Kỷ niệm 79 năm ngày TBLS (27/7/1947-27/7/2026)
KÝ ỨC TRƯỜNG SƠN – “THƯƠNG, BỆNH BINH CẦN THẦY THUỐC ĐẾN”
Hồi ký của Bác sỹ TẠ LƯU
Vào một đêm thu đầu mùa khô năm 1967, tôi đang ngủ ngon, bỗng tiếng chuông điện thoại réo lên từng hồi rộn rã. Tôi bật dậy, từ đầu dây bên kia, giọng nói của một người nào đó mà tôi chưa hề quen, qua hơi thở gấp:
- Đề nghị Đội điều trị 14 (ĐĐT 14) cho Đội phẫu thuật (ĐPT) vào Choóc mổ cấp cứu một thương binh rất nặng đã bị viêm phúc mạc.
- Đồng chí ở đâu? - Tôi hỏi lại.
- Tôi là y sĩ phụ trách bệnh xá của đơn vị thanh niên xung phong (TNXP) đóng ở Choóc.
- Tại sao đồng chí không chuyển “ca” thương binh đó ra ngoài này?
- Tình trạng thương binh rất nặng, chuyển sợ chết ở ngang đường. Hơn nữa trời sắp sáng, ô-tô không thể chạy ban ngày được.
- Nếu vậy, chúng tôi cũng đi làm sao được. Bây giờ đã hơn bốn giờ rồi. Bỏ ống điện thoại xuống, đã định đi ngủ tiếp, nhưng hình ảnh của một thương binh bị viêm phúc mạc mà theo nghề nghiệp tôi đã thường gặp cứ lởn vởn trong óc không thể nào quên. Tôi liền đánh thức anh Đính, Bác sĩ Đội trưởng; anh Sinh Anh, Chính trị viên Bí thư Đảng ủy; anh Ước, Chính trị viên phó; anh Huy Sơn, Đội phó hậu cần để hội ý xem nên giải quyết thế nào. Trong thảo luận có ý kiến bảo nên đi, có ý kiến bảo không. Tôi cũng không nhất trí đi với mấy lý do: Thứ nhất, thương binh nặng, trong đó người ta sợ chuyển ra còn bị chết ở ngang đường. Vậy ta vào giải quyết được vấn đề gì? Thứ hai, đường xa hơn chín mươi cây số, địch lại đánh liên tục, như vậy xe ta chạy ban ngày liệu có gì đảm bảo an toàn? Thứ ba, để cứu một người, mà cũng chưa chắc đã cứu được, trong khi bảy, tám người chưa kể phương tiện thuốc men, dụng cụ và cả ô-tô nữa không may bị bom nó đánh trúng thì sao?
Anh Đính chờ cho tôi nói hết, đảo mắt nhìn tất cả mọi người rồi mới chậm rãi hỏi lại tôi với vẻ mặt không đồng tình:
- Ngược lại, nếu vào mà cứu được đồng chí thương binh đó thì anh nghĩ thế nào? Tại sao chưa biết rõ tình trạng bệnh nhân mà anh đã bảo là không thể cứu được? Ngừng một lát, anh nói tiếp - Thứ hai, máy bay địch có thể đánh mà cũng có thể không phát hiện ra để đánh. Hơn nữa cũng đã có nhiều đồng chí lái xe dũng cảm mưu trí lừa được bọn giặc trời để thoát hiểm như chúng ta đã biết. Thứ ba, vì trách nhiệm của người thầy thuốc và nghĩa tình đồng đội, nếu ta đi cấp cứu được ca này sẽ có ảnh hưởng chính trị rất lớn là gây thêm được lòng tin tưởng, thương yêu của anh chị em các đơn vị trong toàn tuyến.
Nghe anh Đính nói có lý, có tình nên tất cả mọi người đều thông.
- Các đồng chí đã nhất chí - Tôi nói - thì hoặc là anh Đính, hoặc là tôi sẽ đi. Riêng tôi thấy anh Đính là Đội trưởng ở nhà giữ “gôn” có lợi hơn.
