“Cha con tôi trên Trường Sơn ngày ấy” - Truyện ký của Trần Khởi (Tiếp theo và hết)

Ngày đăng: 05:27 07/06/2026 Lượt xem: 10
“Cha con tôi trên Trường Sơn ngày ấy” - Truyện ký của Trần Khởi (Tiếp theo và hết)
 
 
CHA CON TÔI TRÊN TRƯỜNG SƠN NGÀY ẤY
 
                                Truyện ký của Trần Khởi
 
(Tiếp theo và hết)

Ông trưởng trạm nhìn tôi rồi chau mày hỏi: - Cậu ở đoàn nào? Tôi nói liều: - ZX – Phi trường 10 – Khu 5. Tôi nói thế bởi khi đi ngang Sê Pôn có nghe mấy lính công binh ở đó nói đoàn đó mới vào cách đây hai ngày. Họ đi đường giao liên. Ông lục lọi giấy tờ một chặp rồi hất đầu hỏi tôi: - Sao không có giấy tờ của đơn vị bàn giao lại. Tôi thất vọng: - Có lẽ họ quên tôi chắc. Tôi bị sốt nằm lại đằng sau. Anh cho em kịp đuổi theo đơn vị. Cũng may gặp thằng Lý bạn học cùng trường, đang công tác ở trạm, nó can thiệp nên ông thả cho tôi. Ông chỉ tay vào một tốp lính cua ta đang lôi thôi lếch thếch đi ra nói: - Cậu xem kìa, họ đào ngũ đi ra cậu lại đòi đi vào. Thôi ở lại trạm, lại có cậu Lý quen biết! Tôi nài nỉ: - Anh cho em đi. Cuối cùng ông chiều tôi. Ông viết cho một giấy giới thiệu. Phía cuối có dòng: “Bệnh binh ưu tiên không mang lương thực”. Tôi mừng hết chổ nói. Và cứ thế đêm nghỉ ngày đi. Đến binh trạm 44 thuộc đoàn 559, tôi thấy một đoàn lính ăn mặc chỉnh tề, trong đó có một người to cao đeo súng K54, chống gậy. Có cả một người mang túi cứu thương tiến vào trạm. Tôi đoán non đoán già: Có lẽ họ vào sâu lắm. Đánh dưới thành phố. Tôi đánh liều xin đi. Đang nằm trên võng ông bật dậy, cười nhân hậu: - Vào đó khổ lắm, chú chịu nổi không? Tôinói ngay: - Thưa chú, cháu chịu được! Mấy người công vụ thấy người lạ  cứ bám lấy ông. Nghĩ ngợi một lúc rồi ông hỏi: -Em có giấy tờ gì mang theo không? Cũng may trong ba lô còn bản lý lịch. Ông xem đi xem lại, gật đầu rồi nhíu mày: - Ba em là cán bộ ở đây sao? Sao em không ở lại với ông ta? Tôi nói luôn: - Thưa chú cháu muốn vào Nam đánh Mỹ. Ông quay sang người ngồi cạnh bên: - Chú điện ra binh trạm 32 cho tôi được gặp phó chủ nhiệm chính trị. Tôi chột dạ: - Ấy chết, chú đừng điện cho ba cháu. Ông ấy không cho cháu đi đâu. Ông xoa đầu tôi, cười: - Thôi được! Sáng mai cậu đi theo tôi. Tôi quay về lán thì tình cớ gặp bà O của tôi, O đang công tác tại binh trạm này. Gặp tôi, O xởi lởi mừng ra mặt nhưng cũng nhiếc mắng tôi đủ điều:  - Mày là thằng vô tổ chức kỷ luật. Mày làm mất mặt ba mày! Mày là thằng đào ngũ! Tôi cự nự: - Cháu vào Nam đánh Mỹ chứ có đào ngũ đâu! Biết chẳng lay chuyển được tôi, O chạy sang lán bên nhờ ông thủ trưởng kia can thiệp: - Thưa thủ trưởng! O chỉ tay về phía tôi: - Thằng đó là cháu của tôi. Ba nó là Phó chủ nhiệm chính trị binh trạm 32. Ông cắt lời: - Tôi biết! Tôi biết cả rồi. O hạ giọng: - Thủ trưởng Đồng Sỹ Nguyên nhờ trạm chuyển lời đến thăm thủ trưởng và nhờ thủ trưởng đừng dẫn cháu vào trong ấy. Ông xua tay: - Tôi có dẫn đâu. Mà đó là nguyện vọng thiết tha của tầng lớp thanh niên được đánh Mỹ. Hai người chuyện trò một hồi lâu. O ra về. Ông buồn buồn ngồi lặng rồi kéo tay tôicùng ngồi xuống võng: - Thôi con nên ở lại với ông cụ, kẻo ông ấy buồn. Tôi ấm ức khóc. Cuối cùng ông cũng mở đường cho tôi: - Nếu em quyết tâm thì tôi đợi ở đường dây Giải Phóng. Tôi buồn, những vẫn còn hy vọng. Ở lại với O tôi được hai hôm, tôi lại tìm cách chuồn tiếp. Vào đến đường dây Giải Phóng, gặp được ông. Bởi ông nán lại nói chuyện thời sự với anh em binh trạm. Sau phút ngạc nhiên, ông cười và ôm chặt tôi vào lòng. Và bắt đầu từ giờ phút thiêng liêng này, ông nhận tôi làm con nuôi và tôi gọi ông là cha nuôi. Và từ đó tôi cũng biết ông với cái tên Huỳnh Hữu Anh còn một loạt biệt danh: Tám, Tài, Quang. Ông là tư lệnh sư đoàn 3 Sao Vàng. Quê ông ở Bình Định. Bà Long vợ ông quê Quãng Ngãi. Hai ông bà tập kết ra Bắc sinh được bốn người con trai ông đều cho vào lính. Những đêm trên cánh võng, hai cha con tôi đều bồi hồi trăn trở. Tôi biết ông lo lắng nhiều. Lo vì con đường ra mặt trận còn xa lắc xa lư, lo cho những trận đánh của Sư đoàn ông sắp tới, lo cho tôi – lo cho gánh nặng của một người cha nuôi. Còn tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Tôi thầm cảm ơn ông bà tổ tiên đã cho tôi may mắn. Tôi cảm ơn cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc đã cho tôi thêm một người cha thứ hai. Cả ba người cùng trên một chiến tuyến đánh Mỹ. Nhiều lúc tôi lại nhớ người cha đẻ tôingoài đó. Chắc giờ này ông cụ lo và nhớ tôi nhiều. Nhưng rồi tôi tin ông hiểu khát vọng của tôi, hiểu truyền thống của một gia đình cách mạng mà các chú, các O của tôi ông đều dẫn đi bộ đội từ khi còn mười bốn mười lăm tuổi.
 
