TRỞ LẠI TRƯỜNG SƠN
Truyện ngắn: Hoàng Minh Đức
Sáp nhập tỉnh, Hội Cựu giáo chức cấp huyện giải thể, nhưng riêng ở xã tôi vẫn giữ nguyên Chi hội để còn có dịp thăm hỏi nhau lúc ốm đau, bệnh tật. Mấy giáo viên trẻ hơn, mới nghỉ hưu năm đầu tiên bảo lúc này phải tranh thủ đi du lịch, khám phá hết danh lam thắng cảnh trong tỉnh Quảng Trị, chứ để đến sau này lúc chân cẳng run rẩy, muốn đi cũng chẳng được.
Đang trên đường lên Động Phong Nha, bà Uyên, vợ của ông Trung bạn tôi, nói:
- Mình phải vào thắp hương ở Hang Tám Cô trước để các anh chị ấy phù hộ cho chuyến đi may mắn hơn. Mấy năm trước có một chuyến xe của cựu chiến binh đi tham quan thì gặp trời mưa rất to. Các anh ghé vào thắp hương ở Hang Tám Cô, đi qua dốc cua đường trơn trượt nhưng chẳng hề hấn gì vậy mà chuyến xe đi sau của bọn trẻ hội lớp không vào nên đã bị lật dọc đường.
Bà Uyên là trung tá công an huyện mới về hưu, bà thua chồng đến một giáp. Bà nhỏ nhắn, dáng đi đứng lại nhanh nhẹn nên trông rất trẻ. Chẳng bù lại cho bà xã nhà tôi, hôm nay phải ở nhà vì những cơn đau xương khớp hành hạ. Cả cuộc đời bà đã vắt kiệt sinh lực để chăm lo cho chồng con.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tiếp tục tám năm nữa vật lộn với đám tàn quân Pôn Pốt ở chiến trường Campuchia, cuối năm 1985 tôi mới xuất ngũ.
Thời kỳ này, đất nước ta đang bị bao vây cấm vận, đời sống cán bộ, công nhân viên vô cùng khó khăn, đặc biệt là vùng “cán soong” Quân khu Bốn. Vợ tôi, lương giáo viên ba cọc ba đồng, tiêu chuẩn lương thực mua theo sổ gạo, tháng chỉ được 13 kg mà có khi phải thay bằng phân đạm hoặc săm lốp xe đạp. Đến mùa thu hoạch khoai lang, cán bộ, giáo viên trong huyện phải về các hợp tác xã, ra ngoài đồng đào bới cùng bà con xã viên để được lựa chọn, khỏi mua phải khoai sùng. Có khi còn được họ biếu thêm cả rổ khoai về cho các cháu.
Ra quân, tôi mang hai tháng gạo tiêu chuẩn ở đơn vị (45 kg) theo chuyến tàu quân sự xuống ga Thuận Lý (Đồng Hới) rồi đi tiếp tàu chợ về làng. Thấy tôi về, vợ tôi mừng lắm. Các con tôi thì vui hết chỗ nói, đặc biệt là thằng cu Tí lúc nào cũng bám lấy cổ ba tíu tít kể chuyện.
Bữa cơm đầu tiên đoàn tụ, cả nhà được ăn cơm gạo trắng của đồng bằng sông nước Cửu Long thơm nức mũi chứ không phải những hạt bo bo độn đầy khoai sắn thường ngày. Câu hát nhại bài hát của nhạc sĩ Hoàng Vân: “Quảng Bình khoai khoai toàn khoai” có lẽ là xuất phát từ làng tôi, bên bờ sông Gianh.
Tôi đến thăm bà con họ hàng hai bên và chữa lại cái chuồng lợn, chuồng gà, chói lại mái bếp dột nát cho vợ. Ăn dè sẻn được hai tháng thì số gạo mang về cũng hết. Số gạo đó chẳng khác gì hạt muối bỏ bể đối với các con tôi, những “chiếc tàu há mồm” đang tuổi ăn tuổi lớn.
