Tản văn của một người lính già - Nguyễn Minh Quang

Ngày đăng: 09:00 14/07/2026 Lượt xem: 96
TẢN VĂN CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ
 
        Có những con đường, càng đi xa lại càng thấy gần. Vị Xuyên đối với tôi là một con đường như thế.
       Bốn mươi hai năm trước, đó là con đường của ba lô nện chặt, súng đạn trĩu vai, của những chiếc cáng thương đẫm máu và những đoàn quân trùng trùng đi vào tâm lửa. Bốn mươi năm hai sau, vẫn con đường ấy, nhưng nay chỉ còn tiếng xe máy của người dân bản lên nương, tiếng trẻ con ríu rít gọi nhau đến trường và tiếng chuông chùa ngân buông trong chiều muộn.
       Thời gian thật kỳ lạ. Nó có thể làm liền sẹo những vết thương trên da thịt, nhưng không bao giờ xóa hết những vết hằn sâu sắc trong ký ức. Đến tuổi bảy mươi, tôi không còn nhớ hết tên những người từng gặp trong đời, nhưng vẫn nhớ rõ mồn một gương mặt của những người đã nằm xuống. Những người còn sống rồi sẽ già đi theo quy luật muôn đời, tóc bạc, lưng còng, trí nhớ hao mòn dần. Còn những người đã ngã xuống thì mãi mãi dừng lại ở tuổi hai mươi. Họ trẻ mãi trong ký ức vẹn nguyên của đồng đội.
      Vì vậy, tháng bảy năm nào tôi cũng ngược ngàn lên Vị Xuyên. Không phải để tìm lại chiến công xưa cũ, càng không phải để kể lể về những trận đánh. Tôi lên chỉ để thắp một nén nhang, ngồi thật lâu trước những hàng mộ trắng tăm tắp và thì thầm nói với những người bạn cũ rằng: Đất nước mình bình yên rồi.
       Mỗi lần trở lại, tôi đều đứng rất lâu trước những hàng bia đá lặng câm chỉ khắc vỏn vẹn mấy chữ giản dị: "Liệt sĩ chưa biết tên". Ngắn ngủi thế thôi, nhưng lại nặng hơn cả một cuốn sử dòng. Sau mỗi tấm bia ấy là một gia đình đã ròng rã mỏi mòn đợi chờ suốt mấy chục năm trời. Là một người mẹ mất đi đứa con trai độc nhất; là một người vợ chưa kịp già đã vội thành góa phụ; là những đứa trẻ lớn lên chỉ biết mặt cha qua tấm ảnh đen trắng đã ố mờ theo năm tháng. Chiến tranh kết thúc vào một ngày nào đó trên giấy tờ pháp lý. Nhưng với biết bao gia đình, cuộc chiến ấy chưa bao giờ khép lại.
       Ngày chúng tôi vào trận, chẳng ai nghĩ mình sẽ trở thành anh hùng. Chúng tôi chỉ biết nếu mình lùi lại một bước, thì ngay phía sau là Tổ quốc, là quê hương, là bóng hình cha mẹ, là vợ dại con thơ. Vì thế mà đứng lại, bám trụ đến cùng. Người đời sau gọi đó là chiến công hiển hách, còn chúng tôi, chỉ gọi đơn giản là bổn phận.
       Bốn mươi mấy năm đã trôi qua kể từ ngày tiếng súng lặng tắt. Những cao điểm thẫm máu năm nào: 468, 685, 772... bây giờ đã được phủ kín bởi một màu xanh bình dị của cây lá. Đá núi đã mọc rêu phong, những hố pháo sâu hoắm ngày nào giờ cũng đã đầy cỏ dại. Nhưng dưới lớp cỏ xanh ấy, lời thề giữ đất năm xưa như vẫn còn vẹn nguyên trong lòng đá: "Sống bám đá trận địa, chết hóa đá biên cương". Các anh đã hòa máu xương vào lòng đất mẹ, hóa thân thành những tượng đài đá bất tử canh giữ biên thùy.
       Người ta vẫn gọi ngày 12 tháng 7 là ngày giỗ trận Vị Xuyên. Một cái tên nghe rất Việt Nam, đượm nét văn hóa tâm linh nguồn cội. Đó không phải là ngày mừng chiến thắng, cũng chẳng phải là ngày buồn thất bại. Chỉ đơn giản là một ngày giỗ để nhớ, để thương những người con đã không trở về.
       Thi thoảng, có người lại hỏi tôi:
       – Các bác có còn oán giận những người lính ở phía bên kia không?
       Tôi đã im lặng một quãng khá lâu, rồi trả lời:
      – Khi còn trẻ, chúng tôi cầm súng chiến đấu vì Tổ quốc mình. Còn bây giờ, khi đã về già, chúng tôi đều là những ông lão tóc bạc đi tìm đồng đội. Người lính không sinh ra để yêu chiến tranh. Nhưng người lính sinh ra là để khi bờ cõi lâm nguy, họ sẽ là những người đầu tiên đứng lên bước ra phía trước. Đó là sứ mệnh.
       Tôi từng nghe một người bạn kể rằng, ở phía bên kia biên giới, những người lính Trung Quốc cũng trở lại Lão Sơn vào những ngày kỷ niệm của họ. Họ cũng mang theo những đóa hoa trắng, cũng thắp hương cho đồng đội và đứng lặng rất lâu trước những tấm bia đá của họ.
       Tôi chợt nghĩ... Có lẽ ở tuổi hai mươi, chúng tôi đã đứng ở hai chiến hào đối diện, chĩa súng vào nhau. Nhưng khi đã ở tuổi bảy mươi, chúng tôi lại đang đứng cùng một phía: Phía của những người đã đi qua đổ nát và thấu hiểu sự tàn khốc của chiến tranh hơn ai hết.
      Nếu một ngày nào đó tôi tình cờ gặp một người lính già Trung Quốc từng chiến đấu ở Lão Sơn, có lẽ chúng tôi sẽ chẳng còn tâm trí để tranh luận chuyện thắng thua, tôi cũng không hỏi ông ấy đã bắn bao nhiêu viên đạn. Tôi chỉ muốn hỏi một câu thôi: "Ông còn nhớ những người bạn của mình không?".
       Tôi tin ông ấy sẽ gật đầu trong im lặng. Vì người lính nào cũng vậy, điều ám ảnh họ suốt cuộc đời không phải là gương mặt của kẻ thù, mà chính là bóng hình của đồng đội. Là người vừa cười ha hả với mình buổi sáng, đến chiều đã nằm lại lạnh ngắt. Là chiếc ba lô còn nguyên lá thư tình viết vội chưa kịp gửi về xuôi. Là bát cơm ăn dở bên chiến hào, là chiếc võng dù còn đung đưa vắng lặng giữa hai gốc cây rừng. Chiêm nghiệm cho cùng, chiến tranh đâu chỉ cướp đi mạng sống của những người nằm xuống, nó lấy đi cả một phần tuổi trẻ, một phần tâm hồn của cả những người còn sống trở về.
      Tôi từng đọc được đâu đó trong hồi ký của một cựu binh Trung Quốc, họ viết rằng họ đã rất bất ngờ trước sức chiến đấu kiên cường, dẻo dai của bộ đội Việt Nam. Điều ấy làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Bởi trong những năm tháng khói lửa ấy, chính chúng tôi cũng từng thầm khâm phục sự gan lì của những người lính phía bên kia.
       Đó tuyệt nhiên không phải là sự ca ngợi chiến tranh. Đó là sự tôn trọng tối thiểu dành cho những con người đã chấp nhận cái chết vì mệnh lệnh của đất nước họ. Người lính, ở bất kỳ quân đội nào, cũng ít khi được quyền lựa chọn nơi mình sẽ đến. Họ chỉ có thể lựa chọn cách mình đương đầu và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
        Có những khi đứng bên rìa Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, tôi lại bắt gặp một bà cụ người Hà Giang gùi bó ngô non đi ngang qua. Bà dừng chân nhìn vào, nói rất khẽ:
        – Hồi ấy chỉ mong hết tiếng pháo để còn yên tâm cấy lúa...
       Chỉ một câu nói mộc mạc ấy thôi, nhưng đủ để nói thay cho tất cả những gì đau thương nhất về chiến tranh. Người lính đau một, thì người dân lành phải đau mười. Nhà cửa mất thì còn dựng lại được trên nền đất cũ, nhưng người mất rồi, thì mãi mãi chẳng thể trở về nữa.
        Dạo nọ, có một cháu sinh viên hỏi tôi:
        – Nếu được sống lại tuổi hai mươi một lần nữa, bác có chọn nghề lính nữa không?
        Tôi mỉm cười. Đến tuổi này rồi, người ta không còn trả lời mọi câu hỏi bằng lý trí thuần túy. Tôi đáp:
       – Nếu đất nước bình yên, thanh bình như hôm nay thì không. Nhưng nếu Tổ quốc vẫn cất tiếng gọi thiêng liêng như ngày ấy... thì có. Không phải vì tôi thích chiến tranh, mà vì khi non sông cần, mỗi thế hệ đều phải có những người sẵn sàng đứng ra gánh vác phần gian khổ, hiểm nguy nhất.
        Thế hệ chúng tôi đã hoàn thành phần việc của mình. Giờ đến lượt các cháu giữ gìn nền hòa bình này. Hãy giữ nó bằng tri thức, bằng sự tử tế, bằng tình yêu đất nước và bằng lòng tôn trọng các dân tộc khác. Đó mới là chiến thắng lâu bền và vĩ đại nhất.
        Bây giờ, mỗi khi có dịp ngắm nhìn dòng sông Lô lặng lẽ, bình thản chảy giữa đôi bờ, nhìn những đoàn xe chở hàng nối đuôi nhau qua cửa khẩu biên mậu, nhìn người dân hai nước qua lại giao thương buôn bán, tôi thấy lòng mình nhẹ nhõm và thanh thản lạ kỳ. Hòa bình đích thực không cần tiếng reo hò vang dội. Hòa bình là khi đứa trẻ được cắp sách bình yên đến trường, là người nông dân được thong dong gieo những hạt mạ non trên cánh đồng lộng gió, là người lính già có thể tự do trở lại chiến trường xưa mà tai chỉ còn nghe tiếng chim rừng lảnh lót. Những điều bình dị, hiển nhiên ấy, ngày còn trẻ giữa làn mưa bom bão đạn, chúng tôi chưa từng dám nghĩ tới. Phải đi qua trọn vẹn một cuộc chiến sinh tử mới hiểu: Bình yên quý giá hơn mọi chiến thắng trên đời.
        Chiều xuống rất nhanh trên những dãy núi đá biên cương. Nắng cuối ngày phủ lên Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên một màu vàng nhạt, trầm mặc. Khói hương quyện đậm rồi bay lên, tan vào mây núi ngàn đời. Tôi bỗng nhớ đến một câu thơ cũ: "Người nằm xuống cho đất nước đứng lên..."
         Mảnh đất này hôm nay đã thực sự đứng lên rồi. Những con đường mới đã mở, những cửa khẩu biên mậu đã tấp nập người qua lại, tiếng cười reo của trẻ nhỏ đã hoàn toàn át đi tiếng gầm vang của đại bác năm xưa. Đó là điều mà những người đã nằm lại dưới cỏ kia, nếu có thể chứng kiến, hẳn họ sẽ mỉm cười nơi chín suối.
        Đến tuổi này, tôi chẳng còn mong cầu gì cho riêng mình nữa. Chỉ mong sao những đồng đội còn nằm lại đâu đó dưới tầng đá núi Vị Xuyên sớm được tìm thấy để trở về với tên tuổi, quê hương của mình. Mong những người mẹ hiếm hoi còn sống có được một nơi chốn để thắp nén nhang cho đỡ tủi lòng.
        Tôi chống gậy bước chậm ra cổng nghĩa trang, khẽ ngoái đầu nhìn lại lần cuối. Gió vẫn thổi xào xạc qua rừng thông như bốn mươi năm trước. Chỉ khác một điều, ngày ấy gió mang theo mùi khói súng khét lẹt. Còn hôm nay, gió chở che mùi hương của hòa bình.
        Và tôi mong cho những người lính già ở cả hai phía, nếu còn đủ sức khỏe, hãy trở lại chiến trường xưa thêm một lần nữa. Không phải để khơi gợi lại hận thù, mà là để nói với những người đã khuất và nhắc nhở những người đang sống rằng: Các thế hệ mai sau sẽ không bao giờ còn phải bước vào chiến tranh nữa. Đó mới chính là mùi hương đẹp nhất, thiêng liêng nhất của Tổ quốc.

                             Nguyễn Minh Quang
Nguyên cán bộ Ban Tham mưu E 14, F 565, BĐ12  
 
 
 
 

tin tức liên quan