NGƯỜI CHIẾN SĨ VỚI TÂM HỒN THƠ
Bắt tay đồng đội Trần An Ninh (cùng công tác tại Tồng Cục Chính Trị), ra về. Câu thơ của anh đọng mãi trong tôi:
Lệnh trên chợt đến bất ngờ
Người xe pháo đã đến giờ hành quân
Xe lăn bánh, dạ tần ngần
Hẹn ngày chiến thắng, về thăm quê mình
Thơ anh thể hiện tình cảm quân dân thắm thiết, lạc quan yêu đời, tinh thần chiến đấu dũng cảm
Trần An Ninh sinh ngày 3/3/1947 tại xã Nhân Thắng, Lý Nhân, Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) Bố là công nhân, mẹ là nông dân. Học xong lớp 10/10 (năm 1965), nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh gia nhập quân đội, đơn vị C 3, E 218, F 367(cao pháo 100 mm). Trần An Ninh làm nhiệm vụ thông tin tiêu đồ, dẫn đường cho pháo bắn máy bay địch, bảo vệ sân bay Đa Phúc.
Giặc bắn phá Hà Nội đơn vị anh vất vả chiến đấu, di chuyển quân nhiều lần, khi ở sân bay Đa Phúc, khi ở Đông Anh (gần cầu Phù Lỗ), khi cơ động sang Dược Hạ (Vĩnh Phúc). Mỗi khi nghỉ ngơi nơi đóng quân, anh lại sáng tác thơ. Anh cho tôi xem (bài thơ anh sáng tác tại Dược Hạ (Vĩnh Phúc):
Đồi cao, bạt chắn ta nằm
Suối trong mát dạ, trăng rằm reo vui
Ấm lòng, chung củ sắn lùi
Đọc thư, cùng nở nụ cười say sưa
Ở đây mấy hôm, chờ địch để đánh, không thấy chúng đến, đơn vị lại tiếp tục cơ động đến Phú Thọ (Quân khu 2 bây giờ). Khi dừng chân, những vần thơ lại tuôn trào, nhớ da diết nơi từng đóng quân, nhớ thiên nhiên núi rừng, nhớ cảnh lao động vất vả nơi sông nước mà vẫn sôi nổi vui tươi:
Xa quê bao nỗi ước ao
Nhớ rừng Ngọc Nhị, nhớ sao Ba Vì
Nhớ đồi cọ, nhớ nương chè
Sông Thao nao nức thuyền bè về xuôi
Sau đó lại cơ động về Ba Vì, cảnh đẹp Ba Vì lại hiện lên trong trái tim anh:
Ba Vì chót vót non cao
Mây ôm ấp núi, nắng xao xuyến lòng
Rừng xanh bát ngát mênh mông
Đồi san sát ngọn, trắng bông lau rừng
Càng yêu quý non sông gấm vóc, càng hăng say tiêu diệt giặc, bảo vệ xóm làng. Anh cho tôi xem những câu thơ khí phách hào hùng:
Ầm ầm đạn nổ xé mây
Khét mù khói súng, mắt say diệt thù
Áo xanh ám khói mịt mù
Hiên ngang ta đạp đầu thù… xông lên
Đơn vị anh lại hành quân qua trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đến Hải Dương, tức cảnh sinh tình:
Bách khoa ánh điện lung linh
Đêm khuya, ai đó nghiêng mình vời ta
Heo may lạnh lẽo sương sa
Thương mình mấy nỗi, thương nhà bấy nhiêu”
Thương đất nước, thương nhà – nơi chôn rau cắt rốn, thương tình cảm lứa đôi thời trận mạc, nhưng mối tình vẫn ngọt lịm như nhãn lồng Hưng Yên:
Tình yêu ngọt lịm nhãn lồng
Bóng cô du kích hiện trong đêm dầy
Qua lửa đạn, lửa tình say
Trăng hôn ngọn pháo, tâm đầy bâng khuâng
Đất nước bị quân giắc tàn phá, nông dân vẫn vững tay cầy, tay súng, đồng vẫn xanh tươi, lúa vẫn trĩu bông, niềm vui đã tràn ngập lòng anh:
Trùng trùng quân đến Hải Dương
Đây Bắc Hưng Hải quê hương Hữu Cầu
Lúa xanh xanh ngắt một mầu
Phú Lương Nam Sách nhịp cầu thân thương
Quê hương ta đẹp lắm, kiên trung chống giặc,. có sông Văn Úc dẫn phù sa tưới cánh đồng mầu mỡ, có người mẹ hiển thức trắng đêm thâu vá áo cho chiến sĩ:
Vẫy chào quê mẹ trung trinh
Chào sông Văn Úc xanh tình nước non
Giặc pha nhà cháy… căm hờn
Áo sờn lính chiến ngấm dồn… nỗi đau
Ngọn đèn thức suốt đêm thâu
Mẹ già gửi gắm chỉ khâu nghĩa tình
Năm 1978, anh chuyển sang Tổng Cục Chính trị, làm công tác trợ lý Văn phòng Tổng cục Chính trị. Năm 1993, anh về hưu, làm Phó Ban Liên lạc Hội Truyền thống Cơ quan Tổng Cục Chính Trị tại Nam Định. Tuy tuổi đã cao, anh vẫn gánh vác nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ thơ Âm vang sông Hồng và là Ủy viên Ban chấp hành Câu lạc bộ Thơ họ Trần, Việt Nam. Trong lĩnh vực chiến đấu, và văn học, anh “vẫn nguyên… chất lính cụ Hồ”.
Người kể chuyện Trần An Ninh
Người ghi Vương Văn Kiểm
Hội viên Hội VHNT Trường Sơn