Tôi đến trường cũ. Một số anh em đã làm “kế hoạch ba”: buôn bò, mổ thịt lợn hay thu lượm các mảnh bom đạn sắt thép trong chiến tranh đổi lấy mì chính, vải vóc hàng hóa của Nhật. Mà sắt thép, mảnh bom, mảnh đạn thì Quảng Bình quê tôi nhiều vô khối.
Về làng tôi ít khi thấy thanh niên trai tráng đi ngoài đường, đa số gặp người già, trẻ con, phụ nữ. Thi thoảng có mấy đám thanh niên đốt pháo ăn mừng báo trúng trầm cho lái đến xem hàng. Thấy lạ, tôi đến chơi thì mọi người đang ngồi trên chiếc chiếu trải giữa sân uống rượu với thịt chó. Một người hoa chân múa tay: “Anh không biết chứ đi trong rừng, gặp người làng mình đông vui như trẩy hội”.
Tôi quyết định không nộp giấy tờ về ngành vội. Hãy thử đi tìm vận may, làm một chuyến trầm với họ xem sao. Nghe nói có người trúng một cái lõi trầm bắp chuối bán được mấy chục cây vàng. Có người lặc lè vác cả một bao tải tiền mà hoa cả mắt không đi nổi. Vợ tôi nói: “Em chắp tay lạy anh! Trở lại nghề dạy học cho nó lành, đừng tham ăn của nổi mà có ngày bỏ xác trong rừng già như thằng cu Thái, con dì Minh”.
Thằng Thái, con dì Minh tôi, đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài về được mấy ngàn đô. Thái tính mở trang trại nuôi gà thì thằng Sơn trong xâu trầm đến nhà dỗ ngon dỗ ngọt: “Mua trầm tại cội rẻ lắm, về lán ngồi xoi rồi bán lại cho bọn lái buôn Huế, một lãi gấp đôi. Nếu anh không cáp được thì đã có bọn em”. Trong làng tôi lúc đó có nhiều tốp lái trầm người Huế đóng đô ở nhà ông Toàn để đón hàng người làng đi cội về. Có tốp còn lên chực sẵn ở cửa rừng Phong Nha để được mua hàng trước. Nghe bùi tai, thằng em tôi xách cái cặp số ra ngân hàng rút tiền về, đi cội. Một tuần sau, tin bay về làng: “thằng Thái đã bị phỉ Mẹo bắn chết bên Lào”. Cuối cùng, thằng Sơn xách về cái cặp số, mở ra bên trong chỉ có lá dó bầu khô trao lại cho dì dượng tôi.
Kiếp phu trầm nghiệt ngã là thế. Trong làng tôi đã có chục thanh niên trai tráng bị sốt rét ác tính và cảm hàn mà chết nơi rừng thiêng nước độc.
Ra đi mà có người can ngăn chắc thế nào cũng có chuyện. Thôi thì cứ đi rú mây cho chắc ăn. Gì chứ, đi chẻ mây một tuần cũng bằng cả tháng lương của giáo viên. Người dân La Hà ngày nào chả đến làng tôi để mua mây sợi về đan mây tấm xuất khẩu.
* * *
Theo dòng sông Son, một đoàn 5 người chúng tôi chèo đò lên đậu ở bến phà Xuân Sơn. Gửi các cây chèo cho một gia đình người quen ở Phong Nha, chúng tôi mang ba lô đi bộ đến km số 0 trên đường 20 Quyết thắng. Đến khe Ro, cả đoàn dừng lại để nghỉ, giở cơm nắm ra ăn. Rừng Trường Sơn chim kêu, vượn hót nghe thật vui tai. Mùa hè, đi trong rừng nghe tiếng ve kêu râm ran như một dàn hợp xướng. Một con khỉ bạc má nghiêng mắt dòm ngó. Khi chúng tôi đến gần nó kêu éc éc mấy tiếng đánh động. Cả đàn nhảy từ cây nọ sang cây kia rào rào. Chẳng cần nón mũ, chúng tôi đi dưới bóng cây xanh mát. Có một con suối mọc toàn môn thục, môn voóc; thỉnh thoảng có những bè rau muống nổi trên mặt nước, nhiều đọt lao vọt lên trắng muốt. Thằng Hoàn nói với tôi: “Đây là hà Rau Răm chú ạ. Ngày xưa, thanh niên xung phong làm đường ở đây họ nhổ rau răm trời đi để trồng rau muống”. Nhìn lên sườn núi, cơ man nào là chuối. Chuối ri mọc thành hà bạt ngàn xanh tốt. Có vài hoa bắp chuối đỏ tươi điểm xuyết trên màu xanh của lá, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt vời.
