.
Ngày 7 tháng 7, chúng tôi đến Binh trạm 9, được gặp trực tiếp Chỉ huy trưởng để trình bày việc làm đường ống qua địa phận của binh trạm. Thật bất ngờ, Binh trạm trưởng Binh trạm 9 là anh Nguyễn Đàm, trước đây là Binh trạm trưởng Binh trạm 12 mà tôi đã gặp năm 1968. Hiện nay tuyến ống thuộc Binh trạm 12 và Binh trạm 31 đã vươn tới Ka Vát, đảm bảo đủ xăng dầu cho tuyến vận tải phía Tây. Tuyến ống này do Công trường 18, được tăng cường 2 Tiểu đoàn công binh 95 và 29 của Quân khu 4 thi công, Công trường 18 thời đó do đồng chí Mai Trọng Phước chỉ huy (khi chuyển sang quản lý đường ống Tiểu đoàn 95 đổi tên là 968, Tiểu đoàn 29 đổi tên là 868). Trước đây bộ đội phải gùi xăng lên đồi cao để đổ vào bể cao su, rồi cho xăng chảy qua ống cao su xen lẫn ống nứa xuống đóng phuy, rồi thả sông cung cấp xăng cho tiền tuyến. Phương pháp này vừa chậm, hao hụt cao và dễ gây nguy hiểm cho bộ đội, không đáp ứng được yêu cầu vận tải lớn. Vì thế khi có đường ống, anh Đàm và binh trạm như trút được gánh nặng, mà từ trước tới nay chưa có cách nào khắc phục. Khi vừa nhìn thấy tôi, anh Đàm chạy tới bắt chặt tay tôi, cười và nói: Đúng là quả đất tròn nên tôi lại gặp cậu. Chúng mình ở đây cũng thả phuy trôi sông như Binh trạm 12, các cậu đến, chắc là sẽ giúp bọn mình bỏ được công việc nguy hiểm này. Nhưng ở đây gần địch, nên đêm nào nó cũng cho máy bay thả bom vướng, mìn lá... dọc theo suối Tha Mé, sông Sê Băng Hiêng. Vì thế bộ đội thương vong nhiều. Để giúp các cậu khắc phục bom đạn cản đường, mình cử một sĩ quan nổi tiếng là dũng sĩ phá bom nổ chậm ở Cồn Cỏ mới về binh trạm, đó là trung úy Nguyễn Thành Cát. Cát sẽ dẫn đường và nhận vị trí tuyến ống cho binh trạm, nếu gặp phải bom mìn thì tháo gỡ. Mình cấp cho các cậu một ít thực phẩm và giới thiệu với các đơn vị trên dọc đường cấp bổ sung khi hết, để đỡ phải mang vác nặng. Các cậu có yêu cầu gì không?
Chúng tôi nhìn nhau phấn khởi, anh Sơn nói:
Báo cáo thủ trưởng chúng tôi không đề nghị gì nữa, chỉ xin thủ trưởng sớm cho anh Cát cùng chúng tôi lên đường.
Do có anh Cát dẫn đường, nên chúng tôi khảo sát khá thuận lợi, xác định được tuyến ống đảm bảo bốn yêu cầu: ngắn, gần, tránh, kín. Đặc biệt tìm được hang Pha Băng Nưa, rất thuận lợi cho vị trí đặt kho, trạm bơm và đóng quân. Ngày 26 tháng 7 công việc khảo sát đã hoàn tất, chúng tôi dậy sớm cuốn tăng võng, nấu ăn sáng cho ấm bụng để chuẩn bị vượt sông Sê Băng Hiêng, dự định trưa sẽ trở lại Pha Băng Nưa, tôi sẽ tranh thủ vẽ mặt cắt dọc tuyến, kịp về báo cáo với anh Đàm. Khi còn cách Pha Băng Nưa không xa, chúng tôi gặp một quả bom vướng cản đường, anh Cát hô mọi người lùi lại ngoài 20m, nấp vào các gốc cây to. Còn anh nhẹ nhàng tiến tới quả bom, anh Sơn thấy anh Cát mỗi mình lại vẻ lo lắng, nên cũng chạy đến, Nguyễn Thanh Cát xua tay:
- Anh Sơn lùi lại đi, đừng lên nữa. Đây là loại bom mới, chỉ để mình tôi thôi.. Không ai được đến! (Anh Sơn vẻ kiên quyết):
- Đảng viên đi trước, làng nước theo sau, khó thì anh và tôi cùng tìm cách tháo gỡ lo gì?
