Nhà thơ: Nguyễn Hữu Dụ

Ngày đăng: 10:45 06/03/2026 Lượt xem: 36
TÓM TẮT LÝ LỊCH VĂN HỌC VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC



Nhà thơ: NGUYỄN HỮU DỤ

 
        Họ và tên: Nguyễn Hữu Dụ
        Ngày tháng năm sinh: 21 tháng 9 năm 1941
        Quê quán: Thôn Phú Kê, xã Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
        Chỗ ở hiện nay: Số nhà 11, ngõ 87 phố Lê Văn Hiến, phường Đông ngạc, Hà Nội
        Trình độ chuyên môn: Kỹ sư nông nghiệp
        Ngày vào đảng: 30 tháng 12 năm 1968
        Quá trình công tác:
        Tốt nghiệp đại học năm 1965 đã từng công tác ở Bộ Nông nghiệp 7 năm. Từ năm 1972 gia nhập quân đội nhân dân tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam ở sư đoàn 473, Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn là lính công binh. Từ năm 1973 đã được điều động tham gia mở đường đông Trường Sơn Từ Khe Sanh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đến huyện A Sậu A Lưới (tỉnh Thừa Thiên), đến bến Giằng Quảng Nam nối với đường 14 qua các tỉnh Tây Nguyên để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa xuân 1975.
       Trung đoàn tôi là Trung đoàn 573, sau khi giải phóng miền Nam vào đóng quân tại sân bay Cù Hanh (tỉnh Gia Lai).
        Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam Đoàn 559 được Đảng và Chính phủ cho chuyển nhiệm vụ sang làm kinh tế xây dựng nông nghiệp ở Tây Nguyên được đổi tên là Tổng cục xây dựng kinh tế bộ Quốc Phòng, tôi và một số anh em là kỹ sư nông nghiệp không được ra quân mà ở lại quân đội tham gia xây dựng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Tôi được chuyển về Cục điều tra khảo sát đất và quy hoạch Đoàn 559 làm tổ trưởng phụ trách về chuyên môn cùng với các chuyên gia, kỹ sư của các bộ Nông nghiệp, Thủy lợi, Bách Khoa gồm Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Chăn nuôi, Viện nghiên cứu Ngô, Viện nghiên cứu Mía đường, Viện Công nghiệp chế biến thực phẩm. Tham gia điều tra đất, nắm tình hình thực địa về rừng, sử dụng đất và đề phương hướng sản xuất
hiệu quả kết hợp với công tác an ninh, bảo vệ biên giới. Cuộc tổng điều tra về tự nhiên, đất nước khí hậu ở ba tỉnh Tây Nguyên  Đoàn 559 chủ đạo, điều động hàng ngàn chiến sĩ và các phương tiện khác để thực hiện và báo cáo kết quả với chính phủ để xây dựng kinh tế lâu dài, đưa nhân dân ở các tỉnh khác đến khai hoang, trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, các loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao để xuất khẩu, định canh, định cư, khắc phục hậu quả sau chiến tranh để bảo vệ các tỉnh Tây Nguyên vững vàng về an ninh, chính quyền, tổ chức đảng vững mạnh.
      Sau này tôi được điều chuyển về Trung đoàn 49 thuộc Sư đoàn 471 với cấp bậc Trung tá cương vị là Trung đoàn trưởng, quản lý với diện tích đất 6.000 ha ở xã Phú Xuân, huyện Krông Năng, Đắc Lắc.
     Trong gần 50 năm qua, cán bộ chiến sĩ trong đoàn 49 cùng nhân dân các tỉnh ở miền Bắc vào tham gia khai hoang mở đất xây dựng trung đoàn sau này là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty Cà phê 49.
      Năm 1983 chuyển ngành về Tổng công ty cà phê Việt Nam. Thời gian này tôi vẫn là Trung đoàn trưởng và là giám đốc nông trường cà phê 49 xây dựng cùng cán bộ chiến sĩ và nhân dân đã vững chân xây dựng mảnh đất hoang hóa thành một thị tứ giầu đẹp, có điện đường trường trạm, trường học (có ba cấp tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học), có nhà máy chế biến cà phê, Có hồ đập, hệ thống thủy lợi, xây dựng nhà cao tầng, có con em đi học nước ngoài. Trung đoàn 49 giúp đỡ các dân tộc địa phương như: Đắp, hồ nước, sân vận động, chiếu phim, đưa bộ đội về các Vùng hẻo lánh, chống bọn Fulrô chống phá, giúp đỡ các cơ sở đảng, chính quyền địa phương về an ninh, bảo vệ giữ gìn cùng nhau xây dựng địa phương.
       Hiện tại đời sống cán bộ, chiến sĩ đã chuyển biến tích cực, ngày càng giầu đẹp; đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. vè mọi mặt. Trung đoàn 49, Sư đoàn 471 trước kia là trung đoàn quân đội đầu tiên trồng cà phê ở Tây Nguyên thành công và thắng lợi, ngày càng phát triển.
       Bản thân yêu thơ và biết làm thơ từ thời tuổi trẻ. Những năm gần đây, tôi ra nhập, gắn bó với Hội VHNT Trường Sơn thông qua việc gửi nhiều tác phẩm đến trang thơ của báo Điện tử Trường Sơn và tác phẩm in trong cuốn Ký ức Sư đoàn 471 tập 1 và tập 2. Bản thân đã có in riêng hai tập thơ: “Hương đất tình người”, “Tình khúc cuộc đời” và nhiều bài thơ nữa. Ngoài ra tôi có viết các hồi ký, tiểu luận như “Có một thời đáng nhớ”, “Nhớ mùa xuân giải phóng”, “Nhớ những ngày trong đội hình Sư đoàn 471 ở Tây Nguyên”, “Trung đoàn 49 bốn mươi năm xây dựng và trưởng thành” và “Ký ức tuổi thơ”, một số bài thơ và tiểu luận, hồi ký của bản thân có in trên các báo của trung ương, địa phương, các tập San, tạp chí chuyên ngành. Tôi là Hội viên hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn.
      Do được đi qua nhiều vùng, nhiều miên quê của đất nước đã cho bản thân nhiều trải nghiệm, thử thách gian khổ cũng như những cảm xúc với thiên nhiên, con người gia đình, bạn bè và đồng đội đã được bản thân ghi lại dưới hai thể loại thơ và văn chương.
 