Đến một ngã ba, thằng Hải, em trai của Hoàn bàn: “Hay bây giờ mình đi sang đường Đại Cáo? Đường So Đũa thì nhiều mây nhưng các khe nước đã cạn. Hôm trước bọn em phải chặt cây chạc chìu để lấy nước nấu cơm. Nước chạc chìu nấu lên, hạt cơm cứ vo tròn lại đen sì”.
Bàn đi tính lại, chúng tôi rẽ về Đại Cáo. Càng đi, vào sâu cảnh vật càng đẹp. Dưới tán nắng, từng chùm hoa vàng anh đan xen giữa sắc vàng tươi và cam đỏ, nổi bồng bềnh trên màu xanh của rừng núi đại ngàn. Đi dọc theo con đường mòn bên bờ suối, quần áo như được ướp trong mùi hương dịu nhẹ của hoa vàng anh đầy quyến rũ. Thằng Hải nói văn hoa: “Ngày xưa các phi tần, mỹ nữ cũng ngâm mình trong bồn nước có các cánh hoa thơm để tắm gội, ướp hương cơ thể trước khi đến hầu hạ vua”.
Hoàn giục: “Đi nhanh lên để còn kịp đóng trại! Mày lúc nào cũng thơ với thẫn, lãng mạn như thầy Trung”.
Trung, anh bạn cùng lớp với tôi, nay đã ngót bốn chục cái xuân xanh mà vẫn chưa lấy vợ. Anh người thanh cảnh, thư sinh, nước da trắng nõn nà như con gái, lại biết làm thơ, hay đàn, hay hát. Con gái trong làng vây quanh anh rất đông nhưng anh chẳng chịu “chấm” ai. Người ta nói anh quá kén chọn. Cũng có người nói vì hồi đi bộ đội, anh đã từng yêu say đắm một cô giao liên hy sinh nên bây giờ theo người âm…
Chúng tôi đóng trại bên một cái khe nước nhỏ. Mọi người chặt bốn cây to làm cọc trụ, lấy lá tro lợp mái, lấy tàu đủng đỉnh lát lên sạp nứa để nằm. Tôi là người lớn tuổi được ưu tiên việc nhẹ. Tôi tìm ba hòn đá kê lên làm một cái bếp dã chiến, rồi kiếm củi nấu cơm. Làm xong lán thì trời sẫm tối. Ở trong rừng trời tối nhanh lắm. Không có đèn, mọi người đốt một đống lửa thật to để ăn cơm và xua đi bầy muỗi rừng vo ve to như những con ruồi vàng.
Lần đầu tiên đi mây, tôi bám theo thằng Hải. Hải chỉ cho tôi cách chặt gốc, cách bóc tách các bẹ mây ra. Nhìn tay nó cầm cái rựa móc mấu vào bẹ mây, bóc oang oác mà tôi phát thèm. Có những bụi mây quấn quanh lấy bụi dang, nứa, tôi giật mấy cái không được. Nó bảo:
- Chú phải chặt mấy cây dang đi đã chứ! Chú xem đây này.
Hải nhảy phắt lại, chặt mấy cây dang cho ngã rạp xuống, rồi hai chú cháu cùng kéo từng cây mây ra. Có những cây mây già tróc vỏ nằm dài trên mặt đất, hăn ra được ba đến bốn đốt (mỗi đốt dài 5 mét). Đến 12 giờ trưa, chúng tôi hú nhau kéo số mây đốt về trại. Ăn cơm trưa xong, mọi người bắt đầu chẻ các đốt mây ra thành sợi. Muốn sợi không bị lẹm, phải chẻ ngược từ phía đầu ngọn lại, bàn tay phải biết nấn lưỡi rựa cho đều. Những đốt mây to có thể chẻ được ba, bốn sợi, đốt mây nhỏ thì chẻ làm hai.
