HUÂN ĐẠI ĐỘI PHÓ ĐẠI ĐỘI 211 - E14 - F565
Huân quê Thái Bình, nhập ngũ vào F565 năm 1981. Hồi ấy, những chàng trai mười tám, đôi mươi từ đồng bằng Bắc Bộ lên Tây Bắc, lên sông Đà, ai cũng mang theo trong ba lô một ít quần áo, vài lá thư nhà và cả một bầu trời ước mơ của tuổi trẻ.
Huân là người hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, làm việc gì cũng cẩn trọng, chỉn chu. Sau một thời gian rèn luyện ở đơn vị, cậu được cử đi học lớp quân chính của binh đoàn tại Quy Nhơn. Học xong trở về, Huân làm cán bộ trung đội của C211, E14, F565. Những năm tháng ấy, được đi học rồi trở về làm chỉ huy là niềm tự hào không chỉ của bản thân người lính mà còn là vinh dự của cả gia đình nơi quê nhà.
Thời gian trôi nhanh, công trình Thủy điện Hòa Bình ngày càng đi vào những công đoạn cuối cùng. Khi tổ máy số 1 chuẩn bị phát điện, anh em trong sư đoàn vừa vui mừng, lại vừa có chút thấp thỏm. Vui vì công trình thế kỷ mà mình đổ bao mồ hôi, công sức sắp đến ngày hái quả. Nhưng cũng lo, vì ai cũng hiểu rằng, khi đại công trường hoàn thành, cuộc đời người lính xây dựng sẽ lại rẽ sang những ngả đường khác nhau.
Binh đoàn không còn nhiều việc để giao, các đơn vị phải tự tìm hướng đi mới và quân số bắt đầu tinh giản. Người thì phục viên về quê, người chuyển ngành, người đi xuất khẩu lao động. Tôi nhớ dạo ấy, làn sóng sang Nga, sang Đức rầm rộ, nhiều anh em đồng đội sĩ quan, chiến sĩ xuất ngũ và theo những chuyến tàu viễn xứ. Thượng úy Dũng xuất khẩu lao động sang Liên Xô sau mấy chục năm mới về nước kể “ Anh xem sang Liên Xô xuất khẩu lao động làm thợ xây, lúc đó như nhau hết, họ đổ cho một xe vữa với gạch, xây hết khối lượng được giao thì nghỉ.
Lúc đó, Huân đã là Thượng úy, Đại đội phó C211. Một buổi chiều, ngồi với nhau sau giờ làm việc, Huân nói với tôi bằng cái giọng trầm và chậm rãi vốn có: – Có lẽ em sẽ chuyển sang Sư đoàn 344 ở Lào Cai. Có người họ hàng bên cán bộ binh đoàn nói với em như vậy.
Tôi còn nhớ mình đã hỏi lại: – Thế à? Lên tận biên giới Lào Cai cơ à?
Huân chỉ cười. Nụ cười của cậu khi ấy không vui mà cũng chẳng buồn, giống như tâm trạng chung của rất nhiều người lính thời bấy giờ: ở đâu có nhiệm vụ thì đi, miễn là còn được khoác trên mình sắc áo màu xanh người lính.
Rồi Huân đi thật.
Hồi đó, Sư đoàn 344 đang làm đường ở vùng núi cao Lào Cai. Những cung đường xuyên núi, những bãi đá phải nổ mìn phá dỡ, những vách taluy dựng đứng giữa mây trời... Công việc thời bình nhưng hiểm nguy và khắc nghiệt chẳng kém gì thời chiến. Thời gian cứ thế vần vũ trôi đi, Huân được phong quân hàm Thiếu tá.
Nhưng số phận con người nhiều khi mong manh đến lạ.
Hôm ấy, đơn vị tổ chức nổ mìn phá đá mở đường. Theo quy trình, sau khi tiếng nổ dứt, máy ủi sẽ tiến vào san gạt mặt bằng. Huân ngồi chờ trên chiếc máy ủi ở vị trí gần khu vực nổ mìn. Không ai ngờ, sức công phá quá lớn, dư chấn đã khiến đất đá từ trên cao đổ ập xuống như thác lũ, hất tung cả chiếc máy ủi cùng Huân xuống vực sâu.
Người đồng đội năm nào của chúng tôi đã ra đi mãi mãi như thế. Sau này, Huân được Nhà nước truy tặng danh hiệu Liệt sĩ.
Tôi vẫn thường nghĩ, Huân không ngã xuống trên chiến trường, không hy sinh trong tiếng súng đạn của kẻ thù, nhưng máu của cậu ấy vẫn đổ xuống cho một hình hài đất nước vẹn tròn. Thế hệ chúng tôi đi qua chiến tranh, rồi lại tiếp tục đi qua những công trường, những cung đường, những đại công trình của thời bình. Có những người may mắn sống sót sau bom đạn, nhưng cuối cùng lại nằm lại giữa lòng đất mẹ khi dựng xây quê hương.
Vợ chồng Huân chỉ có độc một cô con gái. Năm tháng dần trôi, đứa trẻ ngày nào giờ đã lớn lên, bước vào cấp ba. Cuộc sống của một người góa phụ liệt sĩ nơi quê nhà có những nỗi cô đơn, tủi hờn mà người ngoài khó lòng thấu hết. Nhiều năm sau, chị quyết định đi thêm bước nữa với một người đàn ông cùng quê Thái Bình, khi ấy ông đã ngoài bảy mươi.
Một lần gặp lại, chị nói với tôi, giọng vừa như thanh thản, vừa như có chút ngậm ngùi: – Em tái giá, nhưng Nhà nước vẫn giữ chế độ liệt sĩ cho nhà em, anh ạ.
Tôi nghe xong, cổ họng nghẹn đắng, chẳng biết phải nói gì. Người phụ nữ ấy đã dành cả thanh xuân để thờ chồng, nuôi con, giờ tuổi xế chiều chỉ mong có một bờ vai nương tựa. Câu nói thật thà của chị sao mà xót xa quá.
Đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày ấy. Những người lính F565 năm xưa, người còn, người mất, người phiêu bạt khắp mọi miền bờ cõi. Nhưng mỗi lần nhớ đến Huân, tôi lại nhớ đến buổi chiều năm nào ở Hòa Bình, khi cậu ấy buông một câu nhẹ tênh: – Có lẽ em sẽ chuyển lên Sư đoàn 344 ở Lào Cai...
Khi ấy, cả Huân và tôi đều không thể biết rằng, con đường lên rẻo cao Lào Cai ấy lại chính là chuyến đi cuối cùng của một kiếp người lính.
Kỹ sư Nguyễn Minh Quang
Cán bộ Ban Tham mưu - E 14, F 565, Binh đoàn 12