“Cha con tôi trên Trường Sơn ngày ấy” - Truyện ký của Trần Khởi
CHA CON TÔI TRÊN TRƯỜNG SƠN NGÀY ẤY
Truyện ký của Trần Khởi
Ông Chủ tịch xã Phong Thủy chằm hăm đọc lá đơn tình nguyện của tôi hồi lâu, nhíu mày, đặt chiếc kính xuống bàn rồi rót nước mời: - Cậu uống đi! Ông cụ nhà cậu ngày nào đi? - Dạ ngày mốt ạ! Ông nói tiếp: - Cậu cho tôi gửi lời hỏi thăm ông cụ nhé! Ông đi qua đi lại mấy vòng, cái đầu gật lên gật xuống: - Ông cụ cách mạng thật, định đưa cả gia đình đi đánh Mỹ chắc? Ông lại ngồi xuống ghế nhìn tôi hồi lâu rồi nói: - Tôi hoan nghênh đơn tình nguyện của cậu! Khát vọng của cậu đúng vào thời điểm cả nước đang lên đường đánh Mỹ. Ông dừng lại hạ giọng: - Theo tôi, cậu nên ở nhà, hoàn cảnh gia đình neo đơn lắm. Cha chú đều ra trận cả! Tôi thở ra rồi nài nỉ ông: - Chú cho cháu đi! Ông xua tay: - Đành vậy, nhưng cậu đã có giấy gọi đi học nước ngoài mà! Tôi dè dặt tiến đến ông: - Thống nhất nước nhà cháu về học lại! Ông cười nhân hậu: - Nhưng đơn vị nào tuyển cậu? Tôinhanh nhẩu: - Ba cháu tuyển còn ai nữa. Ông cười, rồi đi vào phía trong xầm xì to nhỏ với ai đó đoạn quay ra: - Thôi được, chú cho cháu đi, nhưng cháu phải làm rạng danh cho quê hương và gia đình… Tôi sướng rơn lên, chộp lấy lá đơn chạy ào ra sân. Ông gọi giật lại: - Khoan đã, chưa xong đâu. Còn phải đóng dấu nữa. Vừa đóng dấu vào đơn ông vừa hỏi: - Nghe các thầy giáo cấp 3 kháo nhau cậu mới làm thơ “Lên đường” hay lắm à? Cậu đọc cho tớ nghe! Tôi gãi đầu: - Cháu quên cả rồi. Mà nói thật, lúc đó tôi muốn bay lên nhà để khoe với lũ bạn. Ông ta giục: - Thôi đọc một đoạn cũng được! Tôi đứng lặng một hồi rồi ngượng ngùng đọc:
Miền Nam ơi chúng con đã lên đường
Trở về bên mẹ, mẹ yêu thương
Như trăm dòng máu về tim lớn
Xa cách giờ đây nối nhịp đường
Con đã xếp những bài văn soạn dở
Để lên đường soạn đủ chiến công
Hướng pháo quay nòng nhớ bài vật lý
Lúc đầu tôi đọc lí nhí, càng về sau tôiđọc to rõ hùng hồn. Tôi nghe đất dưới chân mình rùng rùng chuyển động. Tôiđọc chưa hết đoạn thì ông vỗ tay cười rồi ôm chầm lấy tôi: - Hay! Hay lắm! Một bài thơ thấm đẫm Chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Một quyết tâm, ý chí, nghị lực sắt đá của cả dân tộc đánh Mỹ. Ông nắm chặt tay tôi: - Chúc người lính trẻ lên đường sức khỏe. Quê hương đang đợi chiến công của chú. Tôi khấp khởi chào ông, rồi phóng như bay về nhà. Lũ bạn được tin tôi đi lính, chúng kéo đến đầy nhà như ong vỡ tổ, quên cả tiếng đạn bom gầm rít trên đầu. Cũng nhiều đứa vui, nhưng có đứa buồn ra mặt, vì từ đây chẳng có đứa nào dám liều lĩnh như tôi, trộm cả rá trứng vịt lộn đem ra Mũi Viết cho cả lũ ngồi xơi, lội sang sông vặt trộm ổi, đu đủ nhà họ, dám liều lĩnh đánh lại bọn choai choai làng bên. Bọn bạn ra về, cái Mai bạn học cùng lớp, buồn buồn dí vào tay tôi tập truyện “Sống như Anh” của Trần Đình Vân rồi thút thít, ù té chạy…