​            Ba tháng trời ròng rã, cha con tôi lội suối băng rừng, vượt qua mưa bom bão đạn, đói rét ốm đau thì chân bén đất Khu 5. Trên đường vào đây, tôi mới chứng kiến những điều mà người ta thường kể. Bộ đội ta đói rét, ốm đau, mặt xanh lè nằm nhan nhản bên đường, như những chiếc lá vàng nằm sấp mặt xuống đất. Hèn chi ngày ấy nhà thơ Quang Dũng viết: ​
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục bên súng mủ bỏ quên đời”
Một anh lính nằm co quắp tôi nghiệp, xìa bàn tay run run: - Đồng chí ơi cho tôi ít gạo, cho tôi nước! Dường như anh ta không còn đủ sức để lê xuống suối lấy nước. Nói xong, anh ta lằn đùng ra đất, mắt từ từ nhắm lại.  Đi lên một quãng nữa, một chiếc võng dù mắc tòng teng qua suối. Đầu võng gác một khẩu AK đã rỉ. Thoạt nhìn, tôi rùng mình dựng tóc gáy, một bộ xương người. Một quãng nữa một người lính nằm trên võng rên hừ hừ. Một người khác lê từng bước chân nặng nhọc, cúi xuống, cắn vào đầu anh ta. Tôihỏi: - Đồng chí  làm gì vậy? Người kia thở dốc, thều thào: - Anh ấy bị sốt nặng, bảo tôi cắn vào đầu cho dễ chịu. Ông cụ nhà tôi thở dài, bảo tôi san ít gạo, thuốc sốt rét cho họ. Cô Hồng y sỹ đi theo đoàn níu cha tôi lại: - Thủ trưởng ơi! Ai giống người nhà của em. Cả đoàn nhìn lui. Một người lính gầy rạc, đang lom khom nhóm bếp, đầu anh ta trọc lóc. Hồng ôm chầm lấy người đó khóc như mưa. Người đó mếu máo, khuỵu xuống. Cả đoàn đến sững sờ. Té ra anh kia là người yêu của Hồng. Cả hai đều ở Kinh Bắc, cùng học một trường. Anh ta chia tay Hồng vào Nam. Được vài tháng Hồng vào lính, được biên chế về quân Bộ tổng tham mưu. Hồng xin đi Nam và làm công vụ cho cha tôi. Hồng được ông cụ cho ở lại săn sóc anh ta và tìm đường đưa anh ta vào trạm xá. Hồng mừng hết chổ nói. Một người bận bộ đồ đen xồng xộc chạy vào trạm: - Báo cáo thủ trưởng, vườn sắn dự phòng của ta bị bộ đội hành quân đi qua nhổ sạch. Ông trạm trưởng chau mày: - Thế vệ binh gác vườn đâu? – Dạ, họ trói cả hai người vào gốc cây. Họ còn để lại mảnh giấy này. Đoạn, anh cho tay vào bâu, lôi tờ giấy trải lên bàn. Chúng tôichụm đầu đọc:
“Chúng tôi thuộc đoàn N3 đang trênđường hành quân ra mặt trận, đói quá làm liều. Mong các đồng chí hết sức thông cảm.”
             Chào thân ái!”
 
