Đọc " Những tấm bản đồ" của tác giả Nguyễn thị Vân Ngà - Lời bình: Nguyễn Quang Bính
ĐỌC “NHỮNG TẤM BẢN ĐỒ”
của tác giả Nguyễn Thị Vân Ngà
Những tấm bản đồ trong bảo tàng Trường Sơn
Đang kể chuyện về con đường Huyền thoại
Đang kể về một thời
Con trai con gái
Đem máu xương mở lối tới ngày mai.
Cả nước lên đường, sông núi trên vai
Xẻ dọc Trường Sơn một con đường cứu nước
Nhưng bản đồ làm sao ghi hết được
Trường Sơn có bao cuộc chia tay
Ngàn cánh võng hôm nào mắc giữa ngàn mây
Hơi thở thanh xuân đắm say binh trạm
Không có trên bản đồ nơi em tìm măng hái nấm
Nơi bất ngờ em trao một nụ hôn
Những tấm bản đồ trong bảo tàng Trường Sơn
Không ghi hết những nơi người ngã xuống
Nên thao thiết hàng đêm trên làn sóng
Ai biết anh ỏ đâu xin hãy gửi tin về
Vân Ngà 14/ 9
MỘT VÀI SUY NGHĨ
Đọc lướt qua Facebook, tôi bắt gặp hai bài thơ của Nguyễn Thị Vân Ngà, trong đó có bài “Những tấm bản đồ” như đã viết ở trên. Tôi bừng tỉnh.
Bởi trước đó, khi đọc những bài báo, những trang tin và những câu chuyện trên mạng xã hội về hành trình 500 ngày đêm đi tìm hài cốt liệt sĩ, tôi cũng đang đi tìm một ý thơ, một tứ thơ để viết thêm về những ngày này – những ngày đất nước vẫn tiếp tục đi tìm những người con của mình đã hy sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.
Trước đó, tôi đã có bài thơ “Nơi đồng đội tôi còn nằm lại”, sau đó tôi phổ nhạc và thực hiện trên kênh NQB MUSIC.
Nhưng rồi bài thơ “Những tấm bản đồ” của Vân Ngà như đã trả lời, đã nói hộ rất nhiều điều mà tôi đang trăn trở và tìm kiếm.
“Những tấm bản đồ” là bài thơ viết về Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh, về những năm tháng cả nước:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Nhưng điều đáng nói là bài thơ không chỉ kể về những tuyến đường huyền thoại.
Bài thơ kể về những con người.
Kể về một thế hệ.
Kể về máu, xương, tuổi trẻ, tình yêu và những cuộc chia tay không bao giờ có ngày gặp lại.
Mà tôi muốn viết thêm về một bài với chủ đề ấy, chắc không cần thiết nữa. Bởi có bài thơ "Những tấm bản đồ" của Nguyễn Thị Vân Ngà là đủ. Vì bài thơ ấy rất hay, rất sâu sắc viết lên từ những câu thơ giản dị.
Hai câu mở đầu:
“Những tấm bản đồ trong bảo tàng Trường Sơn
Đang kể chuyện về con đường huyền thoại” đã đưa người đọc vào một không gian lịch sử.
Những tấm bản đồ tưởng như vô tri, lặng im trong bảo tàng, nhưng trong cảm nhận của nhà thơ, chúng đang kể chuyện.
Đó không chỉ là câu chuyện về những tuyến đường, những cung đường chiến lược. Đó là câu chuyện về: “Con trai con gái đem máu xương mở lối tới ngày mai”.
Ở đó, tôi nghĩ ngay đến mười cô gái thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc. Mười cô gái – mười tuổi xuân – mười số phận đã hóa thành một biểu tượng lịch sử của dân tộc. Nhưng mười cô gái Đồng Lộc chỉ là một trong biết bao những câu chuyện như thế trên những cung đường Trường Sơn.
Còn biết bao con đường được mở ra bằng máu và tuổi trẻ. Còn biết bao người con trai, con gái đã nằm lại ở những nơi mà sau này, trên bản đồ, chỉ còn là một ký hiệu.
Tôi từng đọc những câu chuyện về những kho quân lương nằm sâu trong rừng. Chiến tranh đã lùi xa. Đất nước đã thống nhất. Nhưng ở những nơi biệt lập ấy, vì không có báo đài, không còn những chuyến xe qua lại, có những người chiến sĩ vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Vẫn coi giữ kho quân lương. Vẫn trung thành với nhiệm vụ được giao. Cho đến khi hy sinh, họ vẫn chưa hề biết rằng chiến tranh đã qua.
Những câu chuyện ấy khiến người ta hiểu rằng những con đường của Trường Sơn không chỉ được mở bằng cuốc xẻng, bằng mồ hôi. Mà còn bằng chính tuổi trẻ. Bằng máu. Bằng xương. Bằng cả một thế hệ.
Bởi thế, bài thơ mang một tầm vóc lịch sử, một âm hưởng sử thi: “Cả nước lên đường, sông núi trên vai/ Xẻ dọc Trường Sơn một con đường cứu nước”.
Nhưng ngay sau đó, giọng thơ bỗng chùng xuống: “Nhưng bản đồ làm sao ghi hết được/ Trường Sơn có bao cuộc chia tay”.
Theo tôi, hai câu thơ ấy chính là điểm ngoặt quan trọng của bài thơ.