Anh Đính nhìn tôi mỉm cười như muốn bảo: Anh quyết định như vậy là chính xác, “Thương binh cần, thầy thuốc đến”. Đó là trách nhiệm và cũng là truyền thống của đơn vị chúng ta. Thú thực lúc ấy trong óc tôi hiện lên một ý tưởng rất rõ ràng: “Đi là phải. Tôi không được phép trốn tránh, dù nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm đến mấy”. Không ai nói gì thêm. Như vậy là nhiệm vụ đã được giao. Tôi nhanh chóng chạy sang nhà tập thể nam nữ đánh thức số anh chị em đã từng gắn bó với nhau trong mấy lần đi trước như Định, Hức, Tám, Tâm, Thảo, Diên, An, Nảy và Đắc lái xe. Đang độ tuổi ăn, tuổi ngủ, nhất là sau một ngày làm việc căng thẳng và vất vả, họ đều ngủ say như chết, tưởng chừng có khiêng vứt họ ra sân cũng không làm cho họ mở mắt ra được. Ấy thế mà chỉ nghe loáng thoáng có cấp cứu là họ đã bật cả dậy. Do đã quen việc và có “cơ số chiến đấu” sẵn, nên công việc chuẩn bị khá nhanh. Khoảng 6 giờ chúng tôi hành quân ra tới cây số 473, cũng vừa đúng lúc ô-tô xịch tới. Tôi nói rõ nhiệm vụ và động viên vắn tắt: “Đây là cuộc đi chiến đấu thực sự giữa cái sống và cái chết chứ không phải là đi du lịch ở Trường Sơn đâu nhé. Các bạn nhớ cho”!
- Đi với thủ trưởng thì yên tâm. - Đắc vừa dận ga cho xe nổ máy vừa nói tiếp - Qua kinh nghiệm ở Trường Sơn mấy năm nay, tôi thấy những người sợ chết lại càng hay chết thủ trưởng ạ.
- Cậu đừng có chủ quan - Tôi bảo cậu ta.
- Không phải là duy tâm đâu - Đắc phân trần - nhiều khi do sợ quá nên thiếu minh mẫn, gặp phải tình huống khó khăn đâm ra cuống mất bình tĩnh, thế là kềnh! Mọi người cười ồ lên.
Xe mới chạy, khí thế còn đang hăng, ai nấy nói cười vui vẻ. Hôm ấy là một ngày nắng đẹp, bầu trời cao xanh vời vợi, núi rừng như cao hơn, rộng hơn và cả con đường cũng như kéo dài ra vô tận. Xe chúng tôi chạy từ Hóa Tiến đến Tây Chóoc dài khoảng trên 90 cây số. Đường chiến lược 15 vốn dĩ đã xấu lại bị bom đạn cày xới liên tục nên xe không thể nào phóng nhanh được. Nhiều đoạn chúng tôi phải dừng lại để sửa đường hoặc đẩy xe qua một đoạn lầy, xe bị “pan-ti-nê” không thể tự bò qua được. Hơn nữa cũng không dám chạy nhanh vì còn phải nghe ngóng đề phòng máy bay địch thình lình ập tới. Thấy xe chạy giữa ban ngày nơi tuyến lửa, ai cũng ngạc nhiên. Thú vị nhất là ở nhiều đoạn, anh chị em TNXP và công binh đang sửa đường nhìn thấy xe chúng tôi cuốn tung bụi từ xa, họ đã đoán chắc với nhau rằng anh chàng lái xe kia hẳn là bị loạn thần kinh nên mới dám ngang nhiên chạy bừa như thế. Cứ mỗi lần chiếc xe Hồng thập tự đến gần, nhìn rõ mặt từng người, nhất là thấy mặt đồng chí lái xe vẫn nói cười vui vẻ, không phải người điên như họ nghĩ và khi biết rõ mục đích chuyến đi của chúng tôi thì mối thiện cảm của họ tăng lên rõ rệt. Sau này trở về, chúng tôi còn được biết thêm ngay sáng hôm đó, anh Đính đã gọi điện lên báo cáo Binh trạm. Đồng chí Nguyễn Đàm, Binh trạm trưởng Binh trạm 12 ngay lập tức chỉ thị cho các đơn vị pháo phối thuộc của binh trạm chốt ở các trọng điểm dọc đường chiến lược 15 từ Hóa Tiến Vào Chóoc phải sẵn sàng nổ súng bảo vệ cho chúng tôi khi bị máy bay địch tấn công. Chúng tôi càng thấy rõ việc làm của mình không đơn độc mà luôn luôn được cấp trên cũng như các đơn vị bạn hết sức quan tâm giúp đỡ.