​            Ông cụ nhà tôi trầm ngâm, quay sang nói với ông trạm trưởng: - Đường xe còn lâu mới vào được. Bộ đội ta đói đạn, đói gạo lắm rồi. Bằng mọi cách phải đánh địch, để có súng, đạn dùng, phải tự túc phát nương, phát rẫy, tìm cách xuống đồng bằng mua gạo và thực phẩm. Địch lại bít chắc các cửa khẩu. Ông thở dài: - Một bát gạo, một bát máu.
 
​            Dọc bờ sông Côn, địch càn dữ. Tiếng súng còn nổ đì đẹt, chốc chốc có một vài phát pháo hiệu bắn lên từ bờ sông. Chúng tôi tìm cách bắt đường, mò lên các nương rẫy của đồng bào dân tộc. Nương rẫy không bóng người. Những triền ngô, vườn lúa đang thì ngậm sữa và cả những chòi canh bị máy bay trực thăng quay ngã rạp như có trận bão lớn vừa đi qua. Một người đầu trần, mặt mày phờ phạc, áo quần rách bươm, dính đầy máu, máy chảy xuống cả khẩu AK của anh ta đeo trước ngực, từ trạm lên đón đoàn. Anh ta cho biết: - Trạm của hai đồng chí đi, dọc đường chạm địch, một đồng chí hy sinh tại Trà My. Trạm tiếp tế cho đoàn mấy lon gạo. Địch bắn thủng bao đựng… Anh ta giơ cao chiếc bao lép kẹp, lỗ chổ vài vết đạn, lắc lắc cho vào mũ, lắc mãi chỉ còn vài nhúm.
 
​            Dạo này địch càn dữ. Sư đoàn không vận số 1, đứa con cưng của quân đội Hoa Kỳ, và hai Sư đoàn “Mãnh Hổ” và “Rồng Xanh” của Nam Triều Tiên tràn lên núi tìm diệt Cộng Sản. Chúng đổ quan nhan nhản khắp các đỉnh đồi. Chúng kéo theo các trận địa pháo cỡ lớn. Máy bay trực thăng như chuồn chuồn râm ran trời đất. Trên các thân cây, lũ Mỹ đi qua còn để lại dấu tích. Bọn chúng khắc cả tên đơn vị hoặc cá nhân lên đó. Vào đây, đường tìm đến trạm giao liên khó hơn ngoài kia nhiều. Địch đổ quân chặn đường giao liên, đánh phá, đổ quân vào trạm. Trạm đi sơ tán, có trạm phải tìm mất cả tuần lễ. Tôi và cha tôi vừa đánh địch vừa xuyên rừng mở lối. Đến lúc này đoàn của tôimới thực sự bị đói rét, ốm đau sờ đến gáy. Nó sờ đến cả ông bố nuôi của tôi. Đoàn có sáu công vụ thì đã có bốn công vụ bị sốt rét nặng buộc phải vứt lại phía sau. Thương ông cụ, nên nó mới dành cho ông cụ có vài ngày. Còn tôi là con nít nó tha cho. Tôi như con lạc đà thồ trênvai biết bao nhiêu thứ. Thấy tôi vất vả ông đi ngắn hơi hơn, rồi ông lại mang giúp tôi đồ đạc. – Đưa bao gạo đây ba mang cho! Mấy ngày đó cha con tôi ăn dè xẻn. Ngày một bữa cơm trộn sắn, người được lưng bát, còn một bữa sắn tuyền, thức ăn chủ yếu là chuối rừng chấm muối. Tính từ ngày gặp ông đến An Lão Bình Định vừa tròn ba tháng mười ngày. Ông chưa dám dẫn tôi vào ra mắt sư bộ, bởi lẽ sư bộ dạo này bị địch đánh phá liên mien, người ta nghi có điệp báo. Ông dặn tôi: - Con ở lại trạm “Thu dung” vài bữa. Ba cho người ra đón. Tôi có phần buồn, nhưng không nài nỉ ông nữa, vì chân sưng vù lên và lách cũng sưng.
 
​            Tuy mới chân ướt chân ráo vào đây, nhưng ngay chiều hôm đó, tôi mới được thực sự thấy Mỹ và đánh Mỹ - Phần nào đáp ứng được khát vọng của tôi.
 
​            Nắng trưa rọi vào căn nhà tềnh toàng của anh em “Thu dung”, những chú ve đang tấu lên những bản nhạc rừng hối hả. Tôiđang thiêm thiếp bỗng giật mình. Tiếng đại bác ùng oàng nổ bao lấy nơi tôi ở. Rồi tiếng máy bay trực thăng xành xạch. Cây cối xung quanh rào rào như đưa võng. Thằng Bờm người dân tộc hô: - Máy bay! Chạy! Mấy đứa xách súng  vọt ra ngoài. Tôi vẫn điềm tĩnh lấy khẩu AK của ai đó để lại lên đạn rắc rắc. Tôi cứ ngõ bình thường như trên đường mòn Hồ Chí Minh. Nào ngờ, nhìn lên chiếc máy bay trực thăng lù lù đứng ngay trên đầu. Thằng Mỹ ngồi ở cửa mặt đỏ lòm, cầm loa gọi: - Hỡi các chiến binh Việt Cộng hãy đầu hàng! Chẳng thấy hồi âm, chúng thả thang và trèo xuống. Sau một phút hốt hoảng, tôi định thần, nép sát vào gốc cây, đưa súng lên ngắm. Tôi nhắm trúng vào thằng Mỹ tay cầm chiếc loa tương một loạt liên thanh. Nó rơi bịch xuống đất. Chiếc trực thăng chồng chềnh vọt lên cao kéo theo cái thang dài ngoằng. Bọn chúng bắn như mưa. Căn lán bên cạnh lửa cháy rần rật. Tôi xách súng chạy ra bìa rừng, chợt nghĩ: Chưa lấy được ba lô. Tôi lại lần mò đến chổ cũ, cố tìm lại mấy cuốn sách quý mà bạn bè tặng cho tôi trước lúc lên đường. Nhìn vô thấy bọn Mỹ đứng lô nhô đầy nhà. Tôi kê khẩu AK lên một tảng đá, nhằm đúng thằng Mỹ đen nổ một loạt. Hắn ngã vật xuống. Bọn chúng gào lên: - Vi xí! Vi xí! Và đạn AR15-M79​cứ bám riết lấy tôi. Ra bìa rừng, tôi định tìm đường lên cứ thì thấy giữa bãi tranh tụi Mỹ đứng đông đen. Tôiđang loay hoay tìm đường, bỗng  gặp một thanh niên ở trần đeo khẩu AK trước ngực. Anh ta hỏi dồn: - Mới ngoài Bắc vào hả? con ông Tài hả? Tôi gật đầu. – Thủ trưởng bảo tôi đi tìm cậu. Rồi anh cầm tay tôi: - Đi! Tôi bảo: - Đánh đã. Anh ta ngăn: - Hổng được đâu! Nó đông lắm! Tôi bảo: - Bắn rồi chạy, sợ đếch gì. Cuối cùng anh chiều tôi. Cả hai anh em nhằm vào lũ Mỹ đứng trên gò đất xả hai loạt AK rồi bỏ chạy. Đạn địch sàn sạt đuổi theo. Chúng tôi cắt rừng tìm đường lên cứ. Ba tôi giục tôi uống sữa, xoa đầu tôicười ha hả: - Nghe con đánh Mỹ giỏi ba mừng! Xong ông cầm điện thoại điện cho ai đó. Một chốc thấy một người bận bộ đồ đen cầm sang cho tôi tấm bằng “Dũng sỹ diệt Mỹ cấp III” và nói: - Cấp trên chúc mừng chiến công ban đầu của đồng chí. Tôi đứng như phổng, rồi cười hỏi ba tôi: - Bao giờ còn được xuống đồng bằng đánh Mỹ hả ba? Ông cười: - Ở rừng đánh còn chẳng hết nữa là.
 
​            Tôi được chuyển về đại đội trinh sát của sư đoàn. Đại đội có một trung đội tóc dài, chuyên nằm vùng, lại đánh địch giỏi. Các cô dưới ấy nghe tôi mới về đơn vị nháo nhào cả lên. Thư các cô gửi lên như bươm bướm. Họ rủ rê tôi về dưới đó: “ Tụi em nhớ ảnh lắm đó. Nhớ mau mà về, không tụi em ốm hết cho coi…”. Đang buồn thì Đại đội phó Hoàng lại rủ tôi đi săn máy bay trực thăng địch dọc sông Kim Sơn. Máy bay trực thăng địch quần lượn tưởng là bộ đội ta đi mang gạo. Chúng bắn một hồi rồi sà xuống thấp bắc loa kêu gọi một chặp, sau đó thả thang trèo xuống để bắt Việt Cộng. Hoàng và tôi nằm sát gò đất cạnh bờ sông. Tôi run run vì lần đầu tiên mới được biết cách đánh địch khôn ngoan táo bạo này. Hoàng nói trong tiếng máy bay gàm thét: - Đồng chí nhắm vào mấy thằng Mỹ, còn tôi đánh chiếc máy bay. Lúc nào tôi ho cùng bắn. Chiếc trực thăng xuống thấp dần, triền lau ven sông bị chong chóng máy bay quay ngã rạp. Những con nộm người lắc lư như say rượu. Áo của tôi bị gió cuốn tốc lên. Càng máy bay gần chạm đất, bọn Mỹ xô đẩy nhau nhảy ra. Hoàng hô: - Bắn! Tôi bắn như mưa vào lũ  Mỹ. Hai thằng ngã vật xuống sông. Một thằng chạy lại máy bay định leo lên nhưng chẳng kịp. Chiếc máy bay đã bị Hoàng vặt lông lửa cháy ngút trời. Lũ máy bay phía trên điên tiết, nhưng chẳng dám bắn xuống. Diệt được thằng Mỹ còn lại, Hoàng và tôi biến vô rừng. Sau trận đó, tôi và Hoàng được tặng mỗi đứa một bằng “Dũng sỹ diệt Mỹ cấp II”…
 
​            Xin mãi, cuối cùng tôi được về vùng Đông lấy gạo. Chuyến đó bị địch phục, có tám anh em thì có đến bốn người bỏ xác lại dọc đường. Tuy vậy, các cô dưới đó cũng đãi cho một bữa ra hồn, có cả thịt chó nữa. Các cô trêu chọc tôi đến hoảng hồn. Ông Cận phải dẹp loạn mới thôi. Chuyến đi này, về đến đơn vị lương thực chỉ còn một phần ba. Quân số chỉ còn một nửa. Đúng như ba tôi thường nói “Một bát gạo một bát máu”.
 
​            Đang trực chiến trên chốt Đá Giang thì ba tôi cho người đưa quà và thư lên chốt. Ông gửi cho tôi hai bánh thuốc rê, một gói đường và kèm theo mười lá thư. Tôivà đồng đội thở dài vì thư viết từ năm 1968, có nghĩa là cách bốn năm. Đọc lá thư đứa em gái tôi rưng rưng: “…Anh ơi giặc Mỹ đốt cháy nhà mình rồi. Bà conxóm làng đã dựng lại cho mẹ và em một cái lều ở tạm. Đêm nào ngồi dưới hầm học bài em cũng nhớ về anh. Đêm nào mẹ cũng thắp hương cầu nguyện cho anh đó. Sao ba và anh chẳng viết thư cho mẹ và em?...”. Nói thật từ ngày vào đây đến giờ, tôi chẳng thư từ gì cả, bởi tôi trốn ba tôi mà, mặt khác bom đạn sống chết kề bên nên cố quên đi tất cả. Tôi đem thư của một người con gái về khoe với ông cụ. Xem xong, ba tôi khen lấy khen để bởi thư có đoạn: “Chắc anh quên em rồi đó. Em là con của bà mẹ sống bên Cồn Nâm – Quảng Minh – Quảng Trạch. Bà mẹ tóc bạc như mây sớm chiều đi sang Quảng Hòa tiếp tế lương thực cho bộ đội và nhận bố anh làm con nuôi… Em nay đã là sinh viên Trường Đại học Dược khoa. Ba anh mới gửi cho em một chiếc võng dù, một cái bi đông đựng nước. Nếu ngày mai anh rủi ro bị thương trở về sẽ có em chăm sóc…”. Đọc thư xong, tôi nổi gai sống lưng rồi cố hình dung khuôn mặt ấy, song thời gian và khói bụi chiến hào tôi chẳng còn nhớ nữa. Mà đúng thôi, ngày ấy tôi chỉ gặp có một lần khi ra thăm ba đẻ tôi an dưỡng ngoài đó. Ông cụ xem xong thư cười rồi giục tôi: - Con viết thư cho cô ta đi! Bảo cô ấy gửi ảnh vào xem sao. Tôi lắc đầu: - Người ta gửi vào mất bốn năm, mình gửi ra thêm bốn năm nữa e không còn sống mà đọc thư của người ta. Thôi mình chịu khổ chứ đừng làm người ta khổ nữa thủ trưởng ạ!
 
​            Hôm sau ông cho gọi tôi và Đại đội phó Hoàng đến dặn: - Ra Quãng Ngãi bắt liên lạc với du kích Mộ Đức Đức Phổ đưa cháu ruột của ông lên cứ. Ông còn dặn thêm: - Nếu quá khó khăn thì tìm mọi cách bắt nó lên. Hoàng tò mò hỏi: - Nam hay nữ thủ trưởng? Ông nhìn tôi: Con gái, mới mười bốn tuổi. Ông đưa cho Hoàng một tờ giấy đã ghi sẵn sơ đồ.
 
​            Tôi và Hoàng mò mẫm rồi cùng tim được về Mộ Đức. Mộ Đức dạo này địch đánh phá hết sức ác liệt và dã man. Chúng cày ủi trơ trọi, dân tình chúng giết gần như sạch trơn, chỉ còn vài nóc nhà le te khói lửa ngút trời. Dì Tính – Cháu của ba tôilắc đầu. Con bé nó hổng chịu đi. Tao nói hoài nói mãi nó chẳng ưa. Hoàng bàn với dì Tính xong, lên kế hoạch cho tôi. Hai đứa phục kích ngay con đường đi qua trước của nhà dì. Khoảng mười tám giờ đêm, con bé học bài xong từ nhà hàng xóm đi về. Dưới ánh đèn dù, nó đang lom khom rửa chân nơi hồ nước cạnh chổ tôinằm. Nhanh như cắt Hoàng vọt lên bịt miệng nó. Nó la hét, giãy dụa một lúc rồi lịm luôn. Hoàng xộc cô ta lên vai, phóng như bay lên đường tàu. Một chiếc cáng chờ sẳn, anh em du kích Mộ Đức khiêng cô ta đi. Lúc này tôi mới biết cô ta tên Tâm, có chị ruột là Oanh. Bởi vậy hàng xóm gọi dì Tính là dì Oanh. Ông Tài và bà nội con bé là chị em ruột, Tâm gọi ba tôibằng ông.
 
​            Lên cứ đã được ba hôm mà con bé chẳng ăn uống gì cả. Nó khóc ròng làm ba tôi đến sốt ruột. Nó chẳng nhận ba tôibằng ông. Mọi người dỗ dành nó đều lắc đầu. Lâu lâu nó liếc mắt nhìn ông, rồi cúi gằm mặt xuống. Cũng đúng thôi, bởi khi ông tập kết ra Bắc nó đã sinh đâu.
Mấy tháng sau, nó quen dần với cuộc sống. Ba tôi điều các chị ở Mộ Đức lên ở với Tâm. Xem chừng Tâm chẳng biết buồn, lại còn đanh đá chua ngoa.
Một chiều địch đuổi sát sau lưng, Sư bộ phải hành quân cấp tốc. Bỗng cô ta từ phía sau vượt lên trước mặt tôi, cắt ngang đội hình Trinh sát. Thằng Hùng bạo mồm kêu:
​- Chắn đường thế người ta đi sao được.
Cô ta quay lui lườm Hùng một cái:
​- Con trai răng mà vô duyên.
Hùng tức điên vẫn cố chọc:
​- Đưa ba lô đây anh mang cho!
Cô ta càu nhàu rồi tức tưởi khóc. Cả lũ cắn môi cười. Đào Thắng mỉa:
​- Đã thấy hổ rừng xanh chưa?
Đổi lại bị cô ta ném cho một cái nhìn tưởng vọt tim ra ngoài.
 
Từ đó, bàn chân cha con tôi giẫm đạp lên nhau, rong đuổi trên khắp chiến trường. Lúc vào tận Phú Yên, lúc Quãng Ngãi, lúc ở Bình Định, lúc lên núi, lúc xuống đồng bằng. Cả hai, cùng chia sẽ nỗi buồn vui trong từng chiến dịch.
 
Một đêm tôi thấy ông chẳng ngủ được, cứ đi ra đi vào thấp thỏm. Tôi khẩn khoản: - Ngủ một tý Ba! Ông thở dài: - Một tiểu đoàn của Trung đoàn 2 bị địch vây ở Dương Liễu, mất hẳn liên lạc.
Khi nghe tiếng gà rừng le te gáy, ông cầm máy điện thoại điện cho tham mưu trưởng: - Cử cho một tiểu đoàn đánh từ phía Đông lên ấp, để mở đường máu cho Trung đoàn 2. Không chiếm được Phù Mỹ, sư bộ rút về Hoài Ân. Dọc đường đi cả hai cha con buồn lắm. Tôi vô tình nói: - Cha con mình rút lui không kèn không trống ba hè. Ông an ủi: - Đánh có thắng có thua chứ con.
 