Đến ngày thứ năm, ngày lấy mây cuối cùng, tôi tình cờ phát hiện có mấy bụi mây nằm la đà ngang ngực trải dài giữa vạt nứa. Lạ lùng thay, bỗng đâu xuất hiện một bầy chuột rừng to gấp đôi chuột nhà, với bộ lông đen tuyền óng mượt và hai chân trước vàng ươm như gà tam hoàng. Chúng chẳng hề sợ người, cứ bám riết lấy tôi mà kêu chít chít. Bực mình, tôi vung rựa phạt mấy nhát nhưng không trúng. Bầy chuột như đang trêu ngươi, thách thức kẻ lạ dám xâm phạm giang sơn của chúng.
Đột nhiên, một con xông tới gặm chặt tay áo, tôi liền giơ cao rựa gạt mạnh xuống đất. Chẳng may cán rựa vấp phải dây rừng, lưỡi rựa cắm phập vào bàn tay trái khiến tôi đau điếng thét lên một tiếng. Trời đất tối sầm, tôi ngã gục xuống. Hải hớt hải chạy lại:
- Trời ơi! Máu ra nhiều quá! Sao lũ chuột rừng này bạo gan thế không biết?
Nói rồi, cậu ta vội lấy rựa đập vào bụi nứa, la hét xua đuổi mãi đàn chuột mới chịu tản mát.
Sau sự cố đó, cả đoàn xúm lại giúp tôi chẻ mây. Thằng Hoàn chặt cây tươi làm giàn sấy, thằng Hải và thằng Khóa đi vác củi giúp tôi. Còn tôi chỉ việc nhóm bếp nấu cơm, bẻ thêm mấy đọt măng dang về nấu canh cho cả đoàn ăn bữa tối.
* * *
Đang đi, bầu trời bỗng trở nên xám xịt. Tôi lảo đảo vác bó mây đi sau đoàn vì cơ thể đã thấm mệt. Hơn nữa, do mất máu, sức tôi yếu dần. Trời nổi gió, lá cây rừng quất tới tấp vào mặt. Mọi người đi như chạy. Họ cố chạy kịp về làng Phong Nha trước lúc trời tối. Mưa rơi nặng hạt. Bó mây ngấm nước mỗi lúc một trĩu nặng. Gió rít từng hồi, gào thét. Tôi nghe trong gió những tiếng hú từ xa vọng lại. Những ngọn cây cao vặn vẹo, quằn quại. Tôi mệt nhọc lê đi từng bước một.
Lại gặp một ngã rẽ! Không biết cả đoàn đã đi đến tận đâu rồi. Bây giờ biết rẽ lối nào đây? Tôi đánh liều bước đại vào một con đường. Phía trước loáng thoáng có bóng người. Tôi cố bươn theo cái bóng đó. Bó mây vấp phải các bụi cây ven đường, tôi ngã dúi dụi. Người kia dừng lại đợi. Tôi vùng dậy, bươn bả chạy theo. Tôi mải miết đuổi theo cái bóng, bám riết không rời. Đến một cái hang đá nhỏ thì chẳng thấy ai hết. Đành phải vào hang đá trú tạm thôi. Gọi là hang nhưng phải nói đó là một cái hốc đá thì đúng hơn. Trong hốc đá khá sạch sẽ và rất bằng phẳng, đủ để đặt một cái giường. Trời tối dần. Dựng bó mây thẳng dậy dựa vào thành hốc đá, tôi gối đầu lên chiếc ba lô để ngủ. Ngoài kia gió vẫn giật đùng đùng, mưa vẫn quất ràn rạt. Trong giấc mơ tôi nghe có tiếng người kêu: “Các anh ơi cứu các em với”. Tiếng vọng từ đâu tới. Ban đầu còn nhỏ, sau to lên rồi lại nhỏ dần.
Một người lính đội chiếc mũ sắt pháo phòng không đến lay tôi dậy:
- Này ông bạn! Bây giờ mà ông còn nằm đây được à? Ông có nghe tiếng người kêu cứu đó không?
