Ký ức nơi hầm điều áp - Hồi ký: Nguyễn Minh Quang

Ngày đăng: 10:18 21/07/2026 Lượt xem: 6
KÝ ỨC NƠI HẦM ĐIỀU ÁP
 
        Mỗi lần có dịp quay về thăm Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, cánh lính thợ năm xưa chúng tôi thường chỉ đi qua hầm giao thông rực rỡ ánh đèn để vào gian máy, gian biến thế. Ngước nhìn công trình vĩ đại sừng sững giữa đất trời, lòng tôi lại bùi ngùi nhớ về những hạng mục đường hầm nằm sâu thẳm trong lòng đất do Trung đoàn 14, Sư đoàn 565  thi công thuở trước. Đã mấy chục năm qua, những lối rẽ ấy vẫn tĩnh lặng chìm trong bóng tối của lòng núi, nơi chúng tôi chưa một lần có cơ hội bước chân thăm lại.
         Trong số đó, có một khoảng trời ký ức mang tên: Hầm Điều áp.
        Ngày ấy, trên những bản vẽ in giấy can màu tím lảng bảng nét mực của Trung tâm Thiết kế Tổng công ty Sông Đà – nơi kỹ sư Nguyễn Thụ Đát làm việc – tiếng Nga gọi hạng mục này là Напорный бассейн. Tuy nhiên, bản vẽ lại ghi là "hầm hành lang cửa van", tiếng Nga là Галерея затворов. Những danh xưng kỹ thuật thoạt nghe khô khốc ấy, với chúng tôi, lại chứa đựng cả một thời tuổi trẻ dọc ngang.
        Ký ức đưa tôi về những năm tháng gian lao ở cao độ 50. Sau khi khoan thông hầm giao thông và thông gió, chúng tôi tiếp tục mở một đường hầm rẽ sang trái. Đó chính là hầm điều áp. Do điều kiện thi công bấy giờ muôn vàn thiếu thốn, chúng tôi phải áp dụng phương án khoan nổ phần vòm hầm trước, sau đó mới tiến hành hạ nền.
        Khi thi công vòm hầm điều áp, do thiết diện ngang nhỏ nên chỉ dùng được một máy khoan CBU-2M. Nhiệm vụ nặng nề này được giao cho Đại đội 211. Ban chỉ huy đại đội ngày ấy có anh Thành làm Đại đội trưởng; các anh Hùng, Bản, Quang, Thảng, Cảnh làm Đại đội phó. Dưới sự chỉ huy ấy là những người thợ khoan quả cảm, thiện chiến: anh Trà, anh Minh, anh Lợi, anh Tài "Sùi", anh May, anh Luổng... Những cái tên mà dù thời gian có phủ bụi mờ lên vạn vật, tôi vẫn nâng niu giữ lại trong một góc trang trọng nhất của trí nhớ.
         Đoạn hầm do Trung đoàn 14, Sư đoàn 565 thi công khi ấy là một trong những nơi thử thách nhất. Đá tảng từ vòm hầm rơi xuống liên tục. Có những ca kíp, đá lở làm gãy vụn cả cần khoan, và đau xót nhất là đã có những chiến sĩ của chúng tôi bị tai nạn, đổ máu ngay trong lòng núi.
        Thế nhưng, điều ám ảnh nhất trong hầm sâu không phải là tiếng máy khoan gầm rú, mà lại là những khoảng lặng đột ngột. Có những hôm đang làm việc, trạm biến áp đặt ở ngoài cửa hầm bất ngờ gặp sự cố. Chỉ một trục trặc nhỏ phía ngoài ấy thôi là lập tức dòng điện bên trong vụt tắt. Đèn tắt phụt, quạt thông gió lịm dần rồi im bặt. Bóng tối từ các hốc đá ùa ra, đặc quánh, ngột ngạt  mênh mông, chia cắt hoàn toàn thế giới trong lòng núi với ánh sáng ngày ngoài cửa hầm.
       Thời ấy bộ đội nghèo, không phải ai cũng được trang bị đèn lò cài mũ. Thế là trong cái khoảng không tối om ấy, người nào ngồi yên chỗ nấy, chẳng ai dám dịch chuyển dù chỉ nửa bước chân. Không gian tĩnh lặng đến rợn ngợp. Giữa cái ngột ngạt của lòng đất, chúng tôi nghe rõ cả tiếng "đá cựa mình" – những tiếng tách... tách... khô khốc của thớ đá đang rạn nứt vì áp lực thay đổi, rồi tiếng đá tảng rơi rụng âm u đâu đó dưới thung sâu. Những khoảnh khắc đứng tim ấy, tôi ngồi bó gối trong bóng tối, lòng thắt lại lo cho anh em, và tâm trí chợt lảng bảng trôi về câu chuyện sập hầm mỏ trong cuốn sách "Không gia đình" của Hector Malot mà mình từng đọc thời đi học. Nhân vật Rémi và những người thợ mỏ năm xưa đối mặt với tử thần trong lòng đất ra sao, thì chúng tôi ngày ấy cũng đang đánh cược tuổi đôi mươi với đá núi như thế.