Lại  một lần khác, cơ quan Sư bộ niêm chặt hang Núi Chùa thì bị địch phát hiện, xin đánh bom. Hồi này, tôi đã chuyển sang tổ Trinh sát kỷ thuật thu tin địch. Ba tôi đột ngột điện đến: - Lúc nào chúng thả bom? Bom loại gì? Tôi thưa: - Khoảng 30 phút nữa, loại bom 1000 bảng, do chiếc C130 từ Pleiku được điều về. Ông không quên dặn dò tôi: - Nhớ mang mặt nạ chống độc. Suốt ngày hôm đó, bom phạt trơ trọi hang núi Chùa. Cả hai chacon phải chia nhau từng giọt nước trâu đằm.
 
Chiến dịch Xuân Hè năm 1972, Sư đoàn 3 cùng quân dân Bình Định đồng loạt tiến công địch, giải phóng một vùng đất rộng lớn, cắt đứt đường I từ Bắc Phù Mỹ đến Sa Huỳnh Quảng Ngãi. Cha con tôicó dịp được đi trên đường I thênh thang, được trở về lại mảnh đất chôn rau cắt rốn của ông ở Mộ Đức – Đức Phổ. Gặp lại quê hương gia đình, ông mừng vui khôn xiết.
 
Tháng 4/1975, là thời điểm đáng nhớ của cả dân tộc, của Sư đoàn 3 Sao vàng, của cuộc đời tôi. Tôi bị thương nặng tại Ngã 3 Xuân Lộc và được chuyển ra Quân y viện 15 Nha Trang.
 
Một buổi trưa, tôi thấy các y tá, hộ lý lộc xộc đẩy một bệnh nhân vào phòng cách chổ tôi nằm ba giường. Người đó rên dữ, mặc dầu bó bột, bất động toàn thân, nhưng tôi gắng gỏi cất đầu lên nhìn. “Ủa, ai giống cái Tâm cháu ông Tài vậy?”. Tuy chẳng hợp tính nhau mấy, nhưng tôi thấy được người đơn vị, mừng lắm. Tôi vẫy cô y tá lại: - Nhờ cô xem giùm bệnh nhân vừa vào tên gì, ở đơn vị nào. Cô ta đi một lúc rồi quay lại nói khẽ: - Nguyễn Thị Minh Tâm, Sư Đoàn 3. Tôi đánh liều viết gửi Tâm mấy chữ: “Tâm em! Anh sốt ruột lắm rồi, cứ nằm đếm từng giọt xirum rơi”. Cuối thư tôi viết hai chữ lái tên tôi “Trời Khẩn” để xem Tâm có nhận ra không. Một lúc sau, tôi thấy Tâm cất cao đầu nhìn sang phía tôi và từ đó đến chiều cô ta nằm im re. Tôi vắt tay lên trán: - Có lẽ cô ta đang truyền thuốc mệt, hay còn giận dỗi mình, hay những dòng chữ ngắn ngủi của tôi làm cô sốc. Hôm sau người ta chuyển Tâm đi đâu tôi chẳng biết nữa. Hôm sau tôi đột ngột nhận được thư của cha nuôi tôi do một người ở khung hội nghị quân khu chuyển đến. Bức thư chỉ có mấy dòng:
 
“Con yêu thương của Ba!
Ba chuyển đi đơn vị khác rồi, cầu chúc con an tâm điều trị để sớm trở về quê hương. Nếu được ra ngoài đó, cho Ba gửi lời thăm bố mẹ, cùng bà con nội ngoại của con ngoài ấy! À, cho ba gửi lời thăm cô bé con bà mẹ nuôi của ba con…”.
Cuối thư ông còn dặn thêm: “Cái Tâm vào điều trị tại chổ con đó. Con nhớ động viên nó. Con bé hay khóc nhè…”
 
Cầm lá thư, tôi nghẹn ngào xúc động. Chao ôi! Giờ đây ba tôi đang tất bật, trăm công ngàn việc, vậy mà ông vẫn còn lo lắng cho tôi thấu đáo vậy ư? Cũng qua người đưa thư, tôi biết cụ được điều lên làm Phó tư lệnh Quân đoàn II và Phó tư lệnh Quân khu V.
 