Vừa nói anh Sơn vừa tiến lại cùng anh Cát tìm hiểu cấu tạo quả bom. Chúng tôi hồi hộp theo dõi hai anh làm việc “bên lưỡi hái tử thần.”. Khoảng mưòi phút sau một tiếng nổ inh tai, nhức óc, tấm ni lông khoác trên người anh Cát bay lên ngọn cây, anh Sơn ngã vật ra, trong khói bom và bụi đất. Tôi thấy anh Cát nhanh chóng ngồi xuống tháo ba lô đặt xuốhg đất. Tôi chạy đến nâng anh Sơn dậy, ngực anh đẫm máu, tiếng thở khò khè đứt quãng; còn anh Cát kê hai đùi đã cụt tới hai đầu gốì lên ba lô, anh Đốc kỹ sư cũng chạy tới, tôi ra hiệu anh Đốc đỡ anh Sơn, còn tôi chạy lại phía anh Cát lục tìm bông băng trong ba lô để băng bó vết thương cho các anh. Anh Cát thều thào nói:
“Nhờ anh nói lại với Đảng ủy Binh trạm là kết nạp lại hoặc khôi phục Đảng tịch cho tôi, còn ba tấm Huân chương Chiến công của tôi khi chiến đấu ở Cồn Cỏ, tôi cho con trai tôi là thằng Thi để nó noi gương tôi. Các anh xem anh Sơn có sao không? Anh em mình có ai việc gì không?..”
Tôi lắc đầu:
- Không! Anh Sơn không việc gì, anh em không sao cả.
- Thế thì tốt. (Ngừng vài giây để lấy lại sức, bỗng anh Sơn hô to):
“Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch... muôn năm!
Thấy anh đuối sức tôi vội nói: Thôi, thôi . anh đừng nói to nữa, nói to lúc này máu ra nhiều không tốt đâu!.
Tôi quay lại gọi anh em chặt hai cây làm cáng, nhẹ tay đưa hai anh nằm lên võng, rồi thay nhau khiêng hai anh về trạm xá binh trạm. Vì đường xa, dốc hiểm, cây cối ngổn ngang, đi lại rất khó khăn, nên anh Sơn đã hy sinh trên dọc đường. Khi nhìn thấy trạm phẫu thuật thì anh Cát cũng trút hơi thở cuối cùng.. tay anh còn chới với yếu ớt như chào vẫy vĩnh biệt chúng tôi!., Cẩn thận, chúng tôi vào báo cáo bác sĩ ra thăm khám lại lần cuối cho các anh. Sau khi khám nghiệm kỹ càng, các bác sỹ xác định các anh đã hy sinh. Chúng tôi gạt nước mắt, nhiều anh khóc không ra tiếng được nữa vì thương tiếc các anh đã sẵn sàng nhận việc khó, nhận hiểm nguy, xả thân vì đồng đội. Nén nỗi thương đau chúng tôi cùng nhân viên của trạm, mai táng chu đáo cho hai anh. Khi bỏ hòn đất cuối cùng lên mộ các anh, tôi nghẹn ngào nói trong nước mắt:
“...Vĩnh biệt hai anh! Chúng tôi sẽ trả thù cho các anh bằng cách nhanh chóng đưa xăng vào chiến trường đê bộ đội ta đánh thắng giặc Mỹ. Chúng tôi sẽ nhanh chóng trở về báo cáo với thủ trưởng đế đơn vị làm lễ truy điệu trọng thể cho các anh.!”.Khi về tới binh trạm, anh Đàm nghe tôi báo cáo xong, mắt anh ngấn lệ nói: Đồng chí Sơn quê ở đâu nhỉ?