Khoảng 16 giờ, chúng tôi đến nơi an toàn. Ai cũng mệt, đói và khát, nhất là mấy cô, vừa say xăng, vừa say nắng và nóng, cô nào cũng phờ phạc như Tây thất trận ! Trong khi anh chị em khiêng vác đồ đạc vào nơi làm việc thì tôi tranh thủ vào khám bệnh nhân. Vừa đọc qua bệnh án, tôi đã giật mình - Đúng là anh Khán, Đại đội trưởng pháo 37 ở Tiểu đoàn 13. Anh vừa ra viện được vài tháng nay thôi mà. Mặt anh hốc hác, hai tròng mắt hõm sâu, lờ đờ nhìn tôi như cầu khẩn. Cặp môi khô nứt nẻ mấp máy như cố nói một điều gì đó mà tôi không thể nào nghe được. Thú thực lúc ấy, lúc vừa nhìn thấy anh, lòng tôi se lại, thương anh quá chừng. Khám xong, tôi quyết định phải vừa hồi sức tích cực, vừa mổ sớm mới có hy vọng cứu sống được anh. Nghe tôi nói thế, các đồng chí ở bệnh xá đề nghị chúng tôi đi ăn cơm để lấy lại sức rồi hãy mổ (vì cơm đã có sẵn rồi). Biết thế, nhưng làm sao có thể ngồi ăn trong khi phải chạy đua với thời gian, giành giật lấy mạng sống của anh ra khỏi lưỡi hái tử thần. Như vậy là anh bị thương vào ổ bụng đã tới giờ thứ 16 rồi.
Nhìn nét mặt anh, bất giác tôi nhớ lại cách đây vài tháng người ta khiêng anh vào phòng hồi sức của Đội điều trị 14 với tình trạng choáng rất nặng vì chảy máu trong do vỡ lách bởi chấn thương vùng kín mạng sườn trái. Cũng lúc đó, sau khi bàn bạc, chúng tôi quyết định rút máu trong ổ bụng anh ra truyền lại vào tĩnh mạch để nâng huyết áp. Trước đó, chúng tôi đã nhờ phòng xét nghiệm kiểm tra chéo máu hút trong ổ bụng ra với máu trong tĩnh mạch của anh không có vấn đề gì nghi ngại. Thế là tôi và y sĩ gây mê Nguyễn Ích Định thay phiên nhau bằng hai chiếc bơm tiêm 20 phân khối, kẻ hút, người tiêm, tính ra đã truyền lại cho anh được tới 600 mi-li-lít máu tươi; kết hợp với các loại dịch thể khác cùng với các loại thuốc trợ sức, trợ tim mạch...chúng tôi đã nâng được huyết áp lên tới mức cho phép tiến hành được cuộc mổ. Tôi và bác sỹ Nguyễn Xuân Huyên đã mổ cắt lách cho anh. Đó là ca phẫu thuật lớn đầu tiên kể từ khi ĐĐT 14 vào trong tuyến lửa này. Một tháng sau anh Khán ra viện. Hôm tiễn anh, cả ban ngoại vui vẻ quá chừng. Anh béo tốt chứ có đâu như hôm nay...