Sân bay Nha Trang một chiều nắng ấm đong đầy nước mắt. Đào Quang Thắng sụt sùi, bỏ vào túi áo tôi bài thơ “Tạm biệt”. Thái Văn Thành xăm xăm đuổi theo cáng thương đeo vào tay tôi chiếc đồng hồ Xenco. Lan và Vân hai đứa em gái kết nghĩa làm việc ở phi trường Nha Trang khóc như mưa và đầy đủ tổ trinh sát kỷ thuật sư đoàn. Tôi lấy bài thơ “Tạm biệt” của Thắng ra đọc. Những lời thơ ấm áp, chân tình làm cho tôi xúc động, nghẹn ngào.
 
Thôi! Chào mảnh đất khu 5 kiên cường, bất khuất. Chào Bình Định anh dũng trung kiên. Chào người cha kính yêu đã đùm bọc, che chở, dạy dỗ tôi nên người. Chào tổ trinh sát kỹ thuật, những ngàysống chết bên nhau và tất cả những đồng đội đang âm thầm nằm lại trênmảnh đất máu lửa này.
 
Mùa hè năm 1976, với đôi nạng gỗ và bộ quân phục lấm lem khói đạn, tôi lê bước về nhà. Gặp lại quê hương, gia đình, tôimừng mừng, tủi tủi. Nhìn cha đẻ tôi, ông chợt vui chợt buồn. Phải chăng tâm trạng ông lúc này giống như hai câu thơ của nhà thơ Đỗ Quý Dũng :
​“Khoảng trời da diết Trường Sơn
Chợt vui khi nắng, chợt buồn khi mưa?”
Ông vui vì đất nước độc lập. Gia đình có một tinh thần yêu nước tuyệt vời, có một truyền thống cách mạng vô bờ bến và đứa con ông trưởng thành lớn lên trong cuộc kháng chiến vĩ đại này. Ông buồn vì có biết bao nhiêu đồng đội, đồng chí của ông, của con ông đang nằm lại trênđường mòn huyền thoại ấy. Tôi và ông ít tâm sự, chỉ dành cho nhau những khoảng lặng. Dường như cả hai cha con đều vắt tay ra đằng sau, thấy rùng mình, nghe lạnh buốt sống lưng… Tôi rưng rưng nhìn đôi chân ông tím bầm, lở loét như thân cây bị chất độc da cam. Đầu ông trọc lóc, lưa thưa vài sợi như cánh rừng Trường Sơn trơ trọi.
 
​            Một hôm ông giục tôi viết thư cho con bà mẹ nuôi ông ở Quảng Minh, Quảng Trạch. Mặc dầu vết thương chưa khỏi, sự nghiệp chưa thành, chiều ông tôi đánh liều và có lẽ định mệnh của lá thư hôm nào cô viết cho tôi ở Chốt Đá Giang để tôi nên vợ nên chồng.
 
​            Tình cờ, biết được cha nuôi tôi đang ở Đà Nẵng. Ông bị thương nặng trong chuyến đi thị sát chiến trường Campuchia cùng các sỹ quan cao cấp của ta. Tôi và bố đẻ tôi vội vàng vào thăm ông. Gặp nhau, cả ba cha con bùi ngùi, mừng vui khôn xiết. Tôi đưa thư đứa cháu của ông vừa mới gửi cho tôi cho ông xem. Ông dừng mắt hồi lâu trên mấy dòng chữ:
​            “… Dạo này em yếu lắm! Vết thương lại tái phát. Có thể một ngày không xa, sẽ gần đất xa trời, nên em gắng lần tìm đồng đội… Anh đừng tiết lộ thư của em cho ai biết, bởi vì, cuộc sống bon chen kinh tế thị trường hôm nay, có được mấy người đồng cảm với người lính…!”
 
​            Ông lặng hồi lâu, rồi thở dài: - Chiến tranh là vậy đó! Di chứng chiến tranh còn nặng nề lắm! Ông nắn nắn lên vết thương của tôi an ủi: Chúng ta may mắn còn sống sót để được gặp nhau…
 
​            Tôi viêt truyện này muộn mằn, khi cả hai người cha thân yêu của tôi đã sớm về an nghỉ cùng đồng đội, còn tôi đứa con yêu của hai cụ, đang bơ vơ giữa dòng đời xuôi ngược. Dẫu sao, truyện này như nắm tâm nhang của đứa con gửi về hai cụ - Hai người cha kính yêu đã dày công cưu mang, đùm bọc, chở che, dạy dỗ tôi nên người…
 
                                                                Trần Văn Khởi
                      57 Quang Trung, thị trấn Kiến Giang, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình
                                                              ĐT : 0815886432
 

 

tin tức liên quan