ĐẠI ĐỘI 58 - TRUNG ĐOÀN 14
Trong cái thung lũng lòng chảo nơi Trung đoàn 14 đóng quân năm ấy, bốn bề được bao bọc bởi những dãy đồi núi trùng điệp, Đại đội 58 và Đại đội 211 may mắn được bố trí ở một khoảng đất bằng phẳng nhất.
Đi qua cổng trung đoàn, cứ men theo con đường đất đỏ dẫn ngược lên núi, nhìn sang phía bên trái chính là doanh trại của Đại đội 58. Ba dãy nhà cấp bốn đơn sơ, lợp mái phi bờ rô xi măng, nép mình khiêm nhường dưới chân đồi, trong đó có hai dãy nằm vuông góc với con đường, còn một dãy chạy dài song song theo sườn núi. Phía sau, trên một gò đất cao và thoáng đãng hơn, là căn nhà ban chỉ huy đại đội.
Đến nay đã hơn bốn mươi năm trôi qua kể từ ngày rời xa thung lũng ấy, biết bao gương mặt đồng đội vẫn còn hiện lên vẹn nguyên, mồn một trong ký ức của tôi: anh Hồng, anh Trúc, anh Điền, anh Sơn, anh Đính... Rồi sau đó là thế hệ các anh Diễm, anh Tuyệt, anh Thiềng và anh Sơn sau khi tốt nghiệp Trường Quân chính trở về làm cán bộ trung đội.
Những năm đầu bước vào chiến dịch thi công Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, nhiệm vụ chủ yếu của Đại đội 58 là gia cố các đường hầm sau mỗi đợt khoan nổ mìn bóc đá. Đó là một quy trình nghiêm ngặt và đầy hiểm nguy. Sau khi Đại đội 211 hoàn thành việc khoan nổ và xúc dọn hết đất đá ra khỏi gương lò, phần trần và vòm hầm lộ ra vẫn còn trơ khấc vô số những khe nứt chằng chịt. Ở trong lòng đất sâu, chỉ cần một khối đá mồ côi bất ngờ rụng xuống cũng đủ gây ra những tai nạn chết người thảm khốc.
Để giữ cho lòng hầm được an toàn, những người lính Đại đội 58 liền bắt tay vào phần việc của mình. Tại các lỗ khoan đã được tạo sẵn trên vòm hầm, anh em đưa vòi áp lực bơm đầy vữa xi măng vào từng lỗ rồi đóng những thanh thép neo dài khoảng hai mét vào sâu bên trong vách đá. Nếu gặp phải nền đá quá nứt nẻ, họ lại tiếp tục cặm cụi hàn lưới thép rồi phun bê tông phủ kín toàn bộ bề mặt.
Đó là một công việc âm thầm, lặng lẽ nhưng vô cùng quan trọng. Những thanh thép neo, những lớp vữa ấy đã nằm lại mãi mãi trong lòng núi lạnh, chẳng ai có thể nhìn thấy, nhưng chính chúng đã kết thành một khối xương cốt vững chắc, giữ cho những đường hầm đứng vững kiên cường đến tận hôm nay.
Trong tất cả các khâu thi công dưới hầm ngầm, phun bê tông gia cố có lẽ là công việc cực nhọc, nặng nề và độc hại nhất. Theo công nghệ của Liên Xô lúc bấy giờ, xi măng khô được trộn sẵn rồi đổ thẳng vào thùng áp lực. Khi mở van khí nén, dòng xi măng khô khốc theo đường ống lao đi với tốc độ xé gió, chỉ khi đến đầu vòi phun mới gặp dòng nước áp lực cao để bám chặt vào vách đá.
Nghe qua nguyên lý thì thật đơn giản, nhưng mỗi lần máy khởi động, bụi xi măng khô bốc lên đặc quánh, cuồn cuộn phủ kín cả đường hầm. Chỉ cách nhau vài ba mét thôi cũng chẳng còn nhìn rõ mặt người.
Người chiến sĩ đứng vòi từ đầu đến chân phủ một màu xám ngoét. Tóc trắng. Lông mày trắng. Cho đến hàng mi cũng đọng một lớp bụi xi măng trắng xóa. Làm việc liên tục trong cái bầu không khí nghẹt thở ấy một lúc, anh em lại phải luân phiên chạy tháo thân ra cửa hầm, kéo chiếc khẩu trang sũng mồ hôi xuống để hít lấy vài hơi khí trời cho lại sức, rồi lại lầm lũi quay vào trận địa.