- Ai kêu? Kêu ai? - Tôi rướn cổ nhìn người đàn ông, hỏi giật giọng.
- Các cô thanh niên xung phong chứ còn ai nữa. Tôi xin tự giới thiệu, tôi là lính cao xạ pháo 85 ly, quê Ninh Bình, thuộc Trung đoàn 210. Hiện nay, các cô thanh niên xung phong Đội 25 thuộc Binh trạm 14 đang nằm mắc kẹt trong hang đá, cách đây nửa cây số.
- Còn tôi là trưởng xe tăng T54, Trung đoàn 203, quê ở Quảng Trạch, Quảng Bình. Làng tôi ngay cuối dòng sông Gianh này.
- Ở đại đội tôi cũng có một đồng chí quê ở Quảng Trạch, nghe nói trước đây học Đại học Sư phạm Vinh ra. Anh ấy vẫn tranh thủ dạy bổ túc văn hóa cho chúng tôi lúc rảnh rỗi đấy. Bây giờ đồng chí hãy cho xe tăng đến hang đá mau đi, móc xích kéo tảng đá ra để giải cứu đồng đội mình!
Tôi bay là là trên ngọn cây theo anh đến một cái hang. Trước cửa hang là một khối đá khổng lồ có lẽ cả trăm tấn đang án ngữ. Một cái ống tio ai luồn theo khe hở vào trong. Tôi cất tiếng gọi:
- Có ai còn sống trong hang không?
Không có tiếng trả lời. Một hồi sau có những giọng nói vang lên thều thào, yếu ớt:
- Mẹ ơi cứu con! Các anh ơi! Cứu các em với! Tiếng gọi thảm thiết nhỏ dần rồi tắt lịm.
Người lính pháo cao xạ thở dài:
- Trước đó 8 ngày, đội thanh niên xung phong nhận được lệnh của Binh trạm 14 yêu cầu phải san lấp hố bom giải phóng mặt đường để đêm đến có một đoàn xe vượt qua trọng điểm. Chiều 14 tháng 11, khi đoạn đường sắp hoàn thành thì báo động có máy bay đến. Các chiến sĩ trong đơn vị đã kịp rút về hầm trú ẩn, riêng một số đang làm ở đoạn này chỉ kịp chạy vào trong hang. Sau trận bom, chúng tôi đến thì hoảng hốt phát hiện một tảng đá lớn đã lấp kín miệng hang. Lúc đó có đoàn xe kéo pháo đi qua, hai chiếc xe xích đã móc cáp vào tảng đá để kéo, nhưng mấy sợi cáp đều bị đứt mà hòn đá vẫn trơ trơ. Chỉ còn một cách duy nhất là nổ mìn phá đá, nhưng làm vậy thì các anh chị ấy sẽ bị sức ép mà tử vong.
Tôi nói chắc như đinh đóng cột:
- Bây giờ, trung đoàn tôi đang đóng quân ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Trung đoàn có các loại xe tăng T54, T59 và PT76. Động cơ của T54 và T59 mạnh hơn xe xích kéo pháo rất nhiều. Bây giờ tôi đã có cách. Bàn chải lại mặt bằng trước cửa hang, gọi thêm nhiều xe nữa móc vào nhau tạo hợp lực cả mấy xe mà kéo mới lăn hòn đá ra được. Đồng chí chờ tôi báo cáo với chỉ huy tôi đã nhé.
Đột nhiên, một tiếng “huitt” rất dài, thật chói tai vang lên. Tiếng kêu của con chim phượng hoàng đất trước cửa hang làm tôi giật mình tỉnh giấc. Mặt trời đã lên khá cao. Sau cơn mưa, bầu trời trở nên quang đãng, mát mẻ lạ thường. Thì ra đó chỉ là một giấc mơ. Người lính pháo cao xạ đó có lẽ là hương hồn của một liệt sĩ đã hy sinh trên tuyến đường này trong năm 1972.