        Nhưng chính trong cái bóng tối sinh ra từ sự cố máy biến áp ấy, một thế giới khác lại mở ra qua những thanh âm lọt lại từ phía xa. Gần chỗ chúng tôi, những cô gái thuộc Công ty Thủy công – đơn vị được Công ty Công trình ngầm giao phối hợp thi công phần việc giếng thoát sự cố trong khu vực của trung đoàn 14 thi công cũng đang đứng lặng chờ điện. Giữa cái ngột ngạt, tối tăm của hầm ngầm, tiếng các cô gái trò chuyện, tếu táo bắt đầu rộ lên. Họ vô tư bàn chuyện chăn gối giường chiếu, người thì hồ hởi khoe chồng mình một đêm được mấy lần, người lại cười hô hố chê chồng chị kia "yếu sinh lý".
       Những câu chuyện bộc tuệch, ngồn ngộn hơi thở đời sống ấy va vào vách đá lạnh lẽo, khiến cánh sĩ quan trẻ chưa vợ chúng tôi ngồi im bấy lâu bỗng chốc đỏ mặt tía tai, nhưng lòng lại rộn lên những nhịp đập thổn thức. Khát vọng về một hạnh phúc lứa đôi trần trụi nhưng ấm áp mai sau tự nhiên trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Giữa lằn ranh của sinh tử và sự khắc nghiệt của đá núi, chúng tôi bỗng thèm khát cái sức sống xôi thịt, bình dị ấy. Đứa nào cũng thầm ước ao rằng, sau khi hoàn thành xong công trình thủy điện Hòa Bình, mình sẽ chỉ  làm những công việc ngoài trời – những công việc ở nơi dư thừa ánh nắng, dư thừa bầu không khí trong lành và những ngọn gió lộng, để được sống một cuộc đời bình thường bên một mái ấm gia đình.
      Khi sự cố ngoài cửa hầm được khắc phục, ánh sáng bừng lên, tiếng máy lại nổ xé toạc những mơ mộng lảng bảng của cánh lính trẻ. Anh em lại tiếp tục lao vào trận địa. Khi vòm hầm hoàn thành, phần hạ nền được bàn giao lại cho Đại đội 6 – lúc này anh em mới vừa xong việc bạt xả ngoài hố móng. Đại đội 6 do anh Thắng làm Đại đội trưởng, anh Long và anh Sinh làm Đại đội phó.
       Bước vào giai đoạn hạ nền, chúng tôi dùng các ống thép phi 100 dựng thành giàn hai bên để lắp máy BMK-100 khoan các lỗ khoan viền. Đồng thời, một máy khoan CBU-100 tự hành cũng được đưa vào để đánh các lỗ khoan giữa hầm. Kỹ thuật nổ mìn dạo ấy là cả một sự sáng tạo. Để nổ các lỗ khoan viền, chúng tôi buộc các thỏi thuốc mìn amonit cách quãng vào dây nổ. Dây nổ được chập làm hai hoặc ba, cứ ba thỏi amonit lại buộc cách nhau một khoảng rồi thả xuống lỗ. Riêng với các lỗ khoan giữa, chúng tôi thả dây nổ buộc thuốc gramonit xuống tận đáy trước, sau đó đổ trực tiếp thuốc nổ amonit hạt to như hạt ngô vào rồi dùng mạt đá lấp chặt lại. Các đầu dây nổ phía trên được đấu nối cẩn thận với kíp điện vi sai.
       Trên cương vị chỉ đạo kỹ thuật, tôi luôn ra lệnh kích nổ các lỗ khoan viền bằng máy BMK trước để tạo biên phẳng, bảo vệ vòm hầm, sau đó mới nổ các lỗ khoan giữa của máy CBU-100. Khi việc khoan nổ và hạ nền hoàn tất, chúng tôi chính thức bàn giao lại mặt bằng cho Công ty Công trình ngầm để họ tiếp tục thi công.
       Bốn mươi năm đã trôi qua, những người thợ khoan dũng cảm của Đại đội 211, Đại đội 6 năm xưa giờ người còn, người mất, người đã tóc bạc da mồi như tôi. Máu, mồ hôi, những phút giây nghẹt thở vì đá cựa mình và cả những giấc mơ rực nắng, những câu chuyện đùa tếu táo của các cô gái năm ấy đã thấm vào từng thớ đá hoang sơ ở cao độ 50, để hôm nay dòng điện sông Đà mãi tỏa sáng đến mọi miền Tổ quốc. Hầm điều áp có thể nằm khuất sâu trong lòng núi tối tăm, mờ mịt như một huyền thoại, nhưng trong ký ức của những người lính thợ tuổi bảy mươi, nó vẫn luôn là một khoảng lặng thiêng liêng, nơi tuổi trẻ chúng tôi từng đi qua bóng tối để mơ về ánh nắng, tình yêu và sự sống vẹn nguyên.

          Nguyễn Minh Quang
Ban Tham mưu E14, F565, BĐ12
tin tức liên quan