Cho đến tận bây giờ, mỗi lần có ai nhắc về Đại đội 58, trong đầu tôi lại hiện lên hình ảnh của Bình – cậu chiến sĩ quê ở xã Văn Giáp, huyện Thường Tín. Trông cậu trong bộ quần áo bảo hộ phủ kín bụi xi măng, đứng sừng sững bám vòi phun không khác gì một pho tượng sống vừa bước ra từ lòng núi đá.
Sau này, khi anh Diễm từ Đại đội 23 được điều chuyển về làm Đại đội trưởng, Đại đội 58 được giao thêm nhiệm vụ trực tiếp khoan hầm. Lúc ấy, Trung đoàn 14 đồng thời thi công hai đường hầm đối diện nhau. Đại đội 58 đào hầm thoát nước nhanh từ hầm giao thông sang mạn bờ phải. Đại đội 211 thi công hầm thoát nước nhà máy từ phía đối diện ngược lên. Hai mũi đào độc lập cùng tiến về một điểm hẹn duy nhất ở giữa lòng núi.
Để khích lệ tinh thần anh em, Trung tá Cường, Trung đoàn trưởng, đã trực tiếp xuống động viên cả hai đơn vị bằng một tuyên bố xanh rờn:
– Đơn vị nào thông hầm trước, trung đoàn sẽ thưởng ngay một con bò béo để liên hoan!
Chỉ một lời hứa ấy thôi đã đủ làm cả hai đại đội hăng hái, sôi sục hẳn lên. Những ngày giáp công, từ sĩ quan đến chiến sĩ, ai ai cũng thèm và mong mỏi được ăn một bữa thịt bò no nê. Ở cái thời bao cấp đói khổ, thiếu thốn đủ đường, một con bò là cả một phần thưởng khổng lồ, xa xỉ.
Đến ngày cuối cùng, thật trùng hợp làm sao, cả hai đơn vị đều hoàn thành phần khoan đá gần như cùng một thời điểm. Cả hai bên đều sốt sắng cử người chạy bộ lên Ban Tham mưu trung đoàn để nhận thuốc nổ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng tình hình, Thượng úy Lê Xuân Toàn và Đại úy Nguyễn Tuấn đã quyết định giao cho Đại đội 211 vinh dự nổ phát mìn cuối cùng.
Đoành! Tiếng mìn đanh gọn vang lên, chấn động lòng núi. Hai đường hầm gặp nhau chính xác đến từng centimet. Khói mìn chưa kịp tan, anh em hai bên đã reo hò vang dội, lao vào ôm chầm lấy nhau nước mắt lưng tròng giữa lòng hang đá đổ nát.
Thế nhưng... con bò trong truyền thuyết thì mãi chẳng thấy đâu.
Không có con bò nào cho Đại đội 58, và cũng chẳng có con bò nào cho Đại đội 211 cả. Phần thưởng lớn lao năm ấy rốt cuộc vẫn chỉ nằm lại ở một lời hứa danh dự của người Trung đoàn trưởng.
Nhiều năm tháng trôi qua, thời cuộc đổi thay, một bữa cơm có đĩa thịt bò tươm tất cùng chai rượu nút lá chuối đối với chúng tôi đã chẳng còn là điều gì quá xa xỉ nữa. Thế nhưng, mỗi lần có dịp gặp lại những người đồng đội cũ, ngồi nhắc lại cái ngày thông hầm năm ấy, tôi vẫn nhớ như in từng nét mặt của anh em dạo đó. Từ cái sự háo hức, mong chờ phần thưởng của những cái bụng đói, cho đến chút hụt hẫng rất thật, rất hồn nhiên của những người lính trẻ... Rồi tất cả lại nhìn nhau cười xòa.
Bởi vì cuối cùng, họ chợt nhận ra phần thưởng lớn nhất của cuộc đời mình không phải là một bữa thịt liên hoan. Phần thưởng đích thực chính là những đường hầm thủy điện vĩ đại ấy vẫn đang ngày đêm sừng sững vận hành trong lòng núi suốt gần nửa thế kỷ, để dòng điện từ Sông Đà tỏa đi thắp sáng khắp mọi miền tổ quốc.
Và ở đâu đó, sâu sau những lớp bê tông dày và vách đá kiên cố kia, vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn mồ hôi, xương máu và cả tuổi xuân của những người lính Đại đội 58 Trung đoàn 14 năm nào.
Đại úy: Nguyễn Minh Quang
Nguyên cán bộ Ban Tham mưu Trung đoàn 14, Sư đoàn 565