Tôi xốc lại ba lô, vác bó mây đi theo con đường đã mọc um tùm cỏ dại để ra bến phà. Đi một quãng tôi thấy một tấm bia khắc tên 8 liệt sĩ thanh niên xung phong và 5 liệt sĩ pháo cao xạ dựng trước cửa hang. Cả 8 thanh niên xung phong quê đều ở Thanh Hóa. Còn 5 chiến sĩ pháo cao xạ quê ở Lào Cai, Tuyên Quang, Ninh Bình.
Sau này trung đoàn tôi đã trở thành Lữ đoàn 203 giải phóng Sài Gòn trong mùa xuân đại thắng năm 1975. Bây giờ ngẫm lại, nếu lúc đó trung đoàn đang đóng ở hang Tám Cô chắc chắn sẽ cứu được. Nhưng trung đoàn đang ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình cách đến mấy chục cây số và cũng không có thông tin gì về tảng đá đã lấp cửa hang ở xã Thượng Trạch, (tỉnh Quảng Trị mới).
* * *
Đường 20 Quyết thắng nối tuyến đường phía đông với tây Trường Sơn nay đã được rải nhựa chạy mấy làn xe. Người lái xe đưa chúng tôi đi lên đây quả là một tay lái lụa. Đường quanh co như thế mà tay lái anh vẫn vững vàng. Chắc nhiều lần anh đã về đây nên biết khá kỹ càng về khu du lịch này. Thi hài của liệt sĩ đã được quy tập an táng tại các nghĩa trang liệt sĩ. Nhà nước đã cho tôn tạo lại cái hang để du khách viếng thăm. Anh chỉ cho chúng tôi xem một cây chuối ri trước cửa hang có 8 nải. Anh nói khi cây chuối mẹ ngã xuống, các cây khác mọc lên cũng trổ đúng 8 nải. Chúng tôi cũng gặp rất nhiều người dân địa phương đến thắp hương. Họ nói các anh chị ở đây thiêng lắm. Hàng ngày có một con tắc kè cứ đúng vào thời khắc giờ chiều máy bay Mỹ đến thả bom nó kêu lên 8 tiếng. Có con thạch sùng đẻ đúng 8 quả trứng nữa.
Cả đoàn chúng tôi đứng nghiêm trang trước ban thờ. Sau khi đặt hoa quả lên xong ông Trung đưa cho chúng tôi mỗi người cầm một que hương, cúi đầu mặc niệm một phút. Dưới làn khói hương trầm nghi ngút ông đọc:
Chúng tôi về thăm lại chiến trường xưa
Bỗng giật mình nghe trong gió núi:
"Các anh ơi cứu các em với!"
Nửa thế kỷ rồi buốt nhói con tim.
"Các anh ơi! Hãy cứu chúng em!"
Tiếng kêu vỡ, bào mòn vách đá
Chín đêm ngày chạm vào lịch sử
Chìm dần sâu trong hang đá lạnh lùng.
Các anh, chị nằm giữa Trường Sơn
Hang Tám Cô - một vùng máu đổ
Máu xương thịt tan hòa cây cỏ
Nâng con đường những chuyến xe qua.
Đường Hai mươi - tọa độ máu và hoa.
Hang Tám Cô - khối pha lê rực rỡ
Trên đỉnh núi vút cao chùm sao nhỏ
Vọng niềm tin, tỏa sáng con đường.
Chúng tôi về thắp nén hương thơm
Hương trầm quyện ngàn cây xanh biếc
Nửa thế kỷ, những linh hồn bất diệt
Ánh, trăng ngàn soi tỏ bước ta đi.
Đọc xong bài thơ, hai mắt ông Trung đỏ hoe, rưng rưng rớm lệ. Ông nói: “Các anh các chị ạ! Ngày xưa đơn vị pháo cao xạ chúng tôi từng chiến đấu ở nơi đây, chính ngay trên cung đường này. Tôi đã gặp các cô thanh niên xung phong ngã xuống cho những chuyến xe lăn bánh qua vào chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Có một cô gái khuôn mặt giống hệt với khuôn mặt của bà Uyên, vợ tôi bây giờ”.
Hoàng Minh Đức
Thôn Bắc Minh Lệ, xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị.