Ký ức không quên - Nữ chiến sỹ bộ đội Đường ống Trương Sơn cúng tôi ngày ấy - Hồi ký: Lã Thị Tình
Kỷ niệm 79 năm ngày TBLS (27/7/1947 – 27/7/2026).
KÝ ỨC KHÔNG QUÊN - NỮ CHIẾN SỸ BỘ ĐỘI ĐƯỜNG ỐNG
TRƯỜNG SƠN CHÚNG TÔI NGÀY ẤY!
Hồi ký LÃ THỊ TÌNH
Hơn 50 năm đã đi qua. Nhưng ký ức về cuộc đời người lính Trường Sơn chúng tôi ngày ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi không bao giờ quên. Năm 1971, chúng tôi có vinh dự lớn được nhập ngũ vào đúng ngày 19-5, sinh nhật Bác Hồ kính yêu. Ra đi từ "quê hương năm tấn" Thái Bình và các tỉnh Hải Dương, Hà Bắc, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Nam Hà, Thanh Hóa, Nghệ An…tuổi đời từ 16 đến 21. Lần đầu xa nhà nhớ lắm, khóc hoài, nhưng không ai muốn rời quân ngũ.
Khi nhập ngũ tôi đã là đảng viên, được cấp trên phân công làm Phó Bí thư chi bộ, Trung đội trưởng một trung đội có 41 chị em. Đơn vị đã qua 5 tháng huấn luyện thật vất vả, gian khổ ở Tràng Bạch, Mạo Khê, Đông Triều, Quảng Ninh, nhưng cũng có rất nhiều niềm vui. Tuổi trẻ có nhiều hoài bão, ước mơ, mà ước mơ lớn nhất lúc bấy giờ là được vào chiến trường như nam giới, để được góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Và ngày đó đã đến! Ngày 4 tháng 10 năm 1971 đơn vị chúng tôi nhận lệnh hành quân vào chiến trường. Ngày đầu đi bộ từ Mạo Khê đến ga Tiền Trung - Hải Dương thì lên tàu hỏa, đến Thanh Hóa thì hành quân bộ. Mỗi ngày chúng tôi lại xa nhà hơn, xa bố mẹ, anh chị em, xa quê hương yêu dấu... Không ai kìm nén nổi tình cảm nhớ nhung cứ trào dâng trong lòng. Chị em chúng tôi cứ ôm chặt lấy nhau, khóc thút thít như trẻ con vậy. Song mọi người đều quyết tâm giữ vững lời thề: "Không hoàn thành nhiệm vụ, không về quê hương...".
Từ hôm đó, chúng tôi cứ ngày đi, đêm nghỉ. Quân tư trang và vũ khí trên vai nặng trĩu, tương đương với trọng lượng cơ thể mỗi người. Chúng tôi qua Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Càng vào gần biên giới Việt - Lào, khí hậu càng nóng. Thiếu nước sạch, thiếu rau, thiếu đủ thứ... Thực phẩm đồ hộp mang theo cũng dần cạn kiệt. Chúng tôi phải hái rau rừng ven suối để ăn. Có hôm hái nhầm rau môn thục dại, ăn ngứa đến rách cả miệng...
Khi vượt cửa khẩu đường 18 sang đất bạn Lào, núi rừng Trường Sơn hiểm trở, suối sâu, đèo cao dốc thẳng đứng. Ba lô trên vai nặng lắm, nhưng không ai dám bỏ đi thứ gì. Cứ cố, cứ cố, rồi ngày qua ngày, cái nặng, cái mệt cũng quen dần. Đúng là “Lên dốc, đầu gối chạm cằm; Xuống dốc, ba lô chạm đất”. Ngày đó trung đội tôi phụ trách vẫn đủ mặt 41 chị em, bình quân mỗi ngày có khoảng bảy, tám chị em phải mặc "quần đen", tôi cứ đùa "Đường ống hôm nay sự cố nhiều quá!”. Có chị còn bị đau bụng, chúng tôi phải phân công nhau khênh giúp ba lô, thật nặng nề vất vả. Chỉ có ai là phụ nữ mới thấu hiểu điều này. Duy chỉ có một điều mà ai cũng biết, đó là không có chiến sĩ gái nào của Bộ đội đường ống Trưòng Sơn đào ngũ.
Một hôm hành quân đến Binh trạm 9 thì trời tối, mưa mỗi lúc một to, nghe nói mưa tầm tã đã mấy ngày. Ở trạm giao liên quân ra, quân vào tấp nập, lầy lội ngập ngụa, cây không đủ để mắc võng, cứ buộc võng đan chéo vào nhau. Củi tươi cũng không đủ mà chất bếp. Đào bếp Hoàng cầm xong, chúng tôi bảo nhau: Củi tươi và ướt, chỉ còn cách lấy quai dép dự phòng mà nhóm bếp thôi. Cơm vừa sôi thì có lệnh báo động máy bay trinh sát của địch, phải tắt lửa. Thế là hành quân đã mệt nhoài, tối đó cả đơn vị lại phải nhịn đói. Có hôm mắc võng ngủ trong rừng, vắt từ cây bật xuống, chui vào cổ, vào nách hút máu. Có chị ở thành phố không biết con gì, sợ quá cứ ôm nhau khóc như cha chết. Tôi phải lội bùn đến từng võng giúp chị em bắt vắt, động viên mãi mới chịu ngủ. Khi quay về võng của mình chân tôi bẩn gần tới gối, nếu ra suối rửa quay lại cũng bẩn thế thôi, tôi đành gạt bớt bùn, đi tất vào leo lên võng nằm và ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Còn nạn ruồi vàng, muỗi dĩn... khi trời đổ mưa chúng lao vào mặt như vãi cát, có những nốt ve cắn mấy tháng sau sờ vào vẫn còn buốt. Chị em chúng tôi cũng từng vượt sông Sê Pôn, sông Sê Băng Hiêng bằng "phao" ba lô như nam giới.
Cứ thế. Ngày hành quân, đêm nghỉ. Ngày 1 tháng 11 năm 1971 chúng tôi đến địa điểm và được bàn giao về Trung đoàn 592 đường ống, thuộc Đoàn 559. Cơ quan trung đoàn đóng ở Tà Lao, cách Đường 9 khoảng 3 giờ đi bộ. Tôi được may mắn hơn một số chị em là được về công tác ở Ban Chính trị, lúc đầu làm thống kê chính sách, sau đó làm trợ lý tổ chức. Một số chị cũng ở cơ quan, người làm y tá, nuôi quân, trực tổng đài thông tin... Tổng số chiến sĩ gái của trung đoàn lúc đó là 275 người, phần lớn được biên chế về 3 tiểu đoàn 668, 968 và 969. Chị em cũng làm mọi việc nặng nhọc như nam giới. Nào thi công tuyến ống, nào quản lý vận hành, nào cứu tuyến, khi bị địch đánh cháy, có chị còn học chạy máy bơm, nhiều chiến sỹ nam giới còn khó mà theo kịp.
Mang vác đường ống thi công
Vận chuyển đường ống bằng sức người vào công trường (Ảnh tư liệu)
Chúng tôi phải sống quanh năm với núi rừng âm u, khí hậu khắc nghiệt. Sáu tháng nắng lửa, sáu tháng mưa dầm đến thối đất, quần áo phơi hàng tuần không khô, lúc nào người cũng ẩm ướt, ngứa ngáy khó chịu. Bệnh phụ khoa, lở loét, sốt rét... phát triển. Một số chị đã hy sinh vì sốt rét ác tính, như chị Nguyễn Thị Khuyên (người Hà Bắc). Nhiều chị bị nhiễm chất độc da cam, sau này sinh con đẻ cái dị dạng, như chị Hoa ở tỉnh Hà Bắc (nay là Bắc Ninh, Bắc Giang) mang nỗi đau suốt đời... Mặc cho mọi khó khăn gian khổ, chị em chúng tôi vẫn vượt lên tất cả, với chiếc ống trên vai, chúng tôi vẫn đạp lên đường trơn, núi cao, vực sâu, rừng thẳm của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đưa đường ống dẫn dầu tới mọi nẻo chiến trường. Nhiều chị trở thành Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng như các chị: Trần Thị The, Nguyễn Thị Ngát, Phạm Thị Cúc, Lê Thị Chiến, Lê Thị Huệ... Ai có thể quên được hình ảnh chị Phạm Thị Oanh, một mình một ống trên vai vượt đỉnh núi Đá Bàn lẫn trong mây mù...
Nhưng nỗi đau lớn nhất mà tôi không thể nào quên, đó là vào sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, một ngày sau khi ký Hiệp định hoà bình Pari được ký kết, máy bay B52 của Mỹ vẫn điên cuồng ném bom rải thảm hai lần xuống trung đoàn bộ Trung đoàn 592, gần hai mươi đồng chí đã anh dũng hy sinh, mà phần đông là các chiến sĩ gái. Tôi còn nhớ rất rõ chị Phí Thị Kim Thỏa, chị Phạm Thị Hạnh quê Thái Bình, ngày nhập ngũ mới 16 tuổi, khi ngã xuống tuổi chưa tròn 18, cái tuổi đẹp nhất của đời người con gái. Chị Nguyễn Thị Thu và chị Vũ Thị Liễu hy sinh khi đang xay bột làm bánh tết cho đơn vị; riêng chị Vân người Hà Bắc có giọng hát dân ca Quan họ hay nhất đơn vị, khi hy sinh ngay tại bếp ăn tập thể, bom đánh gần đồ đạc, xong chảo bay tơi tả, thi thể chị bị chảo quân dụng úp chụp vào, mọi người tìm mãi mới thấy. Các chị Ninh, Liễu, Xuân quê Hải Phòng gục ngay bên tổng đài, tay vẫn nắm chặt tổ hợp thông tin. Chị Nguyễn Thị Vy, là y tá, chị bị bom xé nát thi thể khi đang đi điều trị bệnh cho bệnh nhân ở các tiểu đội trong đơn vị. Tôi được chứng kiến một chân chị treo trên ngọn cây, sau đó đã cùng đồng đội thu lượm tử thi lại để làm lễ truy điệu và chôn cất các liệt sỹ... Và còn nhiều đồng đội của tôi đã vĩnh viễn ra đi, tôi không nhớ hết được.
Sau chiến tranh, các đồng đội của tôi đã được quy tập đưa về an táng tại Nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn. Vì hoàn cảnh gia đình đến tận bây giờ tôi vẫn chưa có điều kiện được trở lại thăm chiến trường xưa để đến viếng các anh, các chị - đồng đội thân yêu của chúng tôi đã nằm lại nơi đây. Nhưng ngày nào tôi cũng mong đợi, thầm ước ao sẽ được đến tận nơi thăm lại những mảnh đất, cánh rừng mà chúng tôi đã từng sống, công tác, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, xây dựng đường ống xăng dầu vươn ra phía trước tới các chiến trường…
Kỷ niệm 79 năm ngày TBLS (27/7/2026). Tôi xin được chép lại những dòng nhật ký Bộ đội Trường Sơn chúng tôi năm xưa. Xin được thay cho nén hương thơm tưởng nhớ và ghi công các anh hùng liệt sỹ đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do Tổ quốc. Cho đất nước Việt Nam giàu đẹp, hùng cường như hôm nay.
LÃ THỊ TÌNH
(Trung đoàn 592 bộ đội Đường ống XDTS)
Hội VHNT Trường Sơn Bắc Ninh