Cha con tôi lên đường đúng ngày 25 tháng 8 năm 1967, dịp máy bay giặc Mỹ đánh phá quê hương ác liệt chưa từng có. Quy Hậu chết mười ba người. Trêndòng Kiến Giang ba học sinh trường tôi. Cạnh nách nhà tôi mười hai người nữa. Cảnh tiêu điều xơ xác bao trùm lấy làng quê yêu dấu. Tôi chia tay mẹ tôi với bữa cơm đạm bạc, trong căn hầm chữ A chật chội. Trên rền vang tiếng bom bi nổ chát chúa. Mẹ tôi thút thít khóc. Cái Thương, thằng Quang khóc như mưa. Tôi nuốt thầm nước mặt: - Mai mốt anh bắt chim rừng về cho em. Nó mới chịu nín cho. Ba tôi đẩy mẹ tôi vào: - Thôi để con đi an tâm! Nhà mình, cha chú đều đi lính thì con phải ra trận…
Chiếc xe gát ì ạch, lắc lư cõng cha contôi mò mẫm đi trên đường 15 - Miền Tây Quảng Bình, để lại đằng sau nỗi nhớ thương vô cùng, vô tận. Tôi như còn nghe thấy tiếng khóc sụt sùi của mẹ tôivà bàn tay run run của bà cầm nắm nhang thắp lên bàn thờ cầu xin tổ tiên ông bà cho cha con tôi “Thượng lộ bình an”, và cả tiếng thằng em út còi cọc: - Nhớ bắt chim rừng về cho em. Rồi cả tiếng thằng Hải Xù: - Nhớ diệt nhiều Mỹ vào! Tôi nhớ vùng đất quê tôi, nơi có dòng Kiến Giang hiền hòa, xanh trong, chở những con thuyền giấy tuổi thơ. Nhớ Mũi Viết những đêm trăng thơ mộng, cả lũ ngồi tán dóc. Nhớ Cồn Mồ những trận đánh giặc giã, và đồng Trong, đồng Ngoài mùa đi mót lúa. Nhớ tiếng hát chị Châu Loan, chị Tuyết, Dinh, anh Sỹ Cừ (Đoàn dân ca Bình Trị Thiên) hôm lên hát tiễn cha con tôi lên đường.
Chưa bao giờ ngồi xe, nôn hết mật xanh mật vàng, tôi như viên bi của tuổi thơ, lăn long lốc trên thùng xe, lăn theo conđường binh nghiệp của ba tôi. Tôi miên man nghĩ: Tuổi “Hoa niên” của tôi mở ra và đóng lại quá ngắn ngủi. Đó là chuỗi ngày long đong vất vả, cha tôi đã sớm khoác lên tôi một màu xanh của lính. Từ thuở còn nằm trong bào thai mẹ, tôi đã đọc được ý nghĩ của ông: - Con ơi mau trưởng thành lớn khôn, để ngày mai cùng cha đi đánh giặc! Khi mới cất tiếng khóc chào đời, trong vùng tạm chiến, mẹ tôiphải cạo trọc đầu để đánh lừa bọn Tây đồn, năm lần bảy lượt cõng tôi lên chiến khu Bang Rợn tìm cha tôi. Hòa bình lập lại, đơn vị ông ở Hạ Lào trở về Hương Khê, Hà Tĩnh, ông cho người vào đón mẹ con tôi. Hai mẹ con lại dắt díu nhau đi theo tiếng gọi của ông, và trở thành người lính từ đó. Mới bảy, tám tuổi đầu, nhưng tôi đã vượt suối băng rừng, đeo chiếc ba lô cóc nhỏ xíu bên mình cùng các chú bộ đội, hành quân vào Nam ra Bắc. Một lần đơn vị vượt đèo Ngang, một người lính đang cõng tôi, nói với ba tôi: - Thủ trưởng cho đơn vị nghĩ, cháu sốt nặng… Đến mùa thu năm 1957, hai mẹ con được Giải ngũ, và bây giờ…
Đến Cộn, ông dẫn tôi vào thăm ông Nguyễn Tư Thoan - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình ở đồi Mỹ Cương. Những căn nhà khu Tỉnh ủy được xếp rải rác như bàn cờ để tránh bom đạn thù, nhưng không tránh nổi - Khu Tỉnh Đoàn nơi chú ruột tôi công tác bị bom phát trụi. Những hố bom sâu hoắm, to đùng nằm trố mắt. Chú tôi xoa đầu động viên tôi: - Cháu hãy noi gương truyền thống cách mạng của gia đình. Nơi cháu đến chính là môi trường thử thách, rèn luyện cháu nên người. Ông Thoai kéo ba tôi ra ngoài hiên nói nhỏ: - Cháu còn bé quá! Lại chưa được huấn luyện một ngày nào nữa. Suy nghĩ một lúc, ông gợi ý: - Hay anh gửi cháu lại đơn vị Tỉnh đội của anh Sự để huấn luyện một thời gian rồi vào sau cũng được. Tôi ngồi lắng nghe, rồi chạy ra ôm chặt lấy ông: - Chú cho cháu đi đánh Mỹ! Ông lắc đầu cười, ba tôi cũng cười. Ông gắp thức ăn đầy bát tôi: - Ăn nhiều vào cháu. Trong ấy khổ lắm không có thứ này đâu. Mọi người bỏ bát đũa chạy xuống hầm bởi tiếng kẻng báo động máy bay thù đang đến…