- Dạ khi còn sống anh ấy nói ở 31 Sa Bê Ra, Sài Gòn.là bộ đội tập kết, còn đồng chí Cát quê ở Bố Trạch, Quảng Bình.- Tôi hỏi lại anh Đàm:
- Báo cáo thủ trưởng, tại sao khi còn sống, anh Cát nói là đảng viên, anh ấy sinh hoạt tổ Đảng với anh Sơn và Đốc. Nhưng trước lúc hy sinh anh ấy lại nói xin kết nạp lại Đảng cho anh?
- À chuyện là thế này: khi ở đảo Cồn Cỏ vì đã dũng cảm lập được nhiều chiến công nên Cát được kết nạp Đảng ngay tại trận địa, trong lý lịch anh khai bố chêt. Khi xác minh địa phương cung cấp vì nghi bố anh Cát lấy trộm lúa, dân quân giam ông trong đình làng. Cùng lúc ấy máy bay Pháp ném bom gần đó, ông sợ nên phá cửa chạy ra ngoài đồng ẩn nấp. Máy bay địch vòng lại ném bom tiếp trúng đình làng, dân quân tưởng ông chỉ điểm, nên đã bắn chết ông. Vì thê người ta cho là lý lịch đồng chí Cát không trong sạch, lại còn khai thiếu trung thực, nên đã xoá tên đảng viên dự bị của anh. Tôi sẽ báo cáo Đảng ủy để khôi phục Đảng tịch cho đồng chí ấy.
Xong công việc. Chúng tôi trở về đơn vị (Công trường 18) báo cáo kết quả khảo sát và tình hình trên với anh Đặng Thế Hải. Anh chỉ thị toàn đơn vị tổ chức trọng thể lễ truy điệu anh Lê Hồng Sơn và Nguyễn Thanh Cát.
Tôi được phân công viết và đọc điếu văn trong lễ truy điệu hai anh, trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng đội…
Trưa ngày 24 tháng 8 năm 1998, nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Cục Xăng dầu. Để tưởng nhớ công lao của các anh hùng liệt sĩ, tôi đã đọc lại bài điếu văn này trước 500 cựu chiến binh Ngành Xăng dầu Quân đội. Trước mặt tôi, anh Đàm tóc bạc trắng, đôi mắt đẫm lệ. Sau bài diếu văn, tôi đọc tặng các chiến hữu câu đối có 3 vế như sau:
“Chiến tranh chia lửa cùng đồng đội”.
“Hoà bình chung sức dựng quê hương”.
Đó là hai vế tặng chung cho mọi người, còn vế thứ ba tôi tặng riêng cho các anh ngày ngày chăm lo làm việc từ thiện như anh Mai Trọng Phước, luôn quan tâm tới đời sống của đồng đội bị nhiễm chất độc da cam, gia đình các liệt sĩ và thương binh, gia đình các đồng đội còn gặp nhiều khó khăn trắc trở, chưa đủ sức vượt lên chính mình.,Vế đối đó là:
“Hoà bình chung sức giảm thương đau!”
Nhìn xuống hội trường tôi thấy đồng đội tôi ai cũng nước mắt ngấn lệ. Nhiều người ôm chặt vai nhau, nắm chặt tay nhau. Như một ý nguyện thề với những đồng đội đã anh dũng hy sinh trong cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước năm xưa. Rằng: Phần đời còn lại, chúng tôi sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các anh!.
Nguyễn Hữu Dư
Công trường 18 B - Bộ đội đường ống xăng dầu TS