Hai câu thơ giản dị mà ám ảnh. Bởi chiến tranh trên bản đồ có thể chỉ là những đường nét, những ký hiệu, những tuyến vận tải. Nhưng trong cuộc đời con người, mỗi tuyến đường lại có thể bắt đầu bằng một cuộc chia tay. Mẹ tiễn con. Vợ tiễn chồng. Người yêu tiễn người yêu. Đồng đội chia tay đồng đội.
Có những cuộc chia tay rồi gặp lại. Nhưng cũng có những cuộc chia tay trở thành vĩnh biệt. Đây chính là chiều sâu nhân bản của bài thơ.
Rồi nhà thơ viết:
“Ngàn cánh võng hôm nào mắc giữa ngàn mây”
và: “Không có trên bản đồ nơi em tìm măng hái nấm
Nơi bất ngờ em trao một nụ hôn”.
Đọc đến đây, tôi lại nhớ đến bài hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” của Phạm Tiến Duật và những giai điệu rất đời về Trường Sơn năm ấy, nơi giữa gian khổ, bom đạn, những người lính vẫn sống, vẫn cười, vẫn hát, vẫn yêu...
Những câu thơ ấy làm nên đời sống thật của Trường Sơn trong những ngày đánh Mỹ.
Có một điều rất đẹp trong cảm hứng thơ của Vân Ngà: Không thần thánh hóa con người đến mức đánh mất con người.
Những người lính, những cô gái thanh niên xung phong của Trường Sơn là những con người anh hùng bằng xương, bằng thịt, có trái tim biết thổn thức, có bản năng yêu đương để sinh con, đẻ cái nối tiếp giống nòi. Bởi họ là những con người.
Những nụ hôn trao nhau một nụ hôn bất ngờ giữa rừng sâu - một thời người ta coi như vụng trộm ấy. Bây giờ, thật đáng phải tìm kiếm, lưu giữ vì chính điều đó làm cho sự hy sinh của họ càng trở nên lớn lao.
“Những tấm bản đồ trong bảo tàng Trường Sơn
Không ghi hết những nơi người ngã xuống”.
Bài thơ trở nên có sức nặng hơn; có khoảng lặng sâu hơn; có nỗi đau đau hơn. Bởi có những người đã ngã xuống mà không còn tên trên một tấm bản đồ.
Không có một tọa độ. Không có một địa chỉ. Không có một dấu mốc chính xác để người thân tìm về. Vì đó là chiến tranh, là sự hy sinh vĩ đại của nhiều thế hệ đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho Tổ Quốc có ngày hôm nay. Bài thơ kết bằng những câu nhắn gửi đầy xúc động.
“Nên tha thiết hàng đêm trên làn sóng
Ai biết anh ở đâu xin hãy gửi tin về”.
Có lẽ, ở bản chép ban đầu, chữ “thao thiết” có thể là một nhầm lẫn khi gõ phím hoặc "thao thiết..." là chủ ý của tác giả muốn diễn đạt 2 hành vi tâm lý là "thao - gắn với: thao thức giữa đêm khuya; thiết - gắn với: tha thiết). Nhưng dù là “thao thiết” hay “tha thiết”, điều quan trọng là tiếng gọi trong câu thơ.
Tiếng gọi ấy làm cho bài thơ vượt ra khỏi không gian bảo tàng. “Làn sóng” gợi cho ta nghĩ đến những làn sóng phát thanh. Những làn sóng thông tin. Những làn sóng của ký ức.
Nhưng hôm nay, tiếng gọi ấy không chỉ vang lên trên sóng phát thanh. Nó còn hiện diện trên những trang báo. Những trang thông tin. Những dòng tìm kiếm đồng đội trên mạng xã hội. Những bài viết được chia sẻ trên Facebook.
Dường như từ những tấm bản đồ im lặng trong bảo tàng, tiếng gọi của Tổ quốc, của những người mẹ, người vợ, người chồng, người con vẫn tiếp tục vang lên mỗi ngày.
Đất nước vẫn đang đi tìm những người con của mình. Điều đó cho thấy, bài thơ “Những tấm bản đồ” không cố làm lớn bằng những câu chữ quá mạnh.
Sức mạnh của bài thơ nằm ở sự đối lập giữa cái lớn lao của lịch sử và cái nhỏ bé, mong manh của đời người, của những nhịp rung lên trong trái tim tôi và các bạn mỗi khi nhớ về người thân của mình còn nằm lại ở Trường Sơn mà 500 ngày Tổ Quốc và nhân dân vẫn chưa tìm được các chị, các anh.
Bản đồ có thể ghi những con đường. Nhưng không ghi hết những cuộc chia tay. Bản đồ có thể ghi được các địa danh. Nhưng không ghi được một nụ hôn giữa rừng. Bản đồ có thể ghi những tuyến đường chiến lược. Nhưng không thể ghi hết những nơi con người đã ngã xuống.
Và có lẽ, đó chính là điều sâu sắc nhất mà bài thơ để lại: Bản đồ ghi được con đường Trường Sơn. Nhưng không bao giờ ghi hết được Trường Sơn trong số phận và trái tim con người.
Cảm ơn nhà thơ Nguyễn Thị Vân Ngà đã cho tôi những dòng trạng thái như vậy.
Hà Nội, 29/8/26
Nguyễn Quang Bính