Từ binh trạm 15 - Cự Nẫm miền Tây huyện Bố Trạch, cha con tôi lội suối băng rừng đi trong mưa bom bão đạn của quân thù ròng rã suốt mấy ngày đêm. Vượt qua cửa rừng, qua Cổng Trời, đèo Mụ Dạ, ngầm Ta Lê, đèo Phù La Nhích thì đến binh trạm 32 đoàn 559. Giờ đây tôitrở thành một người lính thực thụ xanh màu áo lính, chẳng còn ngây ngô như buổi ban đầu: Đi qua Cổng Trời trong mưa bom bão đạn vẫn đứng ngắm cảnh làm thơ, thấy vắt rừng tôi khóc, thấy chim kêu vượn hú tôi nhớ nhà. Tôi càu nhàu giục ba tôi: - Đi thôi ba! Sao ở đây lâu vậy? Ông cười trừ: - Đi đâu nữa mà đi. Tôi nghi ngờ: - Vậy cha con mình ở đây à? Ông gật đầu nhìn tôi. Tôi bỉu môi thất vọng: - Sao ba bảo con đi đánh Mỹ, đánh tận dưới đồng bằng cơ mà! Đại tá Vũ Xuân Chiêm - Chính ủy binh trạm 32 nảy giờ ngồi chằm hăm trên bàn giấy ngước mắt nhìn tôi cười: - Ở đây cũng đánh Mỹ chứ cháu! Ông quay sang nói với ba tôi: - Anh cho cháu sang bên ban tuyên huấn binh trạm, ở đó cha con lại gần nhau. Tôinài nỉ ông: - Thủ trưởng cho em ra chiến đấu!
Vài ngày sau, ông cụ tôi quay về xìa tấm giấy ra trước mặt tôi nói: - Con được phân về đơn vị chiến đấu C2 giữ cao điểm Văng Mu. Tôi nhảy cẫng lên ôm chặt lấy ba tôi. Hơi nóng của ông truyền sang tôi. Tôi biết giờ phút trọng đại này, lòng ông không khỏi bùi ngùi lo lắng, bởi ông đã quyết định ném một đứa con còn thơ ngây vụng dại mới mười bảy mười tám tuổi đầu, chưa có một ngày huấn luyện quân ngũ ra nơi vùng “tử địa”, ra cao điểm Văng Mu ác liệt nhất. Nơi mà bọn địch thường gọi “yết hầu đại lộ Hồ Chí Minh”, nơi mà đồng đội, đồng chí của ông ngày đêm ngã xuống để giành giật từng tấc đất, từng con đường cho xe ra tiền tuyến.
Tôi được phân về tổ trinh sát của đại đội. Nhiệm vụ của bọn tôi trực chiến trạm Parie phía Bắc đèo. Chúng tôi nắm chắc tình hình xe qua về. Nếu có tiếng súng tắc đường thì chúng tôi kịp thời xử lý. Đèo Văng Mu trước đây cao ngợp mắt, cây cối um tùm, sau này máy bay địch phát hiện đánh phá ngày đêm, quả đồi ngày một nhỏ lại, con đường ngày một cao thêm. Từ dưới chân đèo nhìn lên quả đồi lở loét, trơ trọi, đỏ lòm. Trên đình đèo còn lưa thưa vài thân cây bị bom phát trụi, khói lửa ngút trời. Những chiếc dù pháo sáng của địch thả xuống như những đàn cò trắng đậu kín cả đồi chẳng ai thèm nhặt. Đường đi qua đèo độc đạo, một chiều, lại khúc khuỷu quanh co. Chỉ cần lơi tay một chút, lơ mắt một chút là xe lao xuống vực. Những đoàn xe qua đèo, nếu bị địch phát hiện đánh cháy đầu thì cả đoàn “tiến thoái lưỡng nan” đành đưa lưng ra hứng bom hứng đạn và được anh em công binh cho ăn mìn để thông đường. Vực sâu và rộng, dài như thế, nhưng chẳng còn đủ chổ để chứa hàng trăm chiếc xe cháy xe hỏng nên nó chồm cao khỏi mặt đường. Vắt cơm nơi cao điểm này trộn đều bụi đất, gang sắt bom đạn quân thù và máu xương của đồng đội, đồng chí. Thằng Hùng quê ở Thanh Hóa bị miếng cơm xơi tái luôn hai chiếc răng, rồi thằng Quân, thằng Trọng, thằng Tấn chết trên đường đi bới cơm cho lũ chúng tôi. Đại đội chết dần chết mòn. Số lính cũ còn lại chỉ có sáu thằng, may mắn trong đó có tôi.
