Phạm Sinh và đôi dòng cảm nhận về bài thơ “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” của Lê Lợi
Phạm Sinh và đôi dòng cảm nhận về bài thơ “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” của Lê Lợi
MÁI NHÀ CHUNG
Ở NGHĨA TRANG LIỆT SỸ ĐƯỜNG 9
Lê Lợi
Các anh từ mọi miền quê,
bao nhiêu đơn vị, giờ về nằm đây,
ngàn năm mây trắng cứ bay,
đất trời Quảng Trị níu tay nghìn trùng,
Bây giờ về mái nhà chung,
không còn cái thuở mịt mùng đạn, bom.
thân trai nợ nước đã tròn,
chỉ thương cha, mẹ mỏi mòn phương xa.
Mấy mươi năm ấy đã qua,
sim, mua tím ngắt chiều tà Trường Sơn.
Khe Sanh, Dốc Miếu, Tà Cơn,
lòng sông Thạch Hãn vẫn còn nỗi đau ....
Bao đàn em, lớp lớp sau,
chắc tay súng, viết tiếp câu quân hành.
khói hương nghi ngút trời xanh,
nguyện cầu, mong đợi các anh trở về.
Nghiã trang đường Chín thành quê,
các anh yên giấc, bốn bề bình yên.
gối đầu lên dãy Trường Sơn,
chân xuôi Cửa Việt, rập rờn sóng xa.
Nước non một dải sơn hà,
nhớ ơn Liệt sĩ, giao hòa hồn thiêng.
vạn năm sông núi vững bền,
máu đào nhỏ xuống thiêng liêng đất này.
Quảng Trị, 17/6/2018
Lê Lợi
Thầy thuốc ưu tú – Bác sỹ chuyên khoa 1 Lê Lợi
Thầy thuốc ưu tú – Bác sỹ chuyên khoa 1 Lê Lợi, nguyên là chiến sỹ của một đơn vị Thông tin thuộc Sư đoàn bộ binh 968 anh hùng, Quân tình nguyện Nam Lào. Tháng 6 năm 2018, lần đầu tiên sau 33 năm rời quân ngũ Lê Lợi mới có dịp trở lại thăm chiến trường xưa, thăm đơn vị cũ nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Sư đoàn. Tham gia đoàn đến viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia đường 9 - nơi yên nghỉ của hơn một vạn các anh hùng, Liệt sỹ đã từng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên mặt trận đường 9 Quảng Trị và nơi đất bạn Lào, cùng với đó còn có sự đan xen và liên quan mật thiết về mặt chiến trường với các cánh quân Trường Sơn trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Và trong hơn một vạn các anh hùng, Liệt sỹ nói trên có hàng ngàn đồng đội Sư đoàn 968 của anh…
Từ cảm xúc trong chuyến đi này và đặc biệt là cảm xúc khi đến viếng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia đường 9. Đứng trước hàng hàng nấm mộ nơi đây, cảm xúc dồn nén và niềm đau đáu của Lê Lợi đã vỡ òa thành những vần thơ mộc mạc mà lay động tâm can: “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” – Bài thơ được Lê Lợi viết trong hoàn cảnh ấy.
Đọc bài thơ “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” đăng trên Trang Điện tử Trường Sơn mới đây trong tôi lóe lên điều gì đó. Tôi muốn viết – viết bằng tiếng lòng mình về bài thơ này, nhưng trước khi viết tôi tự ý thức rằng, trong khuân khổ giới hạn và khả năng của mình – Tôi không được phép đặt mình vào vị trí và vai trò “phê bình Văn học” (bình thơ) mà chỉ nên và chỉ được nghĩ và viết những gì gọi là cảm nhận của mình mà thôi…
“Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” – Một thi phẩm được ví như một nén tâm hương, một khúc ca bi tráng vừa xót xa, vừa tự hào về những người con đã hóa thân vào sông núi. Bằng thể thơ lục bát truyền thống giàu chất trữ tình, không dài lắm, chỉ vỏn vẹn 6 khổ - bài thơ đã tái hiện không gian linh thiêng của nghĩa trang, khắc họa sự hy sinh cao cả của các anh hùng Liệt sĩ và khẳng định đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" muôn đời của dân tộc.
Hai khổ mở đầu bài thơ mang cảm xúc trào dâng tập trung điểm là cái nhìn bao quát về Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9 – "mái nhà chung" thiêng liêng - nơi yên nghỉ của hàng ngàn người lính từ khắp mọi miền đất nước:
"Các anh từ mọi miền quê
bao nhiêu đơn vị, giờ về nằm đây"
Tác giả cho rằng: Sự hội tụ của các anh không còn là sự chia cắt theo từng vùng quê, từng đơn vị, mà giờ đây tất cả đã hòa vào một: "mái nhà chung" của dân tộc. Hình ảnh "ngàn năm mây trắng cứ bay" gợi lên sự vĩnh hằng, vũ trụ bao la đối với hình ảnh "đất trời Quảng Trị níu tay nghìn trùng". Từ "níu tay" đầy sức gợi, thể hiện tình cảm ấm áp, thiêng liêng của mảnh đất Quảng Trị đầy gian lao, lắm thương đau mà rộ nghĩa tình đối với những người con đã hy sinh vì nó.
Chiến tranh đã lùi xa, sự khốc liệt của "mịt mùng đạn, bom" nhường chỗ cho sự bình yên. Dẫu biết rằng các anh "thân trai nợ nước đã tròn", hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc, nhưng câu thơ vẫn đọng lại một niềm riêng – niềm thương xót nghẹn ngào nơi linh hồn các anh:
"chỉ thương cha, mẹ mỏi mòn phương xa."
Nỗi đau ấy không chỉ là sự mất mát của chiến trường, mà còn là nỗi đau đáu của đấng sinh thành - những người mẹ, người cha ở quê nhà suốt mấy mươi năm mòn mỏi chờ mong.
Khổ thơ thứ ba - Dấu ấn chiến trường xưa và những ký ức hiện về đưa người đọc trở lại với không gian chiến trường Quảng Trị đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt:
"Mấy mươi năm ấy đã qua
sim, mua tím ngắt chiều tà Trường Sơn.
Khe Sanh, Dốc Miếu, Tà Cơn
lòng sông Thạch Hãn vẫn còn nỗi đau ...."
Sắc tím của "sim, mua" phủ lên Đại ngàn Trường Sơn trong ánh chiều tà gợi nét buồn man mát, hoài niệm. Những địa danh lịch sử được điểm đến như: Khe Sanh, Dốc Miếu, Tà Cơn, sông Thạch Hãn – mỗi cái tên đều gánh trên mình bao sự kiện, bao máu xương của một thời lửa đạn.
Biện pháp tuốt từ "vẫn còn nỗi đau" kết hợp với dấu chấm động (...) ở cuối câu thơ như một khoảng lặng xót xa. Sông Thạch Hãn – con sông đáy nước nuôi bao hài cốt của những người lính trẻ vẫn cuộn chảy như dòng lệ ngân dài qua thời gian.
Khổ 4 và 5 của bài thơ được mô tả sự tiếp nối vững vàng của thế hệ trẻ hôm nay và tấm lòng tri ân trước sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh:
"Bao đàn em, lớp lớp sau
chắc tay súng, viết tiếp câu quân hành."
Hình ảnh "chắc tay súng, viết tiếp câu quân hành" thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, tự do cho Tổ quốc. Giữa khói hương nghi ngút nơi nghĩa trang, lời nguyện cầu không chỉ là sự tri ân mà còn là nỗi khắc khoải mong đợi những linh hồn Liệt sĩ được đón về với quê hương, gia đình.
Nghĩa trang Đường 9 không còn là nơi xa lạ mà đã trở thành "quê hương thứ hai" của các anh:
"Nghiã trang đường Chín thành quê
các anh yên giấc, bốn bề bình yên."
Và đây - Tác giả đã dùng những hình ảnh mang tầm vóc không gian rộng lớn để miêu tả tư thế nằm xuống của những người lính:
"gối đầu lên dãy Trường Sơn
chân xuôi Cửa Việt, rập rờn sóng xa."
Một tư thế thanh thản, tự hào, hòa mình trọn vẹn vào dáng hình sông núi. Dãy Trường Sơn hùng vĩ làm gối, dòng Cửa Việt rập rờn sóng vỗ dưới chân. Các anh như đang canh giữ đất trời biển đảo quê hương đất nước trong giấc ngủ ngàn thu.
Khổ thơ kết – Khổ thơ thứ 6 khẳng định giá trị sự hy sinh và sự trường tồn của Tổ quốc, hồn thơ vang lên như một lời thề, một sự tôn vinh vĩnh cửu dành cho những người đã ngã xuống:
"Nước non một dải sơn hà
nhớ ơn Liệt sĩ, giao hòa hồn thiêng.
vạn năm sông núi vững bền
máu đào nhỏ xuống thiêng liêng đất này."
Máu đào của các anh thấm vào lòng đất Quảng Trị không, nó không hề mất đi mà đã hóa thành sức mạnh tâm linh, hóa thành hồn thiêng sông núi để bảo vệ cho "vạn năm sông núi vững bền". Sự kết hợp giữa lòng biết ơn chân thành và tinh thần tự hào dân tộc giúp bài thơ khép lại trong không khí trang nghiêm, thiêng liêng và đầy hy vọng.
***
Trong “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” tôi lựa được nhiều câu thơ hay và ấn tượng để tôi “yêu” nó, để tôi thán phục “cây bút” đã họa ra nó… Và cái tôi “yêu” và thán phục nhất ở đây phải kể đến đó là cặp câu:
"gối đầu lên dãy Trường Sơn
chân xuôi Cửa Việt, rập rờn sóng xa."
Với tôi - Cặp câu thơ trên được xem là nhãn tự, là cặp câu thơ hay và mang tầm vóc hoành tráng nhất trong toàn bộ bài thơ. Vượt qua một chút của khuân khổ – Tôi mạn phép tác giả để được lấn ra ngoài làn ranh của cảm nhận – Đi vào phân tích chuyên sâu, bóc tách toàn bộ vẻ đẹp nghệ thuật và tầng sâu ý nghĩa của hai câu thơ này:
Đặt cặp câu thơ vào vị trí văn chương và coi nó như bức bích họa không gian hoành tráng và tầm vóc sử thi: Hai câu thơ mở ra một không gian nghệ thuật có chiều kích vô biên, bao la và hùng vĩ. Ở góc độ chiều cao và chiều sâu – Câu trên gắn liền với dãy Trường Sơn – mạch xương sống, Đại ngàn bờ cõi của Tổ quốc; Ở góc độ chiều rộng và chiều xa – Câu dưới gắn liền với Cửa Việt, Quảng Trị và sóng xa nơi cửa biển mênh mông, nơi kết nối đất liền, thềm lục địa – Lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam với đại dương bao la.
Tác giả không bó hẹp không gian yên nghỉ của các Liệt sĩ trong ranh giới hữu hạn của những nấm mồ hay trong hàng rào nghĩa trang. Bằng một cái nhìn khoáng đạt, tác giả đã mở tung biên độ không gian, đưa các anh hòa nhập tuyệt đối vào dáng hình sông núi. Đầu chạm núi cao, chân hướng biển rộng - đó là không gian của thần thoại, của sử thi, nâng tầm vóc của người lính vĩ đại ngang tầm với vũ trụ và giang sơn.
Ở góc độ nghệ thuật và nhân hóa:
Câu "Gối đầu lên dãy Trường Sơn": Đại ngàn Trường Sơn không còn là những vách đá lạnh lẽo, mà hóa thành chiếc gối êm ái, khổng lồ. Núi rừng chiến trường xưa - nơi các anh từng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, từng nếm mật nằm gai giờ đây Đại ngàn ấy đang dang rộng vòng tay ôm ấp, nâng niu giấc ngủ ngàn thu cho các anh. Gợi lên sự vững chãi, một lòng thủy chung trọn vẹn giữa đất mẹ và người chiến sĩ.
"Chân xuôi Cửa Việt": Cụm từ "chân xuôi" gợi tả một phong thái vô cùng thảnh thơi, ung dung và thanh thản. Các anh nằm xuống sau khi đã "nợ nước đã tròn", trút bỏ mọi gánh nặng đạn bom, buông bỏ súng gươm để tìm về sự bình yên tuyệt đối.
"Rập rờn sóng xa": Nhịp điệu trập trùng của sóng biển Cửa Việt như một khúc nhạc trầm hùng, bất tận của thiên nhiên, ngày đêm ru ca giấc ngủ cho các anh.
Cặp câu thơ trên tác giả đã tài tình sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa kết hợp với nghệ thuật đối xứng (Gối đầu đối với Chân xuôi; Dãy Trường Sơn đối với Cửa Việt…) đã khắc họa một tư thế nằm lại vô cùng đặc biệt của những người con bất tử.
Tầng sâu nghĩa lý của hai câu thơ trên chính là tư tưởng hóa thân. Các anh hùng Liệt sĩ không mất đi, họ không chịu cảnh "nấm mồ xanh cỏ" lạnh lẽo, mà đã tan vào đất đá Trường Sơn, hòa vào dòng nước Cửa Việt để làm nên xương thịt của Tổ quốc. Chính sự hy sinh của các anh đã kết nối núi với biển, nối liền một dải non sông thống nhất. Nhìn vào dãy Trường Sơn hùng vĩ hay nhìn ra biển Cửa Việt sóng vỗ, thế hệ sau đều thấy hiển hiện dáng hình và linh hồn của các anh bởi “Tên anh đã thành tên đất nước…” (Lê Anh Xuân). Cái chết lúc này không còn là sự lụi tàn, mà là một sự sống tiếp vĩnh hằng, giao hòa cùng hồn thiêng của “vạn năm sông núi vững bền” vậy.
“Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” là một bài thơ thành công bởi nó được viết bằng dòng cảm xúc chân thành, rút ra từ tâm can của một người lính – một người trong cuộc. Bằng thể thơ lục bát truyền thống giàu nhạc điệu, ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi, Cựu binh Lê Lợi đã dựng lên một Tượng đài bất tử bằng thơ để tri ân đồng đội. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người lính già, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc đến các thế hệ sau về đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Cảm ơn Lê Lợi – Cảm ơn “Mái nhà chung ở Nghĩa trang Liệt sĩ đường 9” đã cho tôi cảm xúc để viết nên những dòng cảm nhận này…
Phạm Sinh
(Hội viên Trường Sơn Sư đoàn 471)