Những người treo mình trên vách đá sông Đà - Hồi ký: Nguyễn Minh Quang

Ngày đăng: 10:26 06/07/2026 Lượt xem: 83
NHỮNG NGƯỜI TREO MÌNH TRÊN VÁCH ĐÁ SÔNG ĐÀ

       1. Ký ức nơi cao độ 50
         Trước năm 1984, ở công trường xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình, khu vực cao độ 50 — nơi sau này là cửa vào gian máy và gian biến thế — vẫn còn là một bãi đổ đá thải. Đá hộc, đá tảng ngổn ngang từ những vụ khoan nổ mìn xẻ núi được đổ ra đây.
         Khoảng cuối năm 1984, nhịp độ công trường hối hả hơn khi có sự xuất hiện của những chiếc máy khoan tự hành với mũi khoan phi 100 để hạ nền, tạo hố móng mở lối vào các cửa hầm phía dưới. Khi việc hạ nền hoàn thành, Công ty Công trình ngầm bắt đầu tiến hành khoan mở các hầm xả lũ số 1, số 2 và các hầm dẫn nước.
         Sau hàng loạt đợt nổ mìn phá đá rầm trời, hố móng ngày càng sâu hun hút, lộ ra những vách đá dựng đứng, chênh vênh và chi chít các khe nứt. Rất nhiều tảng đá nứt nẻ lớn bị tách ra  khỏi khối đá gốc do sóng xung kích sau khi nổ mìn, nằm chực chờ, chỉ cần một cơn mưa lớn hay một cơn gió chướng là có thể đổ ụp xuống bất cứ lúc nào, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của rất nhiều con người đang lao động và máy móc thi công phía dưới.
         Để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trường, Tổng công ty sông Đà  đã giao cho Trung đoàn 14, Sư đoàn 565 cử bộ đội đến  thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm mà cánh lính chúng tôi ngày ấy quen gọi bằng cái tên: "bạt xả". Đó là việc dùng xà beng để cậy, bẩy những khối đá nứt nẻ, có nguy cơ sạt lở còn sót lại trên các vách núi đứng thành vách vại. Ở E14, F565, nhiệm vụ gian khó này được tin tưởng giao cho Đại đội 6 và Đại đội 20.
        2. Những dáng người treo giữa trời cao
          Đã hơn bốn mươi năm trôi qua, một phần gần nửa thế kỷ, nhưng mỗi lần nhớ lại, lồng ngực tôi vẫn dội lên những thanh âm và hình ảnh của những người lính năm ấy. Trong thung lũng quanh năm bảng lảng sương mù nơi Trung đoàn 14 đóng quân, lán trại của Đại đội 6 và Đại đội 20 nằm vắt vẻo trên lưng chừng núi. Thời gian bụi mờ đã làm nhòe đi nhiều khuôn mặt trẻ tuổi, nhưng tên của những người chỉ huy trực tiếp lăn lộn với anh em làm công tác bạt xả ngày ấy thì vẫn ghim chặt trong ký ức tôi: anh Khởi, anh Cường, anh Thế...
          Mỗi buổi sáng, khi sương mù vùng Tây Bắc còn ôm chặt lấy núi rừng và dòng sông Đà hung dữ, tiếng còi báo thức đã vang lên. Bộ đội thức dậy tập thể dục, ăn vội vã bữa sáng rồi hành quân ra công trường. Hành trang ra trận của họ thời bình thật giản dị, nếu không muốn nói là thô sơ: một đôi giày vải cao cổ, chiếc mũ cối bạc màu, một cây xà beng thép đặc và cuộn dây thừng lớn mà cánh lính hay gọi là dây chão.
           Ra đến mép vực, họ buộc một đầu dây chão vào thắt lưng mộc mạc, đầu kia cột chặt vào những tảng đá lớn cố định trên bờ. Rồi cứ thế, từng người một, tay mang theo chiếc xà beng, từ từ thả mình tuột xuống lưng chừng những vách đá dựng đứng sâu hun hút.
         Giữa khoảng không bao la, họ lơ lửng như những dáng người được tạc vào bức tường đá khổng lồ của tạo hóa. Giữa nắng cháy gắt gao hay gió đại ngàn lồng lộng, những người lính kiên nhẫn dùng xà beng cậy, bẩy từng khối đá nứt nẻ, bắt chúng phải khuất phục và rời ra, rơi rụng xuống vực sâu thăm thẳm phía dưới. Xử lý xong vị trí này, họ lại bám dây đu mình sang vị trí khác. Cứ thế, ngày này qua ngày khác, những tấm lưng trần đẫm mồ hôi sạm đi vì nắng gió, đối mặt với tử thần từng giây từng phút.
         Có một kỷ niệm nhỏ mà tôi nâng niu mãi. Lần ấy, tôi nhìn thấy một chiến sĩ trẻ măng, có lẽ vì nắng nóng oi nồng của hốc đá và sự mệt mỏi thể xác sau nhiều giờ bám đá, cậu ấy đã nép mình vào một hốc đá nhỏ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Dưới chân cậu là vực sâu, trên đầu là đá tảng.
         Thấy vậy, tôi ái ngại nói với người chỉ huy nhóm đứng trên bờ. Anh sĩ quan không quát mắng, chỉ nhẹ nhàng cầm sợi dây chão rung rung vài nhịp định hướng. Sợi dây truyền đi hơi ấm và mệnh lệnh từ đất mẹ. Người lính trẻ giật mình tỉnh giấc, ngẩng đầu nhìn lên bờ cười bẽn lẽn, rồi lại lặng lẽ cầm chắc cây xà beng, tiếp tục công việc của mình. Hình ảnh người chiến sĩ ngủ quên bên vách đá, dịu dàng và kiên cường ấy, đến tận bây giờ, vẫn là biểu tượng đẹp nhất về người lính trong lòng tôi.
        3. Khoảng lặng sau lớp bê tông khổng lồ
        Sau này, khi tiến hành lấp sông đợt hai, công trường dùng đất đá lấp kín kênh bờ phải. Đến khi các tổ máy lần lượt phát điện, mang dòng sáng đi khắp mọi miền Tổ quốc, các hầm xả lũ số 1 và số 2 cũng được lấp lại để dòng nước được dẫn hoàn toàn vào tám đường hầm áp lực vĩ đại, lao thẳng vào lòng núi để làm quay các tuabin trong hầm gian máy và thoát ra từ các cửa xả phía hạ lưu.
Bây giờ, mỗi lần có dịp trở lại thăm Nhà máy thủy điện Hòa Bình, đứng trước những bức tường bê tông đồ sộ, sừng sững như một kỳ tích của bàn tay và khối óc con người, nhìn người dân thong thả mang cần ra câu cá bên mép nước thanh bình, tôi không còn nhận ra đâu là vị trí của hố móng đầy hiểm nguy năm xưa nữa. Tất cả đã thay đổi. Màu xám xịt, hoang vu của đá dữ năm xưa đã được thay thế bằng dòng điện reo vui và màu xanh của sự sống thanh bình.
         4. Tất cả có thể đổi thay, chỉ có ký ức của những người lính là còn ở lại.
        Đâu đó, sau những lớp bê tông cốt thép khổng lồ đang chịu đựng sức nén của hàng triệu khối nước kia, trong trí nhớ của những người từng sống và vắt kiệt tuổi trẻ ở công trường Hòa Bình, vẫn vẹn nguyên bóng dáng những người lính E14, F565 năm ấy. Những con người đã từng đem lồng ngực thanh xuân treo mình trên vách đá, giữa mây mù và gió núi sông Đà, dùng xương máu và mồ hôi bạt đi những hiểm nguy, khơi dòng cho nguồn mạch năng lượng của đất nước. Họ chính là những người đã dựng xây nên nền móng cho hai chữ Bình yên hôm nay.

                    Đại úy Nguyễn Minh Quang
  Nguyên cán bộ Ban tham mưu Trung đoàn 14,
                Sư đoàn 565, Binh đoàn 12
tin tức liên quan