Mùa mưa ở Trung Lào thật kinh khủng. Mưa thối trời thối đất. Mưa ròng rã suốt ngày đêm. Mưa tuần này vắt sang tuần khác. Mưa thè lưỡi liếm vào ta tuy đường lại thêm bom đạn thù trút xuống, conđường thoi thóp, ngắc ngoải. Đường qua đèo sụt lở hết chổ này đến chổ khác. Đơn vị kịp thời thanh lập tổ “đánh mìn cảm tử” để thông đường. Tôi xung phong vào tổ đó và dĩ nhiên trở thành “kiện tướng đánh mìn cấp một”. Tôi đánh một lúc mười lăm quả liền. Đánh xong lũ chúng tôi lại hối hả san lấp đường và không quên chỉa súng lên trời bắn ba phát làm hiệu lệnh cho xe qua. Trên đèo không có hầm tránh đạn, cũng không thể làm được hầm, bởi làm giờ này thì giờ sau bom lại lấp, thôi đành đưa tấm lứng trần ra hứng bom đạn. Thể xác tâm hồn hòa với con đường con đường với đất đai. Phía Nam đèo, trung đội 2 dũng cảm kiên cường bám trụ làm cầu cho xe qua vì nước ngầm lên cao. Có ngày họ phải làm đến năm sáu lần, làm xong bom lại đánh, họ lại làm. Những tên phi công Mỹ và những chiến sĩ công binh anh hùng C2 chẳng lạ lẫm gì nhau. Họ thi gan nhau, trừng trừng nhìn nhau, gờm nhau như dũng sĩ trên võ đài. Chỉ có hơn ba ngày đêm mà trung đội bị máy bay địch nuốt hơn một nửa quân số. Quần áo, giày mũ chẳng kịp khô, cứ mặc ướt suốt mùa rồi cũng quen gần. Sên vắt như những binh đoàn ra trận. Hễ động, chúng xông lên ào ào. Vắt chui vào tai vào mũi, rúc cả vào màn ngủ chung với lũ tôi. Thấy tôiđược đi báo cáo kinh nghiệm đánh mìn cấp một, Thiệp - Bí thư Chi Đoàn chẳng ưa mấy. Một bữa tôi ra mặt đường, hắn ta lục lọi ba lô tôi tìm được bài thơ “Gác đêm” tôi viết tặng Mai - Người bạn học cùng lớp, hắn quy tư tưởng “tiểu tư sản” và đề nghị chi bộ hoãn kết nạp Đảng của tôi. Bài thơ có đoạn thế này:
“…Đêm khuya trong phiên gác
Người lính trẻ tương tư
Một nỗi buồn man mác
Lòng sướt mướt dòng mưa
Trời cứ mưa và mưa
Anh vãn còn đứng đó
Trên đồi cây lưa thưa
Ánh trăng mờ lấp ló
Trăng ơi trăng lâu rồi
Đêm đêm anh buồn tủi
Cứ dán mắt lưng đồi
Hay tìm em khe suối…
Gió sương rừng lướt tới
Lá đêm bỗng trở mình
Giọt sương rơi vồi vội
Nghe đất trời chung chinh
Súng trong tay lặng yên
Vòng quanh nơi lán trại
Anh mơ ngày về lại
Trăng soi rọi bóng hình…
(Văng Mu 1967)
Được tin, tôi chẳng quan tâm lắm, vì lúc đó nói thật chưa hiểu mấy về Đảng. Tôichỉ biết công tác tốt là được. Nhưng nhiều lúc nghĩ lại tôi cảm thấy chua chát, đắng cay. Đúng là thằng bạn Phạm Xuân Thâu dặn tôi trước lúc lên đường: “Đời đố kỵ, ghen tuông và hiềm khích”. Tôi chủ quan cứ nghĩ: Mọi người chẳng tiếc máu xương, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho miền Nam ruột thịt, ai hơi sức đâu mà đố kỵ ghen tuông… ấy thế mà ngược lại.