     Các bài thơ tôi sáng tác có 5 phần:
 
- Cùng đất nước hành quân
- Người đi tìm đất và cây
- Những nẻo đường đất nước
- Gia đình và bè bạn đồng đội
- Những vần thơ ở nước ngoài
       Qua quá trình công tác và một số sáng tác như về văn học, Trung đoàn 49, Sư đoàn 471 nơi tôi công tác đã đánh giá về bản thân như sau
   “Những kết quả trong việc khai mở đất, đặt nền móng cho sự phát triển cà phê của Công ty Cà phê 49 luôn gắn liền tên tuổi và công lao của các thủ trưởng đơn vị, cùng với sự góp mặt, góp công của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ. Họ đã gửi một phần tuổi xuân cho những mảnh đất này, chúng ta mãi nhớ ơn những người khai hoang mở đất. Trong giai đoạn khó khăn này, lịch sử ghi nhận vai trò của đồng chí Nguyễn Hữu Dụ có mặt từ những ngày đầu đơn vị vào Tây Nguyên”.
 
                                                                                                               Hà Nội, ngày 05 tháng 03 năm 2026
 
                                                                                                                              Nguyễn Hữu Dụ
      Kính mời độc giả đọc Bài thơ tiêu biểu của tác giả:

VẪN CÓ NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ, ĐỂ THƯƠNG
 
Vẫn có những gì để nhớ, để thương
Về mảnh đất, những con người thuở ấy
Cüng dòng đời theo tháng năm cuộn chẩy
Trong lòng mình và trong đất sinh sôi

Nhớ vùng Cao Nguyên gần mà xa xôi
Đã có một thời rừng hoang, sương trắng

Không tính được bao lần hết mưa rồi lại nắng
Đan chéo vào nhau buộc chặt lấy cuộc đời

Nhớ mùa mưa nước trút tựa không thôi
Không nấu nổi bữa cơm ăn dã chiến
Cánh võng bồng bềnh chao nghiêng trên bãi bến
Nằm nghe nước nguồn về lặng đọng nặng phù sa

Nhớ mùa hoa pơlang cháy đỏ trời tháng ba 
Mặt trời đỏ nhuộm màu đất bazan cũng đỏ
Bên ngọn lửa rừng khuya bập bùng mờ tỏ
Hơi ấm chia chung cho cả mọi người

Nhớ mùa khai hoang tiếng máy ướt sũng giọt sương 
Tấm áo không kip thay cứng cong bụi bám
Đôi bàn tay đâu chỉ quen cầm súng đạn
Cũng biết trồng hoa vun vén hiến cho đời

Tay bồng con, tay ươm trồng giống mới em ơi!
Giọt mồ hôi rơi lấp lánh màu xanh lá trải
Hoa cà phê nở cho tình lứa đôi kết trái
Tiếng cồng vui trong tình khúc Đam San 

Con sóng nước hòa cùng con sóng thời gian
Từng đợt, từng đợt vỗ vào cuộc sống
Những con gió mênh mông chở biết bao khát vọng
Hương đất, tình đời giữa lòng ta sâu nặng

Nhớ những cơn sốt rét, miếng cơm ăn lạnh đắng
Và chóe rượu cần trong mái ấm nhà rông
Nhớ em, cô gái buộc cổ tay ai sợi chỉ hồng
Đem nỗi nhớ buộc vào mảnh trăng treo đầu núi

Nhớ cả những cây đời lên xanh từ cát bụi
Những con đường soi bóng xuống dòng mương
Một chút đời thường cũng để nhớ, để thương
Những gì đã qua đi hiến cho đời lặng lẽ

Cây nói thành lời, nhớ gió reo, em ơi! Cây sẽ
Vì đất đã có tên khi in dấu chân người
Xóa vết thương đau sáng lại nụ cười
Ở mãi trong ta cây với đất cùng người.


                        Nguyễn Hữu Dụ
       Hội viên Hội VHNT Trường Sơn

 

tin tức liên quan