Tự nhiên, tôi liên tưởng “Lần này có thể lại một lần nữa cứu được anh ra khỏi bàn tay độc ác của tử thần không?”. Tôi bảo Định bộc lộ tĩnh mạch để truyền thêm một đường nữa cho nhanh và phải mổ nhanh mới kịp, chờ đợi lúc này là chết. Định đã kịp thời truyền thêm một chai máu khô và đặt nội khí quản. Cuộc mổ bắt đầu: ruột non bị thủng nhiều chỗ, một số quai ruột đã dính chằng chịt vào nhau, có đoạn ruột đã tím bầm. Chúng tôi vừa gỡ dính vừa khâu các lỗ ruột thủng vừa động viên nhau phải thật kiên trì. Đoạn ruột bầm tím được đắp huyết thanh mặn ấm, phóng bế dung dịch novocain 0,25% vào gốc mạc treo, song không hồi phục nên phải cắt bỏ.
Trong suốt quá trình mổ, y sỹ Định cùng y tá Nguyễn Thị Tâm gây mê hồi sức, thỉnh thoảng lại thông báo tình hình mạch, huyết áp. Khi thì ổn định đáng mừng, có lúc huyết áp tự nhiên tụt xuống làm cho thần kinh chúng tôi căng ra như những sợi giây đàn. Tôi rất mệt, nhưng nỗi lo lắng cho tính mạng của anh còn lớn hơn nhiều. May thay, sau khi đã loại trừ được ổ nhiễm độc và nhiễm trùng, huyết áp ổn định dần và có chiều hướng tăng lên. Chúng tôi lau rửa kỹ ổ bụng, đặt 4 ống dẫn lưu từ trong ổ bụng ra ngoài, đóng thành bụng và như thế cuộc mổ kết thúc.
Đúng lúc chưa ai kịp cởi áo mổ và bịt miệng thì Tám, cô y tá trẻ măng từ ngoài hớt hải chạy vào mời tôi sang ngay buồng bên khám cho một thương binh nặng nữa mới vào, theo cô nghĩ, có thể là một vết thương thấu bụng. Tôi theo Tám sang ngay chỗ bệnh nhân nằm. Tám đã nói đúng. Đồng chí thương binh này đã có phản ứng thành bụng rõ. Tôi bảo Tám làm đầy đủ thêm các thủ tục rồi khiêng sang phòng mổ để Định hồi sức trước. Trong khi Tâm, Diên, Nảy thu dụng cụ lau rửa để luộc lại; y sĩ Hức và y tá Thảo đem “săng, gạc, áo mổ ...” ra suối giặt. Thấy tôi chạy ra theo Thảo bảo:
- Anh về nghỉ đi một chút cho đỡ mệt, đứng suốt mấy tiếng liền rồi.
- Còn các cô không mệt sao?
- Chúng em thanh niên khác chứ!
- Cũng xương thịt cả, khác gì, cùng giặt cho nhanh.
Miệng nói tay làm. Người sát xà phòng, người vò, người rũ. Lúc thường thấy lâu, nhưng lúc này sao mà nhanh thế, chỉ một loáng là chúng tôi đã giặt xong. Ở nhà, Nảy đang vớt dụng cụ bày lên bàn vô trùng. Anh Khán đã được chuyển sang phòng hậu phẫu để An săn sóc. Đồng chí thương binh mới vào đã được khiêng lên bàn mổ, ở đó Định, Diên và Tâm đang truyền dịch thể và chuẩn bị gây mê nội khí quản. Thảo cho áo mổ, săng, gạc vào nồi nước đang sôi sùng sục trên chiếc bếp đèn dầu được vặn to lên hết cỡ. Ca mổ thứ hai được tiến hành ngay sau đó.
Trường hợp này giải quyết nhanh chóng vì chỉ cần khâu gan và vài lỗ thủng ở ruột non nên không có gì gây cấn lắm; hơn nữa thương binh được chuyển đến sớm chưa bị viêm phúc mạc. Ai cũng tưởng xong ca này sẽ được xả hơi, nhưng rồi lại một loạt nhiều thương binh mới từ các nơi được khiêng vào. Anh em đều bị thương trong lúc đang làm nhiệm vụ ở Bến phà Xuân Sơn hồi 21 giờ.
Bến phà Xuân Sơn là một trọng điểm vô cùng quan trọng trên tuyến đường chiến lược 15 mà không quân Mỹ phải ngày đêm đánh phá hủy diệt. Trong số thương binh mới vào này có một người bị mảnh bom to bằng bàn tay găm chặt vào giữa ống xương chày cẳng chân bên phải, nó dựng đứng như lưỡi mác cắm phập vào thân cây trụi. Chúng tôi phải hết sức cẩn trọng để đục, gặm từng tý xương cho rộng mới cậy và lôi được nó ra. Sau này mảnh bom đó đã được trao lại cho đồng chí TB ấy coi như một tặng phẩm tượng trưng cho “chất xám” văn minh Mỹ thập kỷ 60 - 70 của thế kỷ 20!
Thế là chẳng ai nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi nữa... và chúng tôi cứ đứng như thế mổ hết “ca” này sang “ca” khác cho mãi tới chiều tối hôm sau mới tạm gọi là xong. Nhìn anh chị em vừa đói, vừa mệt, nhưng ai cũng vui vẻ, tự nhiên tôi cảm thấy sung sướng và rất tự hào. Thật đúng như vậy các bạn ạ! Cái cảm xúc ấy làm cho tôi quên hết nỗi mệt nhọc trong người, vì xung quanh tôi mọi người đều như thế cả. Hai ngày hai đêm chưa có một miếng cơm nào vào bụng còn gì? Không tự hào sao được. Không sung sướng sao được, trước tình cảm sâu nặng của những người đồng nghiệp trẻ thân thương đã một thời đồng tâm phục vụ thương bệnh binh ngay tại chiến trường như thế!
Mấy ngày tiếp theo, chúng tôi thay phiên nhau chăm sóc anh Khán. Tình trạng bệnh của anh quả là rất nghiêm trọng. Đã có lúc, chúng tôi như bị tụt xuống vực thẳm của sự thất vọng. Rất may, nhờ số anh em thanh niên trong đại đội của anh Khán có cùng nhóm máu tiếp thêm cho vài trăm mi-li-lít nên tình trạng bệnh của anh cũng dần dần ổn định và bình phục hẳn. Mỗi lần đến thăm, nhìn thấy miệng anh cười thật tươi, cặp mắt sáng lên đầy sức sống như gửi gắm niềm tin và còn có một cái gì đó hơn thế nữa làm cho tôi vừa xúc động vừa ân hận. Một cảm giác day dứt trào lên trong lòng tôi lúc ấy...“Nếu như hôm đó chỉ vì ngại gian khổ hy sinh mà chúng tôi không đi...”, chắc chắn là anh chẳng còn có thể nhìn thấy cha mẹ, vợ con và những người thân yêu khác nữa. Nụ cười của anh đã bám theo chúng tôi đến khắp các trọng điểm mà đội phẫu thuật tiến hành nhiệm vụ trong những tháng năm đánh Mỹ vô cùng ác liệt trên tuyến đường mang tên Bác kính yêu.
Năm nay kỷ niệm 79 năm ngày TBLS, sang năm 2027, tròn 80 năm kỷ niệm ngày TBLS (27/7/1947-27/7/2027). Nhớ về những kỷ niệm một thời Trường Sơn những năm tháng đánh Mỹ đã đi qua. Nhớ về những đồng đội đã anh dũng hy sinh và hiến dâng một phần xương máu của mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tôi chép lại những dòng kỷ niệm cuộc đời người lính – chiến sỹ quân y Trường Sơn năm xưa để tri ân các anh hùng liệt sỹ, các thương bệnh binh đã hy sinh quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, cho đất nước Việt Nam trường tồn như hôm nay./.
AHLLVTND, Đại tá TẠ LƯU
Nguyên Đội trưởng Đội điều trị 14 Binh trạm 12 Trường Sơn