Tôi được gặp ba tôi tại hội diễn văn nghệ binh trạm 32 (gần ngầm Ta Lê). Ông mừng rơn khi thấy thằng con của ông chững chạc, lớn khôn trong lửa đạn chiến tranh. Những chiến sĩ từ “cánh cửa thép Văng Mu” mang về cho hội diễn nhưng lời ca tiếng hát với sắc màu mới. Những tiết mục đó đều do tôi tự sáng tác. Mọi người rất thích vỡ hài kịch: “Đèo Văng Mu”. Câu chuyện dí dỏm kể lại một buổi giao lưu tại Lầu Năm Góc. Trong phòng có tổng thống NichXơn và Oét Molen. NichXơn đang chăm chú nghe Oét giảng giải thuyết trình về đường mòn Hồ Chí Minh. Y dùng thước chỉ lên bản đồ và dùng bút vòng lại cao Điểm Văng Mu. NichXơn gật gù rồi ra lệnh: - Phải dùng cách bóp nghẹt “yết hầu đại lộ Hồ Chí Minh”. Y nắm chặt tay đừa thẳng lên trời. Bỗng Lưu Đơn - Tham mưu trưởng không lực Hoa Kỳ xòe hai cánh tay như máy bay chao liệng mấy vòng rồi hạ ngay trước mặt hai người và hớt hãi báo: - Tuy chúng ta đánh phá ác liệt nhưng xe Việt Cộng vẫn tiếp tục đi qua cao điểm ngàyđêm. Đánh sập cầu này họ lại bắc cầu khác. Súng phòng không của Việt Cộng bắn lên như mưa! Máy bay của ta bị rơi rụng nhiều. NichXơn tức giận: - Phải trực 24/24 giờ. Phải dùng B52, bom khoan trên một ngàn bảng, phải thả bom từ trường, cây nhiệt đới và chất độc hóa học. NichXơn đập tay xuống bàn: - Phải phá toang “cánh cửa thép Văng Mu”… Chuông điện thoại reo. Oét Molen nghe một hồi rồi báo: - Cục tình báo cho biết: Máy bay trinh thám và “cây nhiệt đới” thu được cả tiếng xe và tiếng hát của Việt Cộng trên cao điểm. NichXơn dậm chân: - Chúng hát những gì?... Những gì?...
Oét Molen lẩm bẩm thưa:
- Dạ bẩm... Chúng hát...
“Cầu phao bắc qua sông
Ta nối mạch máu giao thông
Vượt lên sóng dữ dâng tràn mênh mông
Dù đạn bom ta vượt qua
Quyết mở đường cho xe qua”
Nichxơn quăng mình xuống ghế, nói lẩm bẩm:
- Tướng Giáp giỏi thật! Thật khó nuốt trôi trọng điểm Văng Mu này! Nuốt trôi một dân tộc anh hùng…
Ông Đồng Sỹ Nguyên – Tư lệnh Đoàn 559 đẩy ba tôi lên sân khấu. Hai cha con ôm chầm lấy nhau trong tiếng vỗ tay như nổ tung hội trường. Hơi ấm tình cha con, tình đồng chí, đồng đội hòa quyện trong nhau.
Sau buổi diễn, ông có nhắc tới chuyện bài thơ rắc rối đó. Ông nhắc như một lời bình:
- Vì mới chân ướt chân ráo, vừa rời ghế nhà trường, thuộc thành phần Tiểu tư sản, nên cái nhìn của tác giả trong bài thơ đối với cuộc kháng chiến của dân tộc còn bị hạn chế. Tâm trạng người viết còn bi quan…
Tôi hỏi ba tôi:
- Con vừa vào lính, nhớ nhà, nhớ bạn, viết vậy không được sao ba?
Ông nói ngay:
- Không được! Không được! Con thấy cả dân tộc đang ra trận, lớp cha trước lớp con sau, mang theo niềm tin chiến thắng…
Đào trong tốp múa đoàn văn công Binh trạm sang thăm cụ nhà tôi nói cười xởi lởi. Đào xưng ba tôi bằng cha làm tôi đến phát thẹn. Sau nay, tôi mới biết ba tôinhận Đào làm con nuôi. Cô ta quê Ninh Bình. Bố mẹ mất sớm. Đào có hai người anh đều đi lính. Cô ả nhìn tôi tủm tỉm cười, quay sang nói với ba tôi:
- Anh ấy hát hay cha hè! Cha cho anh ấy ở lại đoàn văn công Binh trạm đi.
Ba tôi cười rồi xầm xì với Đào:
- Thì con nói với nó coi.
Mấy ngày ở đó, tôi thấy ông tất bật như nhà có đám ma. Ông đi đi về về làm tôi đến suốt ruột. Sáng hôm sau, ông dẫn tôi đến thăm Tổng khi AX43 - Một tổng kho lớn của Đoàn 559 và nghe phong phanh người ta định chuyển ông về làm chính ủy Tổng kho này. Kho được làm bởi một loạt nhà cỡ lớn nửa chìm nửa nổi, trong chất đầy súng đạn và lương thực phẩm, được ngụy trang trong rừng tre, rừng vầu, vàng úa vì chất độc hóa học. Ông tư lệnh kho nhìn tôi rồi dí dỏm:
- Coi chừng chứ máy bay Mỹ làm thịt luôn cả hai cha con đó.
Ông cụ nhà tôi cười nói với tư lệnh:
- Tuy có vất vả về khâu vận chuyển, nhưng ta phải quyết làm kho chìm, phải tìm nhiều bãi để phân tán hàng hóa tránh thiệt hại.
Một loạt bom tọa độ xé tan núi rừng. Hai cha con nằm đè lên nhau. Cây cối, đất đá đổ rào rào. Tre nứa nổ lép tép. Lửa cháy lan vào khu kho. Tôi và ông cụ cùng an hem Tổng kho lao vào cứu hang, cứu những đồng chí bị bom lấp.
Đến chiều, ông lại dẫn tôi đến thăm Tiểu đoàn xe vận tải. Những chiều Zin ba cầu rúc đầu vào rừng săng lẻ, nằm nín thở để chuẩn bị cho “trận đánh” đêm nay. Những người lính lái xe trẻ măng. Mặt lem luốc, áo quần nhếch nhác, bám đầy bụi đất, xăng dầu đang hối hả kiểm tra xe. Một người đang nằm dưới gầm xe thò đầu ra ngoài:
- Chào thủ trưởng!
Ông cụ vấn đốt một điếu thuốc lá bọ, cúi xuống cho vào mồm anh ta:
- Đêm qua mấy chuyến?
Anh ta ra khỏi gầm xe, hai bàn tay xoa xoa bụi đất. nói nhỏ nhẹ:
- Một thôi thủ trưởng ạ. Địch đánh suốt đêm, vượt qua trọng điểm thì trời gần sáng. Tiểu đoàn bị cháy năm xe, hai xe bị sa lầy, tám đồng chí hy sinh, bốn đồng chí bị thương nặng.
Ông cụ lặng một lúc rồi nói:
- Bằng mọi giá, đêm nay, phải đi hai chuyến. Tất cả các Binh trạm, Tiểu đoàn Công binh và Pháo cao xạ đã chuyển chỉ huy sở ra sát trọng điểm rồi. Đêm nay pháo binh sẽ hỗ trợ tối đa cho các đồng chí! Ông nói vậy, nhưng tôi hiểu hơn ai hết, quanh trọng điểm Văng Mu chỉ lác đác có vài khẩu 37, 12 ly 7phun vòi rồng lên. Bom nện xuống là miệng câm như hến. Người kia đứng nghiêm chỉnh dơ tay báo cáo:
- Rõ!...
Ông cụ đến cạnh một anh lính trẻ, đang ngồi dựa vào gốc cây, khuôn mặt buồn buồn, đang nuốt vội miếng cơm để chuẩn bị lên đường, ông nhét vào túi anh ta gói thuốc “Điện Biên” và hỏi: - Đồng chí có cảm tưởng gì về chuyến đi đêm nay?
Anh ta đứng bật dậy cười nói nhồm nhoàm:
- Thôi, cho em bắt tay tạm biệt Thủ trưởng, chứ ngày mai không còn gặp đâu! Nghe anh ta nói tôi nổi da gà. Ông cụ xoa đầu anh ta:
- Lạc quan lên chứ! Cậu ta cười khà, xìa cái răng khểnh duyên dáng ra ngoài:
- Thì em đang lạc quan đây thủ trưởng ạ!
Hai bàn tay anh ta cầm chặt lấy tay ông cụ tôi. Đúng là điềm thật, sáng hôm sau, tôi nghe ông tiểu đoàn trưởng xe báo với cha tôi:
- Cái cậu lính trẻ, hôm bắt tay thủ trưởng ấy, hy sinh tại trọng điểm Văng Mu lúc 3 giờ sáng. Bom đánh trúng xe chẳng tìm được xác. Ông cụ chau mày rồi lặng đi. Tôi bùi ngùi, nhìn đôi bàn tay ba tôi, như ngỡ thấy hơi ấm cái bắt tay của anh ta, mới chiều hôm qua còn đó…
Tính ra, đã tám tháng ròng rã nay tôi mới có dịp gặp lại ba tôi, mới thấy được hình dáng, giọng nói, nụ cười của ông. Công việc cứ chồng chất theo năm tháng, làm tôi quên ông luôn. Trong giấc mơ cũng là chuyện thông xe thông đường mà thôi. Ông chẳng mấy khi nhắc đến chuyện nhà. Có lẽ ông cũng như tôi, sợ nhớ nhà rồi bỏ quên nhiệm vụ. Tám tháng như ngàn thế kỷ. Tôi nếm đủ mùi gian lao cực khổ trên tuyến đường này. Có thể nói tôikhổ gấp vạn lần cuộc sống của ông. Vì dẫu sao, ông vẫn là một phó chủ nhiệm chính trị Binh trạm mà.
Một hôm, nhận được điện khẩn, tôivội vã quay về hậu cứ. Tưởng việc gì quan trọng, té ra các ông trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn, cử tôi dẫn theo một số anh em vào bản làm công tác dân vận và đổi thực phẩm cho đơn vị chuẩn bị đón Tết. Bởi lẽ, tôi có biết tiếng Lào. Ba anh em tôi, Biên, Long mang trên vai lỉnh khỉnh, nào là mấy miếng xăm, lốp ô tô, dao kéo, để đến cắt dép tặng cho bà con. Thấy lũ tôi đến, ông Cà Đeng – Trưởng bản mừng hết chổ nói: - Xăm pay lục phô Khôi ( Chào con ông Khôi). Sau này tôi mới biết ông cụ nhà tôi thường đến các bản. Bởi ông còn phụ trách công tác dân vận của Binh trạm, đang vận động bà con gùi hang cho cách mạng. Bà con các bản thường gửi “thuốc lá bọ” của ông. Ông Cà Đeng có một cô congái trẻ măng tên Xi Nhôm, đẹp còn hơn những cô gái Việt bên mình. Thấy tôiđến, mặc dầu trời lạnh cóng, Xi Nhôm vẫn xuống suối tắm. Tôi hỏi, ông nói: - Con gái Lào quý khách lắm. Thấy bộ đội Việt Nam đến dù trời rét mấy họ cũng đi tắm cho được. Một hòi kẻng dóng lên. Từ những ngồi nhà sàn, những cô gái đội trên đầu, những típ “Khâu liên, khâu chao” (cơm nếp, cơm tẻ) lục tục kéo đến nhà trưởng bản. Bước lên sàn, họ quỳ gối xuống, lết nhẹ nhàng, rồi trịnh trọng đặt những típ cơm trước mặt lũ tôi. Các cô cười tươi như hoa “Xoi lửa phà là ngạn Việt” (giúp đỡ cán bộ Việt). Tôi vui vẻ: - “Xăm phay nọng nơ” (Cảm ơn em).
Tối hôm đó, chúng tôi đốt lửa, hì hục cắt dép suốt đêm. Mọi người ướm thử, thích thú. Ông Cà Đeng vỗ vai tôi: - Mình cảm ơn bộ đội, cho mình dép để đi gùi hang cho cách mạng. Tôi hỏi: - Đi bao nhiêu người? Lâu không? Ông trưởng bản xởi lởi: - Đi hết, đi cả con nít nựa. Một chuyến đi mất hai tháng. Bản có đến bốn người chết vì sốt rét. Nghe ông nói tôithấy tự hào, lâng lâng vì trong cuộc kháng chiến thần kỳ này, không chỉ có dân tộc mình, mà những dân tộc anh em cùng chung lưng đấu cật. Biên lúi húi cắt dép. Long cắt tóc, tắm rứa vệ sinh cho lũ trẻ. Bà con đừng vây quanh ngắm nhìn thích thú. Còn tôi, loay hoay kẻ vẽ khẩu hiệu và tổ chức cho thanh thiếu niên bản dọn dẹp , phong quang, che chắn, thưng lại hàng rào cho đẹp. Không quên chọn một cành cây đẹp, cắt hoa mai giấy đính lên và kết một đôi bồ câu bằng bông trắng tình đính lên đó. Tiết mục này xem chừng mọi người thấy lạ và thích ra mặt. Mọi người xúm lại, ngắm ngía, vuốt vẻ khen:
- Ngắm lại ải Khởi ơi!....
Thằng Biên đang cắt dép, chốc chốc ngước nhìn Xi Nhôm trêu:
- Xi Nhôm ơi, Hắc ải bò? (yêu anh không?) Xi Nhôm liếc nhìn tôi rồi đưa bàn tay như lưỡi dao chém Lên vổ:
- “Bò đạy! Bò đạy!...(Không được).
Dường như mọi cô gái Lào ở đây đều hiểu được kỷ luật sắt về công tác dân vận của bộ đội Việt Nam giai đoạn này.
