Đường hầm xuyên thế kỷ- Trận địa trong lòng Thủy điện - Hồi ký: Nguyễn Minh Quang

Ngày đăng: 03:07 01/07/2026 Lượt xem: 6
ĐƯỜNG HẦM XUYÊN THẾ KỶ - TRẬN ĐỊA TRONG LÒNG THỦY ĐIỆN.
 
       ​Bây giờ, những du khách đến tham quan Thủy điện Hòa Bình, kể cả nhiều cán bộ, kỹ sư đang ngày đêm vận hành nhà máy, có lẽ cũng không thể hình dung được con đường hầm giao thông xuyên qua đập thủy điện ngày ấy đã được thi công gian khổ như thế nào.
      ​Con đường hầm ấy có kết cấu khá đặc biệt: một đoạn được đào sâu trong lòng núi đá, ngày nay nhìn thấy là dạng vòm cong; đoạn còn lại đi xuyên qua thân đập thì khi thi công, người ta phải đổ bê tông thành hình hộp chữ nhật rồi mới lấp đất đá lên trên. Đó là một công trình mà mỗi mét hầm đều thấm đẫm mồ hôi, công sức và cả những nỗi lo âu canh cánh của những người trực tiếp thi công.  Công ty Công trình ngầm hoàn thành việc mở lối, đào xong phần thô của hầm giao thông, sau đó Tổng công ty Xây dựng Thủy điện Hòa Bình đã giao cho Sư đoàn 565, trực tiếp là Trung đoàn 14 chịu trách nhiệm thi công phần bê tông nền và bê tông vỏ hầm.
      ​Tôi vẫn nhớ như in một buổi sáng trên công trường, khi bên lắp máy vừa chở bộ ván khuôn vòm di động (ván khuôn trượt) đến, đồng chí Đỗ Quang Thụ đi xe con tới kiểm tra. Anh bảo tôi lấy thước thép đo đạc thật kỹ lại cả chiều ngang lẫn chiều cao của bộ ván khuôn. Chỉ đến khi các kích thước được xác nhận là chính xác tuyệt đối so với bản thiết kế, anh mới yên tâm lên xe trở về.
      ​Trước khi đưa ván khuôn trượt vào hầm, đơn vị chúng tôi phải hoàn thành việc đổ bê tông nền. Công việc nặng nhọc này được giao cho Đại đội 20, lúc đó do Đại úy Đỗ Văn Nhậm (quê Phú Xuyên, Hà Sơn Bình) làm Đại đội trưởng. Đổ xong nền hầm, anh em lại cẩn thận lắp đặt hai bên đường các thanh ray tàu hỏa loại P43, gia cố thật chắc chắn rồi mới kích, đưa hệ bánh xe của ván khuôn trượt vào vị trí để sẵn sàng thi công đốt vòm đầu tiên.
​       KHÓI HÀN ĐẶC QUÁNH VÀ NHỮNG ĐÊM TRẮNG SỬA ỐNG KHÍ NÉN
      ​Đã hơn bốn mươi năm trôi qua, nhưng tôi vẫn nhớ như in thông số của những khối bê tông ngày ấy. Mỗi đốt vòm dài khoảng tám mét. Kết cấu cốt thép sử dụng loại thép phi 25 AII của Liên Xô, được bố trí thành hai lớp dày dặn cách nhau khoảng 50 cm, khoảng cách giữa mỗi thanh thép là 20 cm.
      ​Nhiệm vụ hàn cốt thép được giao cho Đại đội 5. Đại đội trưởng là Đại úy Nguyễn Văn Chuẩn, nguyên là giáo viên Trường Trung cấp Điện Sóc Sơn, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên của Chủ tịch Tôn Đức Thắng năm 1979. Sát cánh cùng anh là hai Đại đội phó: Trung úy Nguyễn Hồng Sơn (quê Thanh Hóa) và Trung úy Thảo (quê Cẩm Bình, Hải Hưng).
