Kỷ niệm 79 năm ngày TBLS (27/7/1947-27/7/2026)
KÝ ỨC ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN THEO CÙNG NĂM THÁNG
Hồi ký TRẦN QUANG TƯỚC
Đã hơn 50 năm qua rồi. Tôi, người chiến sỹ lái xe thuộc đội vận chuyển 2, Cục Công trình 1 thuộc Bộ Giao thông vận tải, chốt tại nông trường Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình, với nhiệm vụ vận chuyển quân lương, phục vụ công trường 20 tháng 7. Năm tháng đi qua nhưng trong tôi vẫn giữ mãi biết bao kỷ niệm về đồng đội đã từng có những năm tháng sống chết cùng nhau, ngày đêm đưa xe vượt qua bom đạn giặc Mỹ đưa hàng ra mặt trận. Nhớ về một thời ở Trường Sơn, những ngày tháng đồng đội “Công trường 20 tháng 7” chúng tôi đã cùng nhau nguyện thề sống chết với Trường Sơn.
“Công trường 20 tháng 7” trên đường Trường Sơn ra trận mà chúng tôi đã có những năm tháng sống chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong suốt thời gian 1967 - 1973. Bao nhiêu năm đất nước, quê hương đổi thay nhưng dấu tích xưa trên đường Trường Sơn máu lửa này vẫn còn vẹn nguyên trong tôi.
Tôi còn nhớ không thể nào quên đêm ấy, là 29 tháng 12 năm Đinh Mùi 1967. Vào lúc gần đến giao thừa đón xuân Mậu Thân 1968, đoàn xe chúng tôi đang trên đường Trường Sơn ra tiền phương thì bị máy bay Mỹ oanh tạc, tại bờ Nam bến phà Long Đại. Sau tiếng gầm rú điên cuồng của máy bay Mỹ, liền đó là hàng loạt tiếng bom đạn từ trên trời trút xuống, rồi tiếng đạn pháo đánh trả máy bay địch của bộ đội ta. Cả khoảng trời lửa khói bay mù mịt. Giữa đêm tối tiếng gọi, tiếng kêu cứu thảm thiết trong bối cảnh hoảng loạn kéo dài tới nửa tiếng đồng hồ.
Có lẽ vì hoảng sợ những làn bão đạn từ trận điạ pháo 12 ly 7 của bộ đội ta đánh trả quyết liệt nên máy bay địch đã tháo thân bỏ chạy. Trong đêm tối ấy hình ảnh trong tôi tiếng nói dõng dạc của đồng chí Tại tổ trưởng: “Các đồng chí đảng viên, đoàn viên hãy dũng cảm bước vào cứu người, cứu xe!’’. Tiếng nói của đồng chí tổ trưởng ngay lập tức trở thành mệnh lệnh có hiệu lực. Chúng tôi xông thẳng vào những đám lửa cháy, cứu xe, cứu hàng tìm kiếm đồng đội thoát khỏi nguy hiểm, rồi băng bó cho các anh em bi thương, khắc phục sửa chữa cho từng xe và chuyển các anh em đã hi sinh về đơn vị (Đơn vị tôi đóng tại Nèn Đá nông trường Lệ Ninh, cách bến phà Long Đại chừng gần 20 km). Đêm ấy anh em lái xe chúng tôi, có cả số thanh niên xung phong đi theo bốc xếp và áp tải hàng, số chết và bị thương có tới 9 người, trong đó đơn vị tôi có 2 đồng chí: Vũ Mạnh Dũng và Lê Đăng Khoa đã hy sinh. Ngay đêm ấy chúng tôi chôn cất các anh xong rồi tiếp tục đưa xe và hàng vào hầm trú ẩn an toàn. Một lúc thì trời cũng vừa sáng. Nhìn lại các đầu xe, hầu như xe nào cũng bị bom bi địch phá vỡ hết kính chắn gió và bục lốp tới hơn một nửa số xe. Sáng hôm sau cũng là mồng 1 Tết Mậu Thân. Đón năm mới mà cả tiểu đội xe chúng tôi ai cũng đôi mắt đỏ hoe, mặt buồn rười rượi.
Nhìn bề ngoài thấy rõ tinh thần có phần sa sút, tư tưởng cũng bị dao động. Khoảng 10 giờ buổi trưa hôm ấy có đoàn cán bộ của trạm X4 đến chúc Tết và động viên đơn vị. Cùng đi với đoàn có đồng chí Nguyễn Trọng Giai là Cục phó Công trình 1. Quà đầu xuân là lời động viên, căn dặn của đồng chí Cục phó, sao mà thật thấm thía, làm ai cũng ấm lòng, vững tin đến lạ thường. Qua giọng nói tình cảm lộ trên gương mặt và trong khóe mắt đậm nét buồn, rồi các đồng chí trong đoàn cùng chung bữa cơm thân mật đón xuân mới với cán bộ chiến sỹ trong đơn vị ngay giữa trận địa. Đúng là ‘‘Tướng sĩ tri binh’’. Tinh thần của anh em chúng tôi như được sưởi ấm, niềm vui, niềm tin trở lại hiện lên trong từng khuôn mặt, ánh mắt nụ cười mỗi người. Sau bữa cơm thân mật với đoàn cán bộ X4 cùng vào dự những buổi trước giờ xuất phát của các chiến dịch, được nghe lời tâm tư căn dặn chỉ bảo của đồng chí Đào Thanh - Cục phó, Bí thư đảng ủy Cục, chúng tôi càng thấm thía, sáng tỏ những yêu cầu cấp bách của Công trường 20 tháng 7.
Tổ xe biệt phái của chúng tôi được lãnh đạo Cục quyết định bổ xung thêm lực lượng thành lập đội vận chuyển 2 do đồng chí Tô Ngọc Chấn làm đội trưởng, đồng chí Trịnh Văn Kiện đội phó, gồm 2 phân đội được chia thành 4 tiểu đội. Đêm đêm từ Nèn Đá rừng cao su Nông trường Lệ Ninh vượt qua bao địa danh ‘‘tử thần’’. Đoạn đường dài trên 40 km bắt buộc phải qua ngã ba Dân Chủ, ngã ba Thác Cóc, bến phà Long Đại. Ba địa danh trên là ba trọng điểm bắn phá ác liệt của máy bay địch nên được gắn thêm cái tên “Ngã ba Âm Phủ”, “Ngã ba Khóc Lóc”, “Bến phà Long Đầu”. Rồi tiếp phải qua ngầm 3, ngầm 4, Vĩnh Tuy, ngầm Đá Mài mới tới được bến gạo Ngân Sơn. Cứ như thế hai đêm mỗi xe phải được một chuyến hàng.
Chưa đầy 4 tháng đội xe chúng tôi đã phải bổ xung hàng chục xe và lái xe. Bởi có những đêm bom Mỹ cướp mất cả xe lẫn hàng, có lái xe bị hy sinh, hoặc bị sức ép, bị mang thương tật nặng phải trở về tuyến sau. Đội vận chuyển 2 chúng tôi có trên 30 đầu xe chốt tại Km số 3 đường 20 tháng 7, thuộc nông trường Lệ Ninh, có nhiệm vụ phục vụ công trường 20 tháng 7 với hơn một nghìn cán bộ chiến sĩ, hàng chục máy C100. Thật quá nặng nề và gian nan vất vả. Để công trường mở được 50 km đường phải có hàng trăm tấn thuốc nổ, hàng trăm tấn xăng dầu, hàng ngàn tấn lương thực, từ trạm cung ứng nông trường Việt Trung, bến gạo Ngân Sơn, điểm tập kết ở Hồ Xá.
Cung đường gần 100 km này phải qua bao trọng điểm bắn phá ác liệt dữ dội của máy bay địch. Đường mở đến đâu phải cung ứng đến đó, trong nội tuyến đường có đêm xe chỉ đi được 5km đến 7km. Vào những ngày mưa xe phải trèo, bò lên gỗ rừng lát long đanh, nhiều đoạn đường xe ba cầu tời vẫn phải có máy ủi kéo hộ tống mới qua được.
Đặc thù Đường 20 tháng 7 mở qua những địa hình cực kỳ phức tạp, có đoạn vách đá treo leo, rừng già âm u. Nơi đây mới là “rừng thiêng nước độc” chất chứa bao nguy cơ, tiềm ẩn bệnh dịch sốt rét ác tính hoành hành. Thời gian thi công đòi hòi cấp bách, thông được đường là phá được thế độc đạo, ta có thêm tuyến đường chạy từ nông trường Lệ Ninh đi về phía Tây nối tiếp Đường 18 vượt Trường Sơn ở đỉnh 1335 gặp đường 9 tại Lào.
Thời gian thi công bước vào tháng 6 năm 1968, cuộc “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và “Chiến tranh phá hoại” bằng không quân ở miền Bắc. Cả hai mặt trận trên địch đều thất bại nặng nề, nên giặc Mỹ ngày đêm điên cuồng dồn dập ném bom bắn phá vào các trọng điểm giao thông trên các tuyến đường khu IV. Mỹ cho máy bay thả các thiết bị hiện đại như “cây nhiệt đới” do thám, phát hiện các mục tiêu, tiếng động cơ, hướng xe đi, loại phương tiện. Dọc tuyến đường 20 tháng 7 chúng cho máy bay L19, VO10 cả đêm ngày soi tìm nơi đóng quân, nơi cất dấu xăng dầu, xe cơ giới, lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm của ta từ hậu phương chi viện cho chiến trường. Ngoài ra chúng còn thả xuống khắp rừng các loại bom lá, bom vi trùng… đều được nguy trang tinh vi.
Thời gian này Chi bộ đảng đứng ra phát động chiến dịch “Mỗi đêm 1 chuyến hàng, mỗi xe đủ 2 lái, mỗi tổ 2 lái xe dự phòng”, quyết tâm đưa bằng được lương thực, thuốc nổ đến công trường. Đồng chí Trịnh Văn Kiện, Bí thư chi bộ trực tiếp chỉ huy. Tập thể cán bộ, chiến sĩ đội vận chuyển 2 bước vào chiến dịch với khí thế thi đua sôi nổi.
Khó khăn chồng chất khó khăn cho lực lượng vận tải. Anh em chiến sĩ lái xe vận chuyển 2 được chấn chỉnh mạnh mẽ, quyết tâm rất cao. Chỉ gần 1 tháng mà hàng trăm tấn gạo, xăng dầu, thuốc nổ từ trạm Phú Quý Việt Trung đã đến được Km14 - Km17 Long Đại Thượng, anh em chiến sĩ an toàn. Niềm vui của các chiến sĩ trong đơn vị như được nhân đôi. Chúng tôi lại sôi động bước vào đợt xung kích tiếp với tinh thần “Mỗi đêm phải có một chuyến hàng, xe máy, con người được an toàn”, thiết thực hưởng ứng “chiến dịch tri ân người đã khuất, kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7”.
Đợt xung kích này để lại trong tôi một kỷ niệm đau buồn tiếc thương đồng đội. Đó là cái đêm lịch sử của Đội vận chuyển 2 chúng tôi phải giải tỏa số gạo từ tuyến ngoài đã tiếp chuyển vào trạm 3, khu vực Hồ Xá đưa đến công trường. Chuyến đi đã được xác định trước là một mất, một còn. Đêm ngày 26 tháng 7 năm 1968, chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là bước sang ngày 27/7 (Ngày Thương binh Liệt sĩ). Đêm đầu thu, trời quang mây, trăng 12 tháng 7 âm lịch sáng trong vằng vặc. Mặc dù xe đã được ngụy trang chu đáo song đoạn đường đồng bằng ấy thuộc khu vực nông trường Mỹ Đức. Những bụi cây di động lại là mục tiêu rõ nét qua ống kính máy bay trinh sát Mỹ. Đoạn đường này phải qua cầu Phú Cường, cả hai bên đầu cầu đầy hố bom máy bay địch đào xới bao lần suốt những ngày qua, xe đã qua đây đều phải nhờ máy ủi kéo qua. Đoàn xe chúng tôi qua gần hết, thì máy bay địch ập đến bắn phá. Tốp xe đi đầu bị bom đánh chặn, liền một lúc ba xe bị hất đổ, một xe hư hỏng nặng không chạy được.
Nhận được tín hiệu cấp cứu, chúng tôi cho xe vào ứng cứu kịp thời. Mọi người nhanh chóng tổ chức kéo xe bị nạn, rồi chuyển hết số gạo đổ lên các xe. Cũng trong lúc chúng tôi đang cứu xe, chuyển gạo, trên bầu trời máy bay Mỹ vẫn gầm rú vòng đi vòng lại theo trục đường tìm kiếm phát hiện mục tiêu còn lại. Vốn đã có kinh nghiệm ẩn tránh, cứu hàng nhiều trận trước, chúng tôi án binh bất động. Khi máy bay địch vòng xa lại tiếp tục dồn vào cứu xe, cứu hàng. Giải quyết xong mọi công việc chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Riêng một xe bị hư hỏng nặng không tự chạy được bởi vỡ két nước, đồng chí Kiện quyết định để lại 3 lái xe và 2 thanh niên xung phong áp tải cùng kéo xe đi theo đoàn.
Sau hơn 4 tiếng đồng hồ vượt chặng đường hiểm nguy, lúc này khoảng 3 giờ sáng, 8 xe chúng tôi đã về đến đích, trả xong hàng rồi đưa xe vào hầm trú ẩn, xả xăng khỏi xe cất giấu an toàn. Khi về đến đơn vị còn thiếu 2 xe có đồng chí Kiện chỉ huy không thấy về. Lập tức 4 chiến sĩ được lệnh đi tắt đường trở lại tìm kiếm tin tức. Thật đau buồn, sáu giờ sáng hôm sau bốn chiến sĩ trở về mang theo 2 cây súng AK của 2 xe đã cháy, báo tin 4 đồng chí đã hy sinh, 2 xe gạo bốc cháy ngay trên đường, cách đơn vị hơn 10 km, thi hài của các đồng chí đã được cán bộ và nhân dân Nông trường Mỹ Đức chôn cất. Cả đơn vị ngậm ngùi thương tiếc. Đúng 12 giờ trưa ngày 27 tháng 7 năm 1968, đơn vị chúng tôi tiến hành tổ chức lễ truy điệu cho các đồng chí đã hy sinh. Sáu thùng súng K44 mộc mạc được kê lên trang trọng phủ quân kỳ đỏ thắm, có bó hoa rừng đặt trên tượng trưng là quan tài của các đồng chí đã hy sinh.
Đồng chí Đội trưởng Tô Ngọc Chấn thay mặt đơn vị đọc lời tiễn biệt các đồng chí gồm: Liệt sỹ Trịnh Văn Kiện - Bí thư chi bộ, đội phó; liệt sỹ Triệu Đức Tiến tổ trưởng tổ xe 2; liệt sỹ Lâm Trọng Tước thư ký công đoàn đội xe; liệt sỹ Phạm Văn Sản lái xe. Lễ truy điệu ngoài mặt trận chỉ giản đơn thế thôi nhưng thật nghiêm trang xúc động, ai cũng nhỏ lệ xót thương cho đồng đội. Các đồng chí ra đi để lại cho chúng tôi niềm thương nỗi nhớ. Nhưng các đồng chí đã tiếp cho chúng tôi thêm nghị lực, thêm sức mạnh để bước vào nhiệm vụ mới đang chờ phía trước.
Ngay sau buổi lễ truy điệu các liệt sỹ hôm ấy, đơn vị chúng tôi lại đồng tâm phát động thi đua biến đau thương thành hành động, quyết tâm hoàn thành suất sắc nhiệm vụ vào chiến dịch vận chuyển mới…
Còn biết bao nhiêu những kỷ niệm về sự chịu đựng gian khổ, chịu đói, chịu rét, chống trọi với bệnh tật. Cùng bao tấm gương dũng cảm kiên cường, không sợ hy sinh, bảo vệ xe, bảo vệ hàng an toàn dưới mưa bom bão đạn quân thù của các chiến sĩ thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, các chiến sỹ lái xe trực thuộc Cục Công trình I, Bộ Giao thông Vận tải và Ban 67 trên các tuyến đường Trường Sơn khu IV ngày ấy, đã cùng với những chiến sỹ lái xe Trường Sơn chúng tôi ngày đêm đưa xe, đưa hàng tiến ra mặt trận. Những nỗ lực và hy sinh ấy góp phần cùng toàn quân, toàn dân cả nước làm nên chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.
Kỷ niệm 79 năm ngày TBLS 27/7/2026 này. Được sống trong cảnh đất nước huy hoàng như hôm nay tôi càng nhớ và biết ơn những đồng đội chúng tôi đã ra đi mà mãi mãi không về. viết lại những dòng kỷ niệm này xin được ghi nhớ và tri ân sự hy sinh anh dũng của các anh vì nền độc lập tự do của tổ quốc – Để có Việt Nam Cường thịnh như hôm nay.
Chiến sỹ TS: TRẦN QUANG TƯỚC
Hội VHNT Trường Sơn tỉnh Bắc Ninh