Đêm buông xuống, bản Mường Thong, những cơn gió lạnh quất vào rừng nghe sàn sạt. Trên sàn nhà ông Ca Đeng, bọn tôi cùng gia đình nằm chen chúc nhau. Xi Nhôm nằm cạnh thằng Biên, nói cười rôm rả. Một lúc, XiNhom bật dậy, lấy ruột nghé gạo, đặt phân chia ranh giới giữa hai người rồi cười nói:
- Bộ đội không được bỏ chân sang đó!..
Tôi cắn môi cười!...
Chúng tôi chia tay bản làng đầy lưu luyến. Mọi người không quên gửi lời hỏi thăm bố tôi. Họ còn gửi cho cụ vài liếp thuốc hút, còn cho đơn vị một con lợn to nữa.
Đang tham gia nuôi quân cho đơn vị, bổng nhiên trên nhà BCH Tiểu đoàn có tiếng ồn ào, có cả tiếng Lào. Tôi ngước nhìn lên, Xi Nhôm đứng ngay trước mặt:
- Ải Khởi ơi! Ải Biên bay xay? (Anh Biên đi đâu?).
Tôi trả lời bằng tiếng Lào:
- Bò đạy. (Không biết).
Xi Nhôm hất hàm nói:
- Anh Biên “Hắc nọng”(yêu em). Ải Biên cầm tay em! Em bắt đền...
Tôi chột dạ. Thôi chết rồi, lại mắc phải sai lầm về công tác dân vận. Hồi ở Trạm binh ba tôi dặn:
- Chớ cầm tay con gái Lào tỏ tình.
Một lúc, Chính trị viên Tiểu đoàn gọi tôilên làm bản kiểm điểm. Ông ta bảo:
- Cậu dẫn tổ đi làm công tác dân vận mà để đồng chí Biên phạm phải sai lầm lớn như vậy à? Tôi cãi:
- Tôi không biết việc đó....
Vài ngày sau, tôi nhận được điện thoại của ba tôi từ Binh trạm điện vào, kèm theo một cuốn sách về “Công tác dân vận”. Qua điện thoại, ông dặn tôi:
- Công tác dân vận cực kỳ phức tạp, cần phải học hỏi, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Tôi nói với ông:
- Suốt ngày đêm phải gửi mặt cho đất, gửi thân cho đường, còn thời gian đâu mà học.
Và thằng Biên sau đó bị chuyển đi đâu không rõ. Nhưng phong thanh nghe hắn bị kỹ luật.
Từ đó, tôi say sưa công tác, ngàyđêm lăn lộn trên mặt đường. Tôi quen dần hoàn cảnh sống. Chính hoàn cảnh nơi cao điểm Văng Mu ác liệt đã rèn luyện tôi trở thành dạn dày với hoàn cảnh. Nhưng rồi khát vọng được trực tiếp đánh Mỹ lại thức dậy trong tôi. Đêm đêm những binh đoàn rầm rập ra trận làm tim tôi như lửa đốt.
Một đêm tháng 8 năm 1968, dưới căn hầm chữ A, tôi nói khẽ vào tai Cừ (Trung đội trưởng của tôi): - Mày hẵng để tao đi! Tao trốn vào Nam đánh Mỹ. Cừ hốt hoảng: - Mày mà đi, đơn vị và cả ông cụ của mày kỷ luật tau đó. Chiều Cừ, tôi để lại mấy dòng thư cho ông cụ và không quên dặn Cừ bỏ dưới gối nằm của tôi. Bức thư vỏn vẻn mấy dòng:
“Ba thương yêu của con!
Con có lỗi với ba nhiều. Ba đừng buồn đừng lo…
Con đường vào Nam đầy gian lao thử thách, nhưng con đi đúng đường Ba đã chọn.
Chúc Ba khỏe, công tác tốt!”
Hôn Ba.
Văng Mu ngày 27/8/1968”
Tôi ra đi để lại đằng sau biết bao nhiêu sự nghiệp đã gieo trồng sắp đến mùa thu hoạch. Đại đội được trên đề nghị phong tặng danh hiệu Anh Hùng. Thôi chào C2 mới chưa đầy một năm mà bom đạn thù gậm nhấm gần hết. Chào đồng đội đồng chí những ngày sống chết bên nhau. Chào Văng Mu bất khuất kiên cường. Tôibùi ngùi ngước nhìn lên cao điểm những cuộn khói vo tròn như nấm. Vượt qua sông Sê Pôn, băng qua Mường Phìn tôithấy mấy anh lính giải phóng giải mấy tên tù binh Mỹ đi ra. Tôi hỏi, các anh chỉ đường giao liên cho và nói trạm cũng gần. Tôi mừng lắm.
(Còn nữa)
Trần Văn Khởi
57 Quang Trung, thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
SĐT : 0815886432