      ​Thời gian đầu, không gian thi công vô cùng ngột ngạt. Bộ đội và thợ hàn của Đại đội 5 phải luồn lách, đưa từng thanh thép phi 25 nặng trịch vào khoảng trống chật hẹp giữa vòm đá và ván khuôn để uốn và hàn từng mối nối. Trong hầm hoàn toàn không có hệ thống thông gió, khói từ những que hàn E42 bốc lên đặc quánh, khét lẹt, khiến ai vào việc cũng nước mắt giàn giụa, lồng ngực nghẹn lại vì khó thở. Vì quá thủ công và gian khổ, có khi cả tuần trời anh em mới chỉ hoàn thành được một đốt vòm. Để đẩy nhanh tiến độ, một sáng kiến đã được áp dụng: đơn vị đặt Xưởng 33 tấn gia công, hàn sẵn các khung thép ở bên ngoài. Khi chuyển vào trong hầm, bộ đội chỉ việc đưa vào đúng vị trí, hàn nối các mối đầu cành và gia cố lại. Nhờ sự thay đổi này, tiến độ thi công được cải thiện rõ rệt.
      ​Sau khi Đại đội 5 bàn giao phần khung thép, Đại đội 20 lại tiếp quản trận địa để đổ bê tông vòm hầm. Công nghệ bơm bê tông của Liên Xô những năm 1980 khác xa với các xe bơm vòi rồng, hoặc bơm tĩnh hiện đại bây giờ. Xe trộn chở bê tông đến sẽ đổ trực tiếp vào một thùng chứa hình trụ có nắp hình nón. Khi bê tông đầy, nắp được đóng kín bằng hệ thống gioăng cao su, rồi người ta dùng khí nén áp lực cao để "thổi" bê tông qua đường ống dẫn vào khối đổ.
​Gian nan nhất là những lúc hệ thống khí nén bị rò rỉ hoặc áp suất tụt đột ngột, bê tông tắc nghẹn không thể đẩy lên được. Xe chở bê tông từ trạm trộn liên tục tiến vào công trường không thể chờ đợi lâu, buộc phải đổ bỏ ra bãi thải. Những lúc ấy, bộ đội chúng tôi lại phải dùng xà beng cạy nắp thùng, xúc từng xẻng bê tông ngược ra ngoài, rồi tháo rời từng đoạn ống dẫn để thông tắc. Có những hôm bê tông bắt đầu kết dính, đông cứng ngay trong lòng ống, anh em phải dùng búa đục ròng rã đến tận nửa đêm mới giải phóng xong đường ống dẫn bê tông. Tiếc công sức và lượng bê tông phải hủy bỏ sau những sự cố kỹ thuật, Trung đoàn đã nảy ra sáng kiến bố trí một tổ chuyên trách thu hồi lượng bê tông thừa này. Toàn bộ được đem về đúc thành các viên gạch bê tông kiên cố để xây dựng các công trình phụ trợ, làm đẹp thêm khuôn viên doanh trại đơn vị.
         ​NHỮNG BẢN HOÀN CÔNG TRÊN GIẤY NẾN
       ​Khi ván khuôn đã vào vị trí và cốt thép đã hoàn thành, một thủ tục bắt buộc trước khi đổ bê tông là phải nhờ đội trắc địa của Công ty Công trình ngầm đến đo đạc và vẽ bản vẽ hoàn công trên giấy nến. Bản vẽ này chính là căn cứ pháp lý duy nhất để tính toán khối lượng và nghiệm thu thanh toán sau này.
       ​Tôi nhớ mãi anh kỹ sư trắc địa tên Định, người nhỏ nhắn, nước da trắng, tốt nghiệp Đại học Mỏ - Địa chất. Ngày ấy, gia đình anh sống ở khu tập thể của Công ty Công trình ngầm. Nhiều năm sau, tôi tình cờ gặp lại anh trên đường Tôn Đức Thắng giữa lòng Hà Nội sầm uất. Anh hồ hởi kể rằng sau khi Thủy điện Hòa Bình phát điện, anh chuyển về Vinaconex, tranh thủ học thêm văn bằng hai Đại học Xây dựng và đã mua được một căn nhà bình yên trong khu Văn Chương.
       ​Thời gian đó, trước mỗi đợt đổ bê tông, nhiệm vụ của tôi là sang bên Công ty Công trình ngầm để nhận bản vẽ hoàn công. Sau khi các kỹ sư kỹ thuật ký duyệt, chúng tôi lại khẩn trương mang hồ sơ lên Ban lãnh đạo công ty để xin xác nhận. Có lần tôi làm việc với anh Nguyễn Thế Phùng – người mà anh em trên công trường vẫn kính cẩn gọi là Phó tiến sĩ được tăng cường từ Đại học Xây dựng; có lần lại gặp anh Nguyễn Tiến Cầm. Cứ mẫn cán và nhịp nhàng như thế, từng đốt, từng mét bê tông của đường hầm giao thông xuyên qua lòng đập cứ lớn dần lên theo năm tháng.
​       Một kỷ niệm khiến tôi nhớ mãi là dù bề mặt các khối đổ đã được anh em đánh sờm rất kỹ để tạo độ bám kết, nhưng khi mới hoàn thành, mỗi lần đi qua hầm, chúng tôi vẫn thấy nước từ lòng núi rỉ qua các khe tiếp giáp. Về sau, phía Công ty Công trình ngầm phải đưa máy khoan chuyên dụng vào để khoan phụt vữa áp lực cao, hiện tượng thấm nước mới được khắc phục hoàn toàn, trả lại sự khô ráo cho lòng hầm.
     ​ĐI QUA CON ĐƯỜNG HẦM- ĐI QUA MỘT THỜI TUỔI TRẺ
      ​Nhiều năm sau này, khi những cựu chiến binh của đơn vị cũ có dịp trở lại thăm chiến trường xưa – Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy đường hầm giao thông năm nào đã được cải tạo hoàn toàn. Lớp vỏ hầm mới sáng sủa, đẹp đẽ và hiện đại hơn trước rất nhiều. Chúng tôi không rõ họ đã sử dụng công nghệ hay vật liệu tiên tiến gì, chỉ biết mừng vì công trình hôm nay đã khoác lên mình một diện mạo mới vững chãi hơn, xứng tầm hơn.
​      Thế nhưng, nhìn dòng người tấp nập vào ra, lòng những người lính già chúng tôi không khỏi thoáng chút chạnh lòng. Thật nghịch lý khi chính những người từng đổ mồ hôi, xương máu để đào từng mét hầm, đổ từng khối bê tông làm nên công trình thế kỷ này, nay quay lại thăm "đứa con tinh thần" của mình thì nhà máy lại không hề có một chính sách ưu tiên hay miễn phí vé tham quan để tri ân. Dù trên mình mặc bộ quân phục chỉnh tề,  vẫn còn  chiếc thẻ ra vào công trình chính do Tổng công ty Sông Đà cấp những năm 198x, anh em chúng tôi vẫn phải lặng lẽ xếp hàng mua vé như bao du khách bình thường khác.
​      Chúng tôi tự nguyện bỏ tiền mua vé bằng sự tự trọng của người lính, nhưng vẫn đau đáu một nỗi niềm: lớp người quản lý hôm nay có lẽ đã không còn biết đến, hoặc đã quên đi những gì thế hệ chúng tôi đã từng nếm trải dưới lòng đất này. Có thể ai đó sẽ nghĩ đơn giản rằng, ngày ấy chúng tôi đi làm, đã được Nhà nước trả lương đầy đủ thì đó cũng chỉ là một công việc mưu sinh thuần túy.
      ​Nhưng với chúng tôi, đó không chỉ là một công việc. Đó là tuổi trẻ, là thanh xuân tự nguyện. Là những năm tháng gửi lại cuộc đời trong lòng núi đá âm u. Là những đêm thức trắng cùng đồng đội bên những khối bê tông sực nức mùi xi măng, dầu máy. Là nghĩa tình của những người lính công binh Sư đoàn 565 đã cùng nhau vắt kiệt sức mình để góp phần làm nên công trình thế kỷ trên dòng sông Đà vĩ đại. Và có lẽ, đối với mỗi người lính Trung đoàn 14 năm ấy, mỗi lần bước chân qua đường hầm giao thông này, là một lần chúng tôi thấy mình như đang đi xuyên qua chính những năm tháng tuổi trẻ kiêu hùng của cuộc đời mình.

             Đại úy: Nguyễn Minh Quang
Nguyên cán bộ Ban Tham mưu, E 14, F 565
 
 
 
 